Trang Chủ BIỆN GIÁO Hiểu Biết Thần Học Cơ Đốc – Phần1-3

Hiểu Biết Thần Học Cơ Đốc – Phần1-3

2320
0
SHARE

 

 

HIỂU BIẾT THẦN HỌC CƠ ĐỐC

PHẦN I: KINH THÁNH

 

Giới thiệu

  1. Tại Sao Kinh Thánh Được Gọi Là Sách Sự Sống?
  2. Khải thị thần thượng là gì?
  3. Khải thị phổ quát là gì?
  4. Khải thị đặc biệt là gì?
  5. Giáo huấn của Kinh Thánh là duy nhất?
  6. Còn Cách Nào Khác để chứng minh Kinh Thánh là duy nhất?
  7. Kinh Thánh là Lời soi dẫn của Đức Chúa Trời?
  8. Quan điểm của Đấng Christ về Kinh Thánh?
  9. Kinh Thánh Là Quyển sách của Con Người?
  10. Kinh Thánh Đáng Tin Cậy?
  11. Kinh Thánh Tự Mâu Thuẫn?
  12. Hội Thánh Tin Điều Gì Về Kinh Thánh?
  13. Những Sách Nào Thuộc Về Kinh Thánh?
  14. Ngày Nay Kinh Thánh Có Quan Trọng Không?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Giới thiệu

KINH THÁNH là quyển sách quan trọng nhất trên thế giới. Đây chính là niềm tin quyết của người Cơ Đốc cũng như của các lãnh đạo chính trị chín chắn, các hoàng tộc và những người tri thức nổi tiếng. Vua George V nước Anh đã tuyên bố: “Kinh Thánh… về phương diện thế tục, là báu vật hàng đầu của quốc gia, còn trên phương diện tâm linh, đây chính là sách giá trị nhất mà thế giới có thể mua được bằng tiền.”[1] Tại lễ đăng quang của nữ hoàng Elizabeth II, trong khi bà cầm quyển Kinh Thánh để thể hiện đức tin và lòng trung thành, tổng giám mục Canterbury đã tuyên bố: “Đây là sự khôn ngoan, đây là Luật Hoàng Gia, đây là Lời Hằng Sống của Đức Chúa Trời.”[2]

Patrick Henry, nhà ái quốc Hoa Kỳ nổi tiếng với câu nói bất hủ: “Hãy cho tôi tự do, hoặc cho tôi cái chết,” ông đã nói về Kinh Thánh rằng: “Quyển sách này đáng giá hơn mọi quyển sách khác từng được in ra.”[3] Bằng những lời tương tự, tiểu thuyết gia người Nga Fyodor Dostoevsky sau khi giới thiệu về việc đọc trọn bộ Kinh Thánh bản dịch tiếng Nga đã tuyên bố: “Trước hết, người ta biết chắc rằng nhân loại không có được và cũng không thể có được một quyển sách nào khác vĩ đại như Kinh Thánh.”[4]

Trong thời gian gần đây, Billy Graham đã nói về Kinh Thánh rằng: “Không một quyển sách nào khác có thể chạm đến sự khôn ngoan uyên bác, vẻ đẹp đầy thi vị, hoặc tính chính xác của lịch sử và lời tiên tri trong Kinh Thánh… Kinh Thánh tiêu biểu cho mọi kiến thức mà con người cần để lấp đầy khao khát trong tâm hồn và giải quyết mọi vấn đề… Tôi muốn được thấm đẫm trong Kinh Thánh. Tôi muốn thuộc lòng Kinh Thánh trước khi tôi chết.”[5] Chắc chắn cụm từ thường được nhắc đi nhắc lại trong các bài giảng của ông đó là: “Kinh Thánh dạy rằng…”

Đối với Cơ Đốc Nhân Lời Chúa là vô giá, được minh chứng qua việc những người tin Chúa sẵn lòng hy sinh mạng sống của họ để có được Lời Chúa. Trong thời kỳ hội thánh bị bắt bớ dữ dội năm 303 sau CN, hoàng đế La-mã Diocletian kiên quyết tiêu hủy Kinh Thánh. Tất cả mọi bản sao Kinh Thánh khi phát hiện đều bị đốt cháy. Hàng nghìn Cơ Đốc nhân và gia đình của họ đã tử đạo vì sở hữu những phần của Lời Chúa. Cuộc bách hại và tiêu hủy Kinh Thánh tiếp tục diễn ra trong hai năm, sau đó một chiếc cột chiến thắng được dựng lên trên đống tro tàn của một quyển Kinh Thánh, trên cây cột viết những lời cáo thị rằng Kinh Thánh đã “biến mất.” Nhưng chỉ hai mươi năm sau, hoàng đế Constantine tuyên bố rằng Kinh Thánh chính là thẩm phán không thể sai lầm của lẽ thật. Kẻ thù của Đức Chúa Trời đã nhiều lần cố gắng tiêu hủy Kinh Thánh bằng nhiều cách khác nhau. Nhưng Đức Chúa Trời đã bảo tồn Kinh Thánh – đôi khi bằng một cái giá quá lớn mà dân sự của Ngài phải trả, một cái giá mà đối với họ chẳng đáng chi khi so sánh với báu vật Lời Chúa.

Địa vị cao quý mà người tin Chúa dành cho Kinh Thánh đã khiến cho họ có biệt danh “Dân có Kinh Thánh.” Có lẽ Muhammad là người đầu tiên đặt ra biệt danh này chủ yếu dành cho người Do Thái nhưng cũng dành cho Cơ Đốc nhân bởi vì cả hai đối tượng này đều rất coi trọng sự mặc khải được ghi chép trong Kinh Thánh. Người Hồi Giáo cũng được xếp vào biệt danh này bởi vị trí đặc biệt mà cả ba tôn giáo dành cho các bản Kinh Thánh của họ so với các tác phẩm văn chương khác trong mỗi tôn giáo.

Đối với người Do Thái, Kinh Thánh của họ chính là sự mặc khải trọn vẹn của Đức Chúa Trời cho dân tộc của Ngài. Nhưng đối với Cơ Đốc Nhân, vị trí đó thuộc về Đấng Christ, Ngài là Đức Chúa Trời, Đấng đã đến thế gian để bày tỏ chính Ngài cho nhân loại (Hêb. 1:2). Thật vậy, Đấng Christ chính là Đức Chúa Trời hằng sống và là Đấng có  thẩm quyền tối hậu trên hội thánh. Tuy nhiên điều này không làm giảm đi thẩm quyền của Kinh Thánh. Bởi vì ngoài Kinh Thánh có phương cách nào giúp chúng ta nhận biết Đấng Christ? Và bằng cách nào Đấng Christ thực thi thẩm quyền nếu không có Lời Chúa, đặc biệt khi Ngài còn tại thế? Về sau, chúng ta sẽ thấy sự kết nối bên trong giữa Lời Chúa được bày tỏ qua thân vị của Đức Chúa Giê-su và Lời Chúa được bày tỏ qua Kinh Thánh.

Kinh Thánh là điều thiết yếu của Cơ Đốc giáo bởi vì Kinh Thánh ghi lại sự kiện Đức Chúa Trời can thiệp vào dòng lịch sử nhằm cứu rỗi nhân loại. Song không chỉ là một câu chuyện lịch sử về sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, chính Kinh Thánh cũng là một phần trong công tác cứu rỗi đó. Lời Chúa cho chúng ta biết ý nghĩa chức vụ của Đức Chúa Giê-su và bày tỏ phương cách để chúng ta tiếp nhận sự cứu rỗi của Ngài.

Cơ Đốc giáo hoàn toàn cần có Kinh Thánh được minh họa qua việc so sánh Kinh Thánh với các sách của Đạo Hindu. Nếu mọi sách của Đạo Hindu bị tiêu hủy và trên đất không còn ai theo Đạo Hindu, nghĩa là Đạo Hindu hoàn toàn biến mất khỏi nhận thức con người, thì người ta vẫn tin rằng Đạo Hindu hoàn toàn có thể trỗi dậy lần nữa bởi vì cơ bản đó là một lối sống. Người ta cũng suy xét như vậy đối với những tôn giáo khác. Tuy nhiên, nếu mọi bản sao Kinh Thánh đều bị xóa sạch và mọi Cơ Đốc Nhân nếu không còn trên mặt đất, kể cả những gì được lịch sử nhắc đến cũng không còn, khi ấy Đạo Cơ Đốc không thể trỗi dậy lần nữa. Tại sao? Bởi vì Cơ Đốc Giáo hơn cả một lối sống. Đó là một tôn giáo có trong lịch sử được thành lập dựa trên công tác của Đức Chúa Trời trong lịch sử nhân loại, và Kinh Thánh ghi lại lịch sử cứu chuộc đó.

Kinh Thánh khác với mọi quyển sách khác bởi vì đó là Lời của Đức Chúa Trời. Các quyển sách khác dù uyên thâm như thế nào cũng đều là lời của con người. Số người tin Kinh Thánh có thẩm quyền không mắc sai lầm đang ngày một gia tăng trên thế giới giữa lúc các hội thánh tự do ngày một giảm và  Cơ Đốc giáo ngày một tăng trưởng mạnh mẽ ở nhiều nơi trên thế giới.

Tuy nhiên vị trí cao quý của Kinh Thánh đối lập đầy quan ngại với vai trò thực tiễn trong đời sống con người. Đặc biệt tại thế giới Tây Phương khi chủ nghĩa đa nguyên tôn giáo ngày một gia tăng kéo theo việc người ta chấp nhận mọi quan niệm, cùng với những lời phê bình tiêu cực của chủ nghĩa duy lý đối với Kinh Thánh, tất cả đang làm xói mòn lòng tin vào thẩm quyền tối thượng của Kinh Thánh, thậm chí tại nhiều hội thánh tốt. Nhiều quan điểm diễn giải Kinh Thánh khác nhau cũng khiến người ta băn khoăn điều Kinh Thánh thực sự dạy dỗ là gì. Tất cả các yếu tố trên gộp lại làm suy yếu Kinh Thánh là trụ cột của đức tin và là nguồn gây dựng đời sống tín hữu.

Quan trọng hơn hết, nhiều người tin Chúa gặp vấn đề vì thiếu niềm tin vào sự linh nghiệm của Kinh Thánh. Chúng ta tôn kính Kinh Thánh là Lời thánh của Đức Chúa Trời, nhưng chúng ta không đọc Kinh Thánh. Khi gặp bối rối trước những vấn đề trong cuộc sống, chúng ta thường tìm kiếm sự giúp đỡ và an ủi từ những điều khác ngoài Kinh Thánh. Có rất nhiều lý do khiến chúng ta mất lòng tin nơi Kinh Thánh. Đầu tiên, chúng ta đang sống trong một xã hội chống đối sự độc đoán. Người ta không muốn bất kỳ ai dạy họ việc phải làm, dù đó là con người hay Thượng đế. Hệ quả là nhiều Cơ Đốc Nhân không làm theo Lời Chúa, không tiếp nhận Lời Chúa vào lòng với thái độ tin cậy vâng lời để được biến đổi đời sống. Chính vì vậy, nhiều người kết luận rằng Kinh Thánh không thật sự linh nghiệm.

Dĩ nhiên, Kinh Thánh đóng vai trò trung tâm trong mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và con người. Duy nhờ Kinh Thánh mà chúng ta có thể nhận biết Chúa, và theo lời Đức Chúa Giê-su phán, đây chính là sự sống đời đời (Giăng 17:3). Kinh Thánh duy trì và nuôi dưỡng đời sống Cơ Đốc để chúng ta được lớn lên trong kinh nghiệm bước đi với Chúa. Vậy nhận định Kinh Thánh là “Quyển sách” lịch sử nhân loại là phù hợp với thực tiễn, và người nào không đặt Kinh Thánh ở đúng vị trí trong cuộc sống sẽ phải chịu tổn thất.

Tuy nhiên quyển sách mà chúng ta gọi là Kinh Thánh là gì? Làm sao con người có Kinh Thánh? Điều gì khiến Kinh Thánh có thẩm quyền? Có phải Kinh Thánh thật sự không sai lầm? Tại sao Kinh Thánh bao gồm sáu mươi sáu sách còn những sách khác thì bị loại? Lời dạy của Kinh Thánh liên hệ thế nào với hội thánh và con người? Làm thế nào chúng ta hiểu được lời dạy trong Kinh Thánh? Chúng ta cần làm gì để kinh nghiệm quyền năng biến đổi của Kinh Thánh? Những câu hỏi trên cùng với những câu hỏi khác chính là chủ đề của bài nghiên cứu này, với mục đích đó là Kinh Thánh sẽ hoàn thành công việc như đã hứa trong đời sống chúng ta.

 

PHẦN I: KINH THÁNH

1

Tại sao Kinh Thánh được gọi là Quyển Sách Sự sống?

 

So với mọi quyển sách khác trên thế giới, Kinh Thánh là ĐỘC NHẤT bởi vì những lời trong đó được nạp bằng sự sống và năng quyền của Đức Chúa Trời. Không phải người ta gắn Đức Chúa Trời vào giấy mực hay là cuộn giấy trong thời cổ đại. Nhưng sự hiện diện của Chúa được truyền đạt qua lẽ thật Lời Ngài. Năng quyền độc nhất của Lời Chúa được Cơ Đốc Nhân lẫn những người không tin Chúa kinh nghiệm như nhau. J. B. Phillips, người đầu tiên viết diễn giải Tân Ước, đã làm chứng về kinh nghiệm của chính ông trong việc cẩn thận nghiên cứu Kinh Thánh. Trong lời mở đầu của tác phẩm ông đã viết: “Người biên dịch… luôn bị choáng ngợp bởi phẩm chất hằng sống của tài liệu mà ông đang biên dịch. Chắc chắn một số người chỉ xem Kinh Thánh như là sự tôn sùng đầy mê tín đối với ‘Đức Thánh Linh,’ song hết lần này đến lần khác, tác giả cảm thấy mình như một người thợ điện đang mắc lại hệ thống điện của một căn nhà cổ xưa nhưng không thể ‘tắt lưới điện chính.’”[6]

Tương tự, nhà bác học người Pháp Jean-Jacques Rousseau (1712-1778) với những triết lý mở đường cho chủ nghĩa giải phóng nhân loại, ông cũng đã cảm thấy choáng ngợp trước động lực độc nhất của Kinh Thánh. Ông viết: “Tôi thừa nhận rằng sự uy nghiêm của Kinh Thánh đã khiến tôi kinh ngạc; sự thánh khiết của các trước giả  Phúc Âm đã phán với lòng tôi và họ có những phẩm chất của lẽ thật đầy cuốn hút, và hơn thế nữa, thật không thể bắt chước được, rằng nếu Kinh Thánh là do con người sáng tác, thì các trước giả đó chắc hẳn phải vĩ đại hơn các anh hùng vĩ đại nhất.”[7] Ngày nay chúng ta không thể nghe được những lời như thế từ những triết gia hàng đầu, tuy nhiên chắc chắn việc này không phải do Kinh Thánh không còn tác động đến tấm lòng con người nhưng do người ta không còn đọc Kinh Thánh nhiều như trước nữa.

 

QUYỀN NĂNG CỦA LỜI CHÚA

Chúng ta đều nghe câu nói: “Gậy và đá có thể đập vỡ xương tôi, nhưng lời nói không thể làm tôi tổn thương.” Tuy nhiên kinh nghiệm cho thấy nhận định này không hoàn toàn chính xác. Lời nói gây tổn thương, nhưng chúng cũng có thể chữa lành. Thậm chí Kinh Thánh đã viết về lời nói của con người rằng: “Sống chết ở nơi quyền của lưỡi” (Châm 18:21). “Lưỡi hiền lành giống như một cây sự sống; Song lưỡi gian tà làm cho hư nát tâm thần” (15:4). Lời nói con người có sức mạnh như chiếc bánh lái điều khiển được con tàu hoặc như một đám lửa nhỏ có thể làm cháy cả khu rừng (Gia 3:4-6; cũng xem Châm 25:15).

Nếu lời nói con người có sức mạnh như thế thì Lời Chúa lại càng có năng quyền gấp ngàn lần hơn! Dĩ nhiên, lời nói của con người có giới hạn do bản chất tạo vật của con người là hữu hạn. Tuy nhiên Đức Chúa Trời là vô hạn nên lời phán của Ngài có năng quyền vô song. Đức Chúa Giê-su phán cùng các môn đồ rằng: “Những lời ta phán cùng các ngươi đều là thần linh và sự sống” (Giăng 6:63), nghĩa là Lời Chúa phán có năng quyền của Đức Thánh Linh và sự sống. Vào lúc phán ra điều này, nhiều người khi trước theo Chúa đã từ bỏ không còn theo Ngài nữa. Nhưng các môn đồ vì đã tiếp nhận Lời Chúa nên được kinh nghiệm năng quyền của Lời Ngài. Khi Chúa hỏi rằng liệu các môn đồ cũng sẽ thoái lui, Phi-e-rơ quả quyết thay mặt cho mười hai môn đồ mà đáp lại rằng: “Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai? Chúa có những lời của sự sống đời đời” (6:68).

Trước giả sách Hê-bơ-rơ công bố: “Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng” (Hê 4:12). Điều thú vị đó là tác giả sách Hê-bơ-rơ cũng đã dùng từ “sống” để mô tả về chính Đức Chúa Trời (3:12; 9:14; 10:31; 12:22). Đức Chúa Trời hằng sống ban Lời có sự sống của Ngài. Và bởi vì Lời Chúa là lời “sống” nên lời Chúa cũng là lời “linh nghiệm.”

Trong một bản cáo trạng dài lên án các tiên tri giả đã nói những lời “không ích lợi gì” cho dân Ngài, Đức Chúa Trời công bố năng quyền trong lời chân thật của Ngài: “Lời ta há chẳng như lửa, như búa đập vỡ đá sao?” (Giê 23:29, 32). Đức Chúa Trời phán cùng tiên tri Giê-rê-mi rằng: “Nầy, ta sẽ khiến lời ta nên như lửa trong miệng ngươi, dân nầy sẽ như củi, và lửa ấy sẽ nuốt nó” (5:14). Có lúc vị tiên tri này trải nghiệm Lời mà Chúa đã truyền cho ông, ông cảm nhận lời Chúa như “lửa đốt cháy” trong lòng,  trong xương (20:9), và ông “mệt mỏi vì nín lặng, không chịu được nữa.”

Xuyên suốt Kinh Thánh, Đức Chúa Trời thực hiện ý muốn của Ngài bằng lời năng quyền. Tất cả sự bao la của vũ trụ được tạo nên nhờ lời phán của Chúa. Tám lần trong Sáng thế ký 1 viết rằng: “Đức Chúa Trời phán…” Trước giả sách Hê-bơ-rơ viết rằng: “Thế gian đã làm nên bởi lời của Đức Chúa Trời” (Hê 11:3). Trước giả Thi thiên khẳng định: “Các từng trời được làm nên bởi lời Đức Giê-hô-va” (Thi 33:6). “Lời có quyền phép Ngài” tiếp tục nâng đỡ muôn vật để chúng được tồn tại (Hêb. 1:3).

Lời Chúa giống như những người đưa tin đầy năng quyền chạy đi khắp trái đất để hoàn thành ý muốn Chúa. “Ngài ra lịnh mình trên đất, Lời của Ngài chạy rất mau” (Thi. 147:15). Sứ đồ Phao-lô đã cầu nguyện rằng: “Vả lại, hỡi anh em, hãy cầu nguyện cho chúng tôi, hầu cho đạo Chúa được đồn ra và được sáng danh, như thể ở trong anh em vậy” (2 Tê. 3:1). Trong thời cổ đại, khi dân sự của Đức Chúa Trời kêu cầu Chúa giữa lúc gian truân (là hậu quả của những tội lỗi mà họ đã phạm), trước giả Thi Thiên đã nói rằng: “Ngài ra lệnh chữa họ lành, rút họ khỏi cái huyệt” (Thi 107: 19-20). Và khi Lời Chúa “chạy” thì chạy cách đầy năng quyền và hiệu quả. “Lời nói của ta… đã ra từ miệng ta, thì chẳng trở về luống nhưng, mà chắc sẽ làm trọn điều ta muốn, thuận lợi công việc ta đã sai khiến nó” (Ê-sai 55:11).

Hội thánh đầu tiên gặp nhiều bắt bớ. Bắt đầu từ một nhóm nhỏ những con người tầm thường mà chẳng có ai là “vĩ nhân” theo chuẩn mực con người, mặc dầu vậy họ đã chiến thắng mọi thù địch. Việc hội thánh giảng đạo phúc âm là “lời” của Chúa đã ảnh hưởng đến cả thế giới thời bấy giờ. “Đạo Đức Chúa Trời càng ngày càng tràn ra” (Công 6:7); “đạo Đức Chúa Trời tấn tới rất nhiều, càng ngày càng tràn thêm ra” (Công 12:24); “Ấy vậy, nhờ quyền phép của Chúa, đạo bèn đồn ra, càng ngày càng được thắng” (Công 19:20). Sứ đồ Phao-lô bị giam vào ngục vì đã làm chứng cho Đấng Christ, là điều mà rất nhiều tín hữu đã phải chịu xuyên suốt lịch sử hội thánh, nhưng Phao-lô viết rằng: “đạo của Đức Chúa Trời không hề bị trói đâu” (2 Ti. 2:9). Tù đày có thể tạm dừng chuyển động của người đưa tin, nhưng nó không thể ngăn cản quyền năng của sứ điệp của Chúa. Thực tế như trong trường hợp của Phao-lô, tù đày lại “giúp thêm sự tấn tới cho đạo Tin lành” (Phi-líp 1:12).

Đức Chúa Giê-su Christ chính là Lời của Đức Chúa Trời, đích thân Ngài đã đến với con người. “Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời… Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta” (Giăng 1:1, 14). Ngôi Lời nhập thể, Con Đức Chúa Trời có sự hiện diện đầy năng quyền của Đức Chúa Trời, chính vì vậy những lời Đức Chúa Giê-su phán dầy dẫy năng quyền của Đức Chúa Trời. Đến lúc tận cùng của trái đất, trời sẽ mở ra và Đấng đắc thắng, tức là Vua muôn vua và Chúa các chúa, danh Ngài là “Lời của Đức Chúa Trời,” sẽ đến cưỡi trên một con ngựa trắng để hủy phá mọi nước bởi lưỡi gươm bén ra từ miệng Ngài (Khải 19:11-16). Cảnh tượng này không khác gì đích thân Ngôi Lời của Đức Chúa Trời thi hành quyền năng Ngài bởi lời thẩm quyền từ chính miệng của Ngài. Lời ra từ miệng Đức Chúa Trời có năng quyền được thể hiện qua Ngôi Lời nhập thể.

 

SỰ SỐNG QUA LỜI CỦA CHÚA

Đức Chúa Trời, tác giả đích thực của Kinh Thánh, chính là “Đức Chúa Trời hằng sống.” Duy Chúa là Đấng tự hữu, và mọi sự sống khác đều phụ thuộc vào Ngài.  Trước giả Thi Thiên đã nói rằng: “Vì nguồn sự sống ở nơi Chúa” (Thi. 36:9). Mọi tạo vật đều do Chúa tạo tựng và ban cho sự sống. Chính vì vậy hễ ai quay khỏi Chúa thì chắc nhận lấy sự chết. Rất nhiều người đã quay khỏi Chúa và nhận lấy sự chết. Thay vì lấy lòng biết ơn mà nhận biết Chúa và sự sống tốt lành mà Chúa đã ban, những con người đầu tiên đã không vâng lời Chúa. Kể từ đó, cội nguồn sự sống bị cắt đứt khỏi con người, Kinh Thánh kể sự tồn tại của họ là “sự chết.”

Bất kỳ ai khi nhìn vào tình trạng nhân loại ngày nay đều nhận thấy sự thật này. Xung đột và đau khổ ngày một gia tăng. Còn ở những nơi không có xung đột hay đau khổ thì thẳm sâu trong tấm lòng con người không có sự yên ổn, một tấm lòng không thỏa lòng khiến người ta không ngừng theo đuổi khoái lạc, quyền lực, hoặc một hình thức tâm linh nào đó. Điều con người cần nhất chính là sự sống, sự sống mà Đức Chúa Trời đã định cho con người. Ngài ban sự sống ấy cho những ai nhận lấy, và Ngài thực hiện qua Lời Chúa.

Ở vùng Cận Đông thời cổ đại, người ta tìm kiếm những nguồn lực của sự sống, điều mà họ cho rằng có liên hệ với các thần linh, thông qua phép thuật bùa chú hoặc các nghi lễ tôn giáo. Ngược lại, tuyển dân của Đức Chúa Trời có được sự sống nhờ vào mối liên hệ phải lẽ với Đức Chúa Trời qua Lời Chúa. Môi-se lập ra hai con đường cho tuyển dân  Y-sơ-ra-ên, một là con đường sự sống và thịnh vượng, hai là con đường sự chết và đầy trắc trở. Kết quả hoặc hậu quả là do họ có làm theo hay là chối bỏ Lời Chúa (Phục. 30:15-20). Lời mà Môi-se nhận lấy từ Đức Chúa Trời “chẳng phải một lời nói vô giá trị… nhưng nó là sự sống” (32:47). Các tiên tri cũng đã tuyên bố rằng sự sống là do bước đi trung tín theo các luật lệ và mạng lệnh của Chúa (ví dụ, Êxê 18:9; 20:11). A-mốt nhìn thấy trước ngày phán xét của Đức Chúa Trời sẽ có đói kém, “chẳng phải là đói về bánh, cũng chẳng phải khát về nước, bèn là về nghe lời của Đức Giê-hô-va.” Hậu quả là con người sẽ “đi dông dài từ biển nầy đến biển khác” bởi vì nền tảng sự sống của họ đã bị cất đi (A-mốt 8:11-12).

Con người ngày nay cũng chịu những hậu quả tương tự khi quay khỏi Lời Chúa để làm theo ý riêng. Lẽ thật nền tảng xuyên suốt Kinh Thánh không hề thay đổi: Là những tạo vật của Đức Chúa Trời, chúng ta không tự có sự sống. Sự sống có được là bởi ân điển của Đức Chúa Trời. Chính Đức Chúa Giê-su, Ngài vừa là Con người nhưng cũng là Đức Chúa Trời, đã áp dụng lời Môi-se cho chính Ngài: “Loài người sống chẳng phải nhờ bánh mà thôi, nhưng loài người sống nhờ mọi lời bởi miệng Đức Giê-hô-va mà ra” (Phục 8:3; Ma-thi-ơ 4:4).

Sự sống tìm được nơi Đức Chúa Trời và được ban cho qua Con Ngài. Đức Chúa Giê-su phán: “Ta là sự sống lại và sự sống,” và “Ta là… sự sống” (Giăng 11:25; 14:6). Vậy các môn đồ đầu tiên đã tin và nhận thấy lẽ thật này là đúng đắn, họ tuyên xưng rằng “trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người” (1:4). Đối với các môn đồ, Đức Chúa Giê-su chính là “Chúa [hoặc ‘Đấng sáng tạo’ hoặc ‘người tiên phong’] của sự sống” (Công. 3:15).

Nhưng chính Chúa, Đấng ban sự sống, đã phó chính Ngài thông qua Lời hằng sống của Đức Chúa Trời. Sứ đồ Giăng đã viết rằng: “Điều có từ trước hết, là điều chúng tôi đã nghe, điều mắt chúng tôi đã thấy, điều chúng tôi đã ngắm và tay chúng tôi đã rờ, về Lời sự sống” (1 Giăng 1:1). “Lời sự sống” chính là Ngôi Lời nhập thể, Đấng mà các sứ đồ đã nhìn thấy và tay họ đã rờ đến Ngài. Nhưng đó cũng là điều mà họ đã “nghe” (1:3). Các sứ đồ công bố sứ điệp sự sống mà họ đã được nghe. Các tín hữu đầu tiên được khích lệ phải giữ vững “lời sự sống” (Phi-líp 2:16; cũng xem Công 5:20). Lời được truyền đạt bằng ngôn ngữ con người là “lời sự sống” khi những lời ấy công bố sứ điệp sự sống thật nơi Đấng Christ. Hơn thế nữa, khi lời sự sống được công bố, lời ấy tạo nên sự sống cho những ai tiếp nhận.

Lời Chúa có năng quyền “tái sanh,” là phép lạ biến đổi một con người khi họ đã chết về mặt tâm linh. Trong ngụ ngôn người ra đi gieo giống, Đức Chúa Giê-su ví sánh Lời Đức Chúa Trời như hạt giống (Lu-ca 8:11). Hạt lúa mì hoặc hạt ngô trông  bề ngoài như không có sự sống, nhưng khi được gieo xuống đất thì sản sinh thành một cây có sự sống. Cũng vậy, Kinh Thánh, Lời Chúa được viết thành sách, trông vẻ bề ngoài cũng giống như những quyển sách khác, nhưng khi được trồng trong lòng người thì có năng quyền kỳ diệu để sản sinh sự sống tâm linh. Cũng với hình ảnh hạt giống, Phi-e-rơ đã viết rằng: “Anh em đã được lại sanh, chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống chẳng hư nát, là bởi lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời” (1 Phi-e-rơ 1:23). Lẽ thật này được kinh nghiệm theo nhiều cách khác nhau: “Ấy chính Ngài theo ý muốn mình, đã dùng lời chân thật sanh chúng ta” (Gia-cơ 1:18). “Vừa lúc ban đầu, Ngài đã chọn anh em bởi sự nên thánh của Thánh Linh, và bởi tin lẽ thật, đặng ban sự cứu rỗi cho anh em” (2 Tê. 2:13). Đức Chúa Trời tiếp tục thu hút con người tiếp nhận Lời Ngài để được sự sống và sự cứu rỗi: “Hãy chăm chỉ nghe ta, hãy ăn của ngon… Hãy nghiêng tai, và đến cùng ta; hãy nghe ta, thì linh hồn các ngươi được sống” (Ê-sai 55:2-3).

Qua chức vụ, sứ đồ Phao-lô đã giảng dạy và trải nghiệm năng quyền Lời Chúa trong việc đem tha nhân đến với cuộc sống mới và sự cứu rỗi. Phao-lô nói rằng: “lời giảng về thập tự giá… là quyền phép của Đức Chúa Trời” (1 Côr. 1:18). “Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin”  (Rô-ma 1:16).

Sự sống chỉ được tìm thấy trong sự gắn kết với Đấng Christ, và sự gắn kết ấy chỉ có được trong đức tin nhờ Lời năng quyền của Đức Chúa Trời. Như Phao-lô đã viết: “Như vậy, đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe, là khi lời của Đấng Christ được rao giảng” (Rô-ma 10:17). Nói cách khác, sứ điệp lời Chúa chính là năng quyền kích hoạt đức tin.

Giáo phụ Augustine (354 – 430) đã nói về năng quyền sản sinh sự sống của Lời Chúa qua chính trải nghiệm của ông. Sau khi kể về câu chuyện linh hồn của ông chịu đau đớn và giằng xé giữa một bên là bản ngã tội lỗi và một bên là Chúa, ông đã viết về những gì đã xảy ra:

Khóc lóc với tấm lòng đầy đau đớn và đắng cay, đột nhiên tôi nghe một giọng nói vang lên từ căn nhà gần đó, giọng của một bé trai hoặc gái (tôi không rõ) cứ lặp đi lặp lại câu nói: “Hãy cầm lấy và đọc, hãy cầm lấy và đọc”… Tôi nhìn dòng nước mắt và đứng lên. Tôi hiểu tiếng nói ấy là một mệnh lệnh từ Chúa dành cho tôi phải mở quyển sách và đọc chương đầu tiên mà tôi tìm thấy… Tôi cầm lấy quyển sách, mở ra và đọc thầm đoạn văn đầu tiên mà mắt tôi nhìn thấy: “Chớ nộp mình vào sự quá độ và say sưa, buông tuồng và bậy bạ, rầy rà và ghen ghét; nhưng hãy mặc lấy Đức Chúa Jêsus Christ, chớ chăm nom về xác thịt mà làm cho phỉ lòng dục nó” (Rô-ma 13:13-14)… Đột nhiên, đến chữ cuối cùng của câu Kinh Thánh này, một tia sáng thiên thượng chiếu soi vào tấm lòng đầy lo âu của tôi. Mọi bóng tối nghi ngờ đều bị xua tan.[8]

Năng quyền của lẽ thật được ghi lại trong Kinh Thánh cũng đem đến sự sống mới cho Martin Luther. Ông đã thực hiện tất cả mọi điều mà một “tu sĩ tốt” của Giáo hội Công Giáo La-mã thời bấy giờ cần phải làm để xoa dịu tấm lòng bất an của mình. Sau đó ông được phong làm giáo sư Kinh Thánh tại Đại học Wittenberg. Trong vai trò mới của mình, ông nghiên cứu và giảng dạy sách Rô-ma. Trong quá trình nghiên cứu Kinh Thánh, tấm lòng của ông bị thu hút bởi khái niệm “sự công bình của Đức Chúa Trời,” là điều mà sứ đồ Phao-lô tuyên bố đã được bày tỏ trong phúc âm (Rô-ma 1:16-17). “Tôi vô cùng khao khát được hiểu thư tín của Phao-lô dành cho người Rô-ma, tuy nhiên có một điều ngăn trở tôi đó là khái niệm ‘sự công bình của Đức Chúa Trời,’ bởi vì tôi hiểu rằng đó là sự công bình mà chính Đức Chúa Trời là sự công bình và Ngài hành động trong sự công bình đó để hành phạt người không công bình… Tôi suy ngẫm ngày và đêm cho đến khi… tôi nhận ra lẽ thật đó là sự công bình của Đức Chúa Trời là sự công bình mà, chỉ nhờ ân điển và sự thương xót của Ngài. Chúa xưng công chính cho chúng ta bởi đức tin. Ngay sau đó tôi cảm thấy chính tôi được lại sanh và bước qua cánh cổng thiên đàng… Phần Kinh Thánh này của Phao-lô đối với tôi như mở ra cánh cổng vào thiên đàng.”[9]

Niềm tin vào năng quyền ban cho sự sống của Lời Chúa đã khiến việc công bố Lời Chúa trở nên nhiệm vụ vô cùng quan trọng đối với hội thánh đầu tiên. Phao-lô nhiều lần cầu nguyện để hội thánh được dạn dĩ rao giảng Lời Chúa (Ê-phê-sô 6:19-20; Cô-lô-se 4:3). Khao khát lớn nhất của Phao-lô đó là “đạo Chúa được đồn ra và được sáng danh” trong chức vụ của ông (2 Tê. 3:1). Sự công bố Lời Chúa và minh chứng về quyền năng ban cho sự sống của Lời Chúa trong thế gian đã giúp cho hội thánh đắc thắng và phát triển trong một thế giới bị bao trùm bởi sự tăm tối thuộc linh. Ngày nay cũng vậy.

Có một giáo sĩ  gần như chỉ dùng Kinh Thánh cho lời chứng cá nhân của mình từng được các bạn của ông hỏi rằng: “Ông sẽ làm gì khi một người chưa được cứu không chấp nhận thẩm quyền của Kinh Thánh?” Vị giáo sĩ đáp: “Nếu trong một trận chiến tôi có một thanh gươm Đa-mách loại tốt với hai lưỡi thật sắc bén, tôi sẽ không để thanh gươm ở yên trong vỏ chỉ vì đối thủ của tôi không tin rằng thanh gươm ấy sắc bén.”

Việc này không có nghĩa rằng những nghiên cứu về tính đáng tin cậy của Kinh Thánh là không có giá trị. Lý do để tin vào Kinh Thánh thường giúp người ta lắng nghe lẽ thật Kinh Thánh. Nhưng chúng ta phải luôn nhớ rằng “gươm Thánh Linh” không phải là lời nói của con người hay thậm chí là lý luận của chúng ta. Ngược lại, Kinh Thánh chính là Lời của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Giê-su phán rằng Đức Thánh Linh cáo trách thế gian “về tội lỗi, về sự công bình và về sự phán xét” (Giăng 16:8). Sự nhận biết về tội lỗi, và sự công chính của Đức Chúa Trời được tìm thấy nơi Đức Chúa Giê-su, và về sự phán xét sẽ đến là những lẽ thật mà con người cần nhận biết để tiếp nhận sự sống đời đời. Đó cũng là những lẽ thật đánh động đến tấm lòng chân thành của con người. Một tín hữu người Phi Châu đã nói rằng: “Kinh Thánh nói cho tôi biết về tấm lòng của tôi.” Đó cũng là những lẽ thật có năng quyền của Đức Thánh Linh.

Một nhà vật lý  tài năng đã khám phá điều này khi gặp gỡ D. L. Moody. Ông thừa nhận rằng ông chỉ đến nghe  Moody thuyết giảng để mua vui cho mình. “Tôi biết ngài ấy không phải là một học giả, và tôi cảm thấy chắc chắn rằng tôi có thể tìm thấy nhiều khiếm khuyết trong lập luận của ông. Nhưng tôi nhận ra rằng tôi không thể nhắm vào ông. Từ đầu đến cuối buổi diễn thuyết, ông ấy đã bắn vào tôi những câu Kinh Thánh như thể những viên đạn phát ra từ khẩu súng trường đi thẳng vào tim tôi. Tôi có thể nói rằng năng quyền của Moody đó là  ông ta có Kinh Thánh trong miệng.”[10]

Sự linh nghiệm của Lời Chúa để đem người khác đến với sự cứu rỗi đã lý giải tại sao nhiều kẻ thù của phúc âm đã thất bại trong việc xóa bỏ Kinh Thánh. Trong cuộc bắt bớ tàn khốc cuối cùng trước khi Cơ Đốc Giáo được hợp pháp hóa tại Đế quốc La-mã, chính quyền La-mã đã nghĩ cách để dẹp tan dứt điểm đạo Chúa. Khi một tín hữu đã bỏ đạo, ông này là thành viên  trong hội đồng của hoàng đế  nghe hội đồng này nói  về việc cần phải thiêu cháy mọi tín hữu Cơ Đốc, ông đáp lại rằng: “Thật vô ích khi thiêu đốt mọi Cơ Đốc Nhân, bởi nếu ngày nay quý vị tàn sát mọi Cơ Đốc Nhân nhưng vẫn để sót lại một bản sao Kinh Thánh thì ngày mai hội thánh Cơ Đốc sẽ trỗi dậy một lần nữa.” Chính vì vậy mà hoàng đế La-mã đã ra sắc lệnh tiêu hủy mọi bản sao Kinh Thánh.

TRƯỞNG THÀNH NHỜ LỜI CHÚA

Lời Chúa được áp dụng sẽ mang lại sự cứu rỗi, nhưng nó cũng là chất dinh dưỡng và thức ăn cần thiết cho sự phát triển thuộc linh. Một Cơ đốc nhân lớn tuổi người Scotland làm chứng: “Tôi có một bản chất sa đọa và tội lỗi, và tôi làm theo ý mình, tôi thấy mình không thể làm cho mình trở nên thánh thiện. Bạn bè tôi không thể làm điều đó cho tôi, và tôi cũng vậy. Chỉ khi tôi đọc, tin và áp dụng những gì trong Kinh Thánh, thì điều bất khả thi trở nên có thể.” Những lời của Chúa Giê-su phán dạy trước đây, chỉ ra lẽ thật này: “Con người không được sống chỉ nhờ bánh, nhưng nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời” (Ma-thi-ơ 4: 4). Nhiều người trong thế giới giàu có của chúng ta đang bắt đầu nhận ra rằng chỉ duy vật chất không thôi, không thể đem đến sự thỏa mãn thực sự. Chúng ta cần bánh ăn, nhưng chúng ta cần những thực phẩm thuộc linh khác. Linh mục của nhà thờ Jerome (khoảng năm 340-420 sau CN) đã đúng khi nói, “Nếu ai không được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa, thì người đó không được sống.” Sự sống thực sự đi kèm với Đức Chúa Trời hằng sống, Đấng không ngừng phán dạy chúng ta mỗi ngày qua Lời Ngài. Tuy nhiên Lời Ngài chỉ dành cho những người sẵn sàng lắng nghe và tiếp nhận.

Chúa Giê-su đề cập đến những người tin Ngài trong lời cầu nguyện với Cha thiên thượng, “Họ không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian. Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh. Lời Cha tức là lẽ thật” (Giăng 17:16-17). Ý nghĩa của những lời này được miêu tả một cách sinh động trong cách diễn giải của Eugene Peterson: “Họ không được thế giới nhìn nhận, cũng như Con không được thế giới tiếp nhận. Hãy khiến họ trở nên thánh nhờ Lời của Cha.”

Lời cầu nguyện của Đấng Christ dành cho những người theo Ngài là họ sẽ không đi theo những giá trị sai lầm của thế giới này, nhưng họ có những khác biệt lớn. Điều tạo ra sự biến đổi siêu nhiên trong đời sống của người tin Chúa, là lẽ thật của Đức Chúa Trời được truyền đạt qua Lời Ngài. Như một bản dịch mới của Kinh Thánh diễn tả điều đó, “Xin Cha làm cho họ trở nên trong sạch và thánh khiết bằng cách dạy họ những lời lẽ thật của Ngài” (Giăng 17:17).

Phi-e-rơ nói rằng giá trị nuôi dưỡng của Kinh Thánh giống như sữa cho trẻ sơ sinh. Sau khi tuyên bố rằng chúng ta được sinh lại nhờ Lời (1 Phi-e-rơ 1: 231), ông nói them, “hãy ham thích sữa thiêng liêng của Đạo, như trẻ con mới đẻ vậy, hầu cho anh em nhờ đó lớn lên mà được rỗi linh hồn” (2: 2) Phao-lô nói với mục sư trẻ Ti-mô-thê rằng các tín hữu được nuôi dưỡng thường xuyên dựa trên những lời của đức tin ” (1 Ti-mô-thê 4: 6).

Vị sứ đồ cũng thách thức các tín hữu, “hãy mặc lấy người mới, tức là người đã được dựng nên giống như Đức Chúa Trời, trong sự công bình và sự thánh sạch của lẽ thật” (Ê-phê-sô 4:24). “Người mới” mà chúng ta được khoác lên mình là sự thánh khiết và công bình “đến từ lẽ thật”. Tiến trình đổi mới diễn ra bởi vì – con người mới cuối cùng liên quan đến chân lý của phúc âm và lời dạy của các sứ đồ.

Tất cả mọi thứ cần thiết cho sự phát triển môn đồ Đấng Christ đều được tìm thấy trong Lời Chúa. Đó là “Cả Kinh thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành” (2 Ti 3:16-17).

Lời Chúa giống như thức ăn để giúp chúng ta lớn lên. Những tác động của lẽ thật này là to lớn, cho cả cá nhân và hội thánh. Vì sức mạnh nuôi dưỡng sự sống của nó, Phao-lô cầu nguyện cho các tín hữu, “Nguyền xin lời của Đấng Christ ở đầy trong lòng anh em, và anh em dư dật mọi sự khôn ngoan” (Cô-lô-se 3:16). Tiếp theo sau đó, chúng ta thấy Lời sống này mang lại một số kết quả nhất định (3:17- 4:1).  Khi đọc Ê-phê-sô 5:18-6: 9, chúng ta có thể thấy tác động tích cực của sự đầy dẫy Đức Thánh Linh trên các mối quan hệ. Điều này cho thấy một mối liên hệ thiết yếu giữa Thánh Linh và Lời là lẽ thật của Đấng Christ đang ở trong chúng ta.

Nói cách khác, một tín nhân được “đầy dẫy Thánh Linh” nhờ để cho Đức Chúa Trời cấy ghép Lời Ngài vào sâu thẳm trong tâm hồn người đó.

Vũ khí duy nhất mà người tin Chúa có để chống lại thế lực của kẻ ác là “gươm của Thánh Linh, tức là lời của Đức Chúa Trời” (6:17). Bằng cách gọi Lời Đức Chúa Trời – thanh gươm của Thánh Linh –  vị sứ đồ tuyên bố rằng Kinh Thánh là công cụ để qua đó Thánh Linh sử dụng quyền năng của Ngài. Khi cầm gươm của Lời, chúng ta được quyền năng của Đức Thánh Linh cho phép chiến thắng kẻ thù bên ngoài cũng như những ham muốn bên trong của chúng ta đang tranh chiến. Khi từ giã các anh em đồng công tại Ê-phê-sô, Phao-lô nói, “giờ đây tôi giao phó anh em cho Đức Chúa Trời và cho đạo của ơn Ngài, là giao phó cho Đấng có thể gây dựng, và ban gia tài cho anh em chung với hết thảy những người được nên thánh” (Công. 20:32).

Sau khi tuyên bố sự mặc khải của Đức Chúa Trời về những điều kỳ diệu của thiên nhiên trong Thi thiên 19:1-6, Đa-vít tôn cao những điều kỳ diệu mà Lời Đức Chúa Trời đã mặc khải (19: 7-11). Mối liên hệ giữa hai hình thức mặc khải này của Đức Chúa Trời là sự tham chiếu về tầm quan trọng của mặt trời trong thái dương hệ của chúng ta, đặc biệt là sức nóng của nó. “Mặt trời ra từ phương trời nầy. Chạy vòng giáp đến phương trời kia;

Chẳng chi tránh khỏi hơi nóng mặt trời được” (Thi. 19:5-6). Peter Craigie lưu ý, “Cũng như mặt trời tỏa hơi nóng trong thế giới chúng ta, Ngũ kinh của Môi-se cũng giống như thế cho đời sống tâm linh. Vì mặt trời vừa có thể được chào đón, vừa mang lại sự ấm áp, và đáng kinh hãi trước sức nóng không ngừng của nó (tác giả Thi thiên sống ở Cận Đông sẽ biết điều này hơn hầu hết mọi người), nên Ngũ kinh cũng có thể truyền sự sống nhưng cũng có thể thiêu đốt, thử nghiệm và thanh lọc …. Không thể có sự sống trên hành tinh này nếu không có mặt trời; Và con người không thể sống nếu không có lời Chúa được bày tỏ trong Ngũ kinh.”

Trong các câu 7-9, tác giả Thi thiên 19 nói về các giá trị của Lời được mặc khải, “Luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại; Sự chứng cớ Đức Giê-hô-va là chắc chắn, làm cho kẻ ngu dại trở nên khôn ngoan.  Giềng mối của Đức Giê-hô-va là ngay thẳng, làm cho lòng vui mừng;

Điều răn của Đức Giê-hô-va trong sạch, làm cho mắt sáng sủa.  Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là trong sạch, hằng còn đến đời đời; Các mạng lịnh của Đức Giê-hô-va là chân thật, thảy đều công bình cả.”

Các điều răn của Chúa là trong sạch. Sự kính sợ Chúa trường tồn mãi mãi; các mạng lệnh của Ngài là đúng đắn, chúng hoàn toàn công bình

Người công bình “vui vẻ về luật pháp của Đức Giê-hô-va” (Thi 1:2) đạt đến đỉnh điểm trong Thi thiên 119. Thi thiên này được gọi là viên ngọc quý của Lời. Derek Kidner tóm tắt các phước lành phong phú của Lời dành cho các tín nhân như Chúa ban sự giải cứu, ánh sáng, sự sống. Chúng ta  nhớ rằng cuộc sống của người tin Chúa trên đất này thường xuyên được mô tả trong Kinh Thánh là “bước đi.”  Minh họa cho điều này là Hê-nóc “đồng đi cùng Đức Chúa Trời … Đức Chúa Trời cất người lên” (Sáng thế Ký 5: 24). Đức Chúa Trời đã ban chỉ thị cho Áp-ra-ham, cũng như Ngài ban huấn lệnh cho tất cả dân Ngài, “ngươi hãy đi ở trước mặt ta làm một người trọn vẹn” (Sáng. 17: 1).

Nếu mọi người trung thực, họ phải thừa nhận rằng họ không thể sống như những gì họ biết. Họ bị ràng buộc bởi điều mà Kinh Thánh gọi là sự trói buộc của tội lỗi. Sự tự do có được nhờ việc tuân phục Lời Chúa. Trước giả Thi-thiên đã tuyên bố, “Tôi cũng sẽ bước đi thong dong, vì đã tìm kiếm các giềng mối Chúa” (Thi. 119: 45). “Tự do” có nghĩa là được giải phóng khỏi một không gian hạn chế và bước vào một nơi rộng rãi. Các giới hạn của tội lỗi bị phá vỡ, và người tin Chúa được tự do để sống cuộc sống sung mãn mà Đấng Tạo Hóa đã dự định. của Nhà thơ Moffatt viết, “Tôi sẽ sốt sắng vâng lời Ngài, Ngài mở ra một cánh cửa cho đời tôi.” Trước giả Thi thiên đã thể hiện rõ sự phấn khởi khi được sống trong sự tự do của Lời Đức Chúa Trời khi ông viết, “Khi Chúa mở rộng lòng tôi, thì tôi sẽ chạy theo con đường điều răn Chúa” (119: 32). Cụm từ “mở rộng lòng tôi” trong tiếng Do Thái được hiểu là Chúa “đặt tôi vào ở một nơi rộng rãi.” Sự áp bức của tội lỗi mang lại sự trói buộc, nhưng Lời Đức Chúa Trời đã cho trước giả Thi thiên hy vọng.

Để bước đi không chùn bước, con người phải có ánh sáng. Nếu bạn đã có kinh nghiệm ở trong bóng tối, chẳng hạn như ở sâu trong các hang động của New Mexico, bạn sẽ nhận ra sự thật này. Vì vậy, Kinh Thánh kêu gọi chúng ta “bước đi trong sự sáng” vì chính Đức Chúa Trời là “sự sáng” (1 Giăng 1:5, 7; xem thêm Giăng 12:46). Ánh sáng của Đức Chúa Trời chiếu trên chúng ta qua Con Ngài, và qua Kinh Thánh, là quyển sách bày tỏ Ngài. Vì vậy, trước giả Thi thiên đã viết, “Lời Chúa là ngọn đèn cho chân tôi, và là ánh sáng cho con đường tôi” (Thi. 119: 105). “Sự bày giãi lời Chúa, soi sáng cho, ban sự thông hiểu cho người thật thà” (119:130; xem thêm 19: 8). Trước giả Châm-ngôn cũng khẳng định như vậy, “Vì điều răn là một cái đèn, luật pháp là ánh sáng” (Châm ngôn 6:23).

Ánh sáng của Lời có sức mạnh đến nỗi nó biến đổi những ai đón nhận, ban cho họ sự sống. Chúa Giê-su phán: “Các ngươi đương có sự sáng, hãy tin sự sáng, hầu cho trở nên con cái của sự sáng” (Giăng 12:36). Phao-lô viết, “Vả, lúc trước anh em đương còn tối tăm, nhưng bây giờ đã nên người sáng láng trong Chúa. Hãy bước đi như các con sáng láng” (Ê-phê-sô 5: 8). Là ánh sáng, các tín đồ tỏa sáng “như những ngọn đèn trong thế giới.” Giống như một ngôi sao sáng trên trời, các tín đồ mang ánh sáng của Lời cho người khác (Phi-líp 2:15). Phao-lô gọi Kinh Thánh là “đạo sự sống” (Phi-líp 2:15). Đa-vít đã tuyên bố: “Vì Chúa đã giải cứu tôi khỏi sự chết và chân tôi khỏi vấp ngã, hầu cho tôi bước đi trước mặt Ngài trong ánh sáng của sự sống” (Thi 56:13). Đọc lại Thi-thiên 119. “Tôi sẽ không bao giờ quên các giới luật của Ngài, vì Ngài đã gìn giữ mạng sống của tôi” (119: 93). “Linh hồn tôi dính vào bụi đất. Xin hãy khiến tôi sống lại tùy theo lời Chúa” (119: 25). “Lời Chúa làm cho tôi được sống lại, ấy là sự an ủi tôi trong cơn hoạn nạn” (119: 50). “Xin Chúa nâng đỡ tôi tùy lời của Chúa, hầu cho tôi được sống: Chớ để tôi bị hổ thẹn về sự trông cậy tôi” (119: 116).

Bước đi trên đất cũng cần sự ổn định hoặc chắc chắn của bàn chân. Không có đời sống nào tránh khỏi sự vùi dập của những kẻ thù bên ngoài và sự hỗn loạn bên trong của sự nghi ngờ và bất an. Nhưng qua Lời, các tín hữu tìm thấy nền tảng vững chắc. “Nếu luật pháp Chúa không làm sự tôi ưa thích, Ắt tôi đã bị diệt vong trong cơn hoạn nạn…
Những kẻ ác rình giết tôi; Nhưng tôi chăm chỉ về các chứng cớ Chúa” (119; 92, 95).  “Phàm kẻ nào yêu mến luật pháp Chúa được bình yên lớn; Chẳng có sự gì gây cho họ sa ngã” (119:165).

Có hai chủ đề lớn trong Kinh Thánh tóm tắt lẽ thật mang lại sự sống cho tín nhân: sự mặc khải về tội lỗi của chúng ta và sự mặc khải về Đấng Cứu Rỗi.

Lời Chúa phơi bày tội lỗi chúng ta

Khi phơi bày tội lỗi, Lời bày tỏ các tiêu chuẩn công bình của Đức Chúa Trời và chỉ ra cách chúng ta không sống theo các tiêu chuẩn đó. “Người trẻ tuổi phải làm sao cho đường lối mình được trong sạch? Phải cẩn thận theo lời Chúa” (Thi 119: 9). Gia-cơ đã ví Lời như một tấm gương để chúng ta có thể nhìn thấy chính mình. Khắc trên tấm gương này là tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời, để cho chúng ta thấy những khiếm khuyết của mình (Gia-cơ 1: 23-25).

Trong khi ẩn dụ về chiếc gương gợi ý một vật phản xạ không hoạt động, tác giả Hê-bơ-rơ tuyên bố rằng Lời phơi bày con người bên trong chúng ta. “Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng” (Hêb. 4:12). Hồn và linh nói lên bản thể phi vật chất của chúng ta, còn các khớp và tủy liên quan đến thể chất của chúng ta. Các khớp hợp nhất xương và tủy nằm trong xương. Vì vậy, có thể thấy Lời Đức Chúa Trời thâm nhập vào toàn bộ con người của chúng ta.

Không có gì mà Lời không thể thâm nhập. Mọi sự về chúng ta đều được Lời chỉ ra: “Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại” (4:13). Từ Hy Lạp có nghĩa là “trần trụi” bắt nguồn từ một từ chỉ cổ họng và hình ảnh một con vật sắp bị hiến tế với cổ cong ra sau và cổ họng để lộ ra bên ngoài. Vì vậy, Lời của Đức Chúa Trời phơi bày tất cả những gì chúng ta đang có và khiến chúng ta dễ bị tổn thương trước mặt Đức Chúa Trời. Một người đàn ông Trung Quốc, sau khi nghe Kinh Thánh lần đầu tiên, đã nói với nhà truyền giáo rằng: “Tôi biết đây là Lời Đức Chúa Trời vì nó cho tôi biết tất cả con người của tôi.”

Chúng ta thấy tác động phơi bày của Lời đối với tín nhân qua kinh nghiệm của Phi-e-rơ. Vào đêm Chúa Giê-su bị bắt, ngay sau khi Phi-e-rơ chối Chúa ba lần, “Chúa quay lại nhìn Phi-e-rơ. Và Phi-e-rơ nhớ lại lời Chúa … và … đi ra ngoài và khóc lóc thảm thiết” (Lu-ca 22: 61-62). Trong trường hợp này, “lời” dùng để chỉ lời cụ thể của Chúa Giê-su, trong đó Ngài đã tiên đoán sự chối Chúa của Phi-e-rơ, nhưng nguyên tắc này áp dụng cho Lời thành văn là Kinh Thánh. Kinh Thánh cho tín nhân thấy tội lỗi và khuyến khích từ bỏ chúng.

Lời bày tỏ về Đấng Cứu Rỗi

Nhìn vào tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh, chúng ta bị kết tội vì không phù hợp với tiêu chuẩn. Nhưng có thể làm được điều gì đó điều chỉnh lại vấn đề này là một việc khác. Vào một buổi tối trên bàn ăn, một trong những đứa con gái của tôi đã chỉ ra rằng mũi tôi không được thẳng. Đây không hẳn là một tiết lộ mới. Tấm gương đã cho tôi thấy điều đó. Vấn đề là tôi không thể làm gì để sửa lại chuyện này. Vấn đề của chúng ta với tội lỗi cũng giống như vậy. Kinh Thánh tiết lộ rằng tất cả mọi người đều là tội nhân và không tuân theo khuôn mẫu của Đức Chúa Trời. Nhưng việc tiết lộ đó cũng chẳng ích lợi gì trừ khi chúng ta tìm ra một số biện pháp thay đổi.

Tuy nhiên, Kinh Thánh không chỉ là sự mặc khải về tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời và là tấm gương phản chiếu sự thất bại của chúng ta. Nó trình bày thông điệp về công trình cứu chuộc vĩ đại của Đức Chúa Trời qua Đấng Christ. Nhờ phúc âm, chúng ta bắt đầu cuộc sống Cơ đốc và cũng nhờ phúc âm mà chúng ta phát triển. Khi Phao-lô khuyến khích các tín hữu theo đuổi sự nên thánh và tăng trưởng tâm linh, ông yêu cầu họ nhớ lại những gì đã xảy ra vào lúc họ quyết định tiếp nhận Chúa.

Họ đã chết với Đấng Christ và được sống lại với sự sống mới trong Ngài (Rô-ma 6:1-11). Tội lỗi của họ đã được tha thứ và họ trở thành những tạo vật mới. Theo vị sứ đồ, chìa khóa để tăng trưởng thuộc linh là xem xét bước ngoặt lớn này của phúc âm và theo đuổi nó.

Sắc lệnh của Cựu ước về “con bò cái tơ sắc hoe” (Dân số 19) cung cấp một minh họa nổi bật về sức mạnh thanh tẩy và đổi mới của Lời. Theo Luật pháp Môi-se, bất cứ ai bị ô uế hoặc trở nên ô uế đều phải được thanh tẩy trước khi có thể trở lại vị trí của mình trong xã hội. Với mục đích thanh tẩy, một con bò cái tơ màu đỏ được đưa ra bên ngoài trại của Y-sơ-ra-ên và bị giết. Sau đó, “thầy tế lễ, sẽ dùng ngón tay nhúng huyết nó rảy bảy lần trên phía trước của hội mạc” (19:4). Chúng ta đọc tiếp: “Người ta sẽ thiêu con bò cái tơ đó trước mắt người, là thiêu da, thịt, và huyết với phẩn nó. Kế đó, thầy tế lễ sẽ lấy cây hương nam, chùm kinh giới và màu đỏ sặm, liệng vào giữa đám lửa thiêu con bò cái tơ.  Đoạn, thầy tế lễ phải giặt áo xống và tắm mình trong nước, sau rồi vào trại quân, bị ô uế đến chiều tối.  Kẻ nào thiêu con bò cái tơ phải giặt áo xống và tắm mình trong nước, bị ô uế đến chiều tối.  Một người tinh sạch sẽ hốt tro con bò cái tơ đổ ngoài trại quân, trong một nơi tinh sạch; người ta phải giữ tro đó cho hội dân Y-sơ-ra-ên để dùng làm nước tẩy uế: ấy là một của lễ chuộc tội” (19:5-9).

Bất cứ lúc nào một trong những người của tuyển dân bị ô uế (trong trường hợp này là do tiếp xúc với cái chết), nước này được áp dụng cho họ và họ được tẩy rửa theo nghi lễ.

Hiệu quả của nước nằm ở chỗ nó chứa tro cốt của một cái chết hy sinh. Mỗi khi nó được áp dụng, lợi ích của cái chết đó là rõ ràng. Chính nguyên tắc này — cái chết của Đấng Christ — làm cho Lời Đức Chúa Trời có hiệu quả để “khiến Hội nên thánh sau khi lấy nước rửa và dùng Đạo làm cho Hội tinh sạch” (Ê-phê-sô 5:26). Huyết của Chúa Giê-su đã rảy một lần mãi mãi tại đồi Gô-gô-tha mang lại cho tín hữu sự sống mới. Nhưng khi chúng ta bước đi trong cuộc đời này, chúng ta trở nên ô uế. Chúng ta cần sự áp dụng lặp đi lặp lại lẽ thật về sự đắc thắng của Đấng Christ trên tội lỗi và sự sống mới của Ngài trong chúng ta. Thông điệp này được bày tỏ cho chúng ta trong Lời. Khi chúng ta đọc và suy ngẫm về nó, Thánh Linh của Đức Chúa Trời sử dụng nó để thanh tẩy cuộc sống của chúng ta. Bên cạnh việc tiết lộ Đấng Cứu Rỗi là Đấng thanh tẩy cuộc sống của chúng ta, Kinh Thánh cũng bày tỏ sự hoàn hảo không gì sánh được của Ngài. Ngài là Đầu và Khuôn mẫu của chúng ta, và chúng ta tham dự vào tiến trình trở nên giống như hình ảnh Ngài (Rô-ma 8:28). Quá trình biến đổi của chúng ta được nêu ra trong 2 Cô-rinh-tô 3:18: “Chúng ta ai nấy đều để mặt trần mà nhìn xem vinh hiển Chúa như trong gương, thì hóa nên cũng một ảnh tượng Ngài, từ vinh hiển qua vinh hiển, như bởi Chúa, là Thánh Linh.” Trong quá trình này, Kinh Thánh bày tỏ sự vinh hiển của Đấng Christ. Bằng lời chứng của chính Ngài, Ngài là chủ đề của cả Kinh Thánh (Giăng 5:39). Khi Đức Thánh Linh soi sáng Lời, Ngài cũng tôn vinh Christ. “Ấy chính Ngài sẽ làm sáng danh ta, vì Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi” (Giăng 16:14).

Khi chúng ta dành thời gian dài với một người mà chúng ta tôn trọng và ngưỡng mộ, chúng ta bắt đầu có những đặc điểm nhất định của người đó. Quá trình này sẽ hiệu quả  khi chúng ta dành thời gian ở với Đấng Christ qua việc suy ngẫm Kinh Thánh. Quyền năng của Lời Hằng Sống bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời hoạt động trong chúng ta để biến đổi chúng ta nên giống như hình ảnh của Cứu Chúa Giê-su Christ.

KẾT LUẬN

Đức Chúa Trời hiện diện giữa chúng ta qua Lời của Ngài. Ngài đã gửi Ngôi Lời nhập thể vào trần gian. Chúa Giê-su Christ, đến sống trong lịch sử nhân loại để làm cho thế giới biết về Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời tiếp tục bày tỏ chính Ngài qua Lời thành văn. Vì vậy, quyền năng để thay đổi và khiến chúng ta trở thành tác nhân của sự thay đổi trong thế giới này là Lời của Đức Chúa Trời. Quyền năng của Hội thánh trên thế giới không nằm ở sự khôn ngoan, sự khéo léo hay chiến lược của con người khi thi hành các mục vụ, mà nằm ở Lời Đức Chúa Trời được công bố  và phẩm hạnh của tín nhân.

Trong sứ vụ của mình, sứ đồ Phao-lô phụ thuộc vào quyền năng của Lời. Ông nói, “Hỡi anh em, về phần tôi, khi tôi đến cùng anh em, chẳng dùng lời cao xa hay là khôn sáng mà rao giảng cho anh em biết chứng cớ của Đức Chúa Trời…Lời nói và sự giảng của tôi chẳng phải bằng bài diễn thuyết khéo léo của sự khôn ngoan, nhưng tại sự tỏ ra Thánh Linh và quyền phép; hầu cho anh em chớ lập đức tin mình trên sự khôn ngoan loài người, bèn là trên quyền phép Đức Chúa Trời” (1 Cô 2:1, 4-5). Sự diễn thuyết khéo léo ở đây không phải là một màn trình diễn phép màu như một số người đã lầm tưởng. Thay vào đó, nó biểu thị sức mạnh của Đức Thánh Linh đi kèm với lời dạy của các sứ đồ.

Khi Phao-lô rao giảng, có quyền năng của Đức Thánh Linh bắt lấy những người nghe hoặc một số người trong đám đông, và khiến họ ăn năn, tin nhận phúc âm. Dĩ nhiên, Phao-lô không coi thường các kỹ năng giao tiếp có thể hỗ trợ trong công tác rao giảng. Nhưng thay vào đó, ông biết rằng khả năng của mình không đến từ kỹ năng nói, sự thông minh của đầu óc, vốn từ vựng uyên thâm, sự nhanh trí của cá nhân mà chính là thông điệp của Lời Chúa.

Phao-lô đã công bố “lời giảng về thập tự giá”, mà ông biết là bị thế gian xem là ngu muội (1 Cô 1:21, 23, 25) nhưng lời giảng ấy có quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu mọi người tin (1:24). Bất kể khả năng con người của chúng ta là gì, chúng ta cũng chỉ là những cái chậu bằng đất. Tuy nhiên trong cái chậu bằng đất ấy có quyền năng của Đức Chúa Trời. Phao-lô xác định: “Nhưng chúng tôi đựng của quí nầy trong chậu bằng đất, hầu cho tỏ quyền phép lớn dường ấy là bởi Đức Chúa Trời mà ra, chớ chẳng phải bởi chúng tôi” (2 Cô 4: 7). Cơ đốc nhân có đặc quyền rao truyền phúc âm đang chuyển giao quyền năng của Đức Chúa Trời để mang đến sự sống của Đấng Christ cho người tin

 

.

2

Khải Thị Thần Thượng Là Gì?

NHU CẦU NHẬN KHẢI THỊ TỪ ĐỨC CHÚA TRỜI

 

CON NGƯỜI là những sinh vật có xu hướng thờ phượng một chủ thể nào đó. Chúng ta sống theo một niềm tin nào đó cách vô thức, nhưng không thể chứng minh được thông qua nghiên cứu thực nghiệm hay lý trí của con người.

Nhà triết học người Đức Immanuel Kant (1724-1804) đã chỉ ra rằng tâm trí con người chắc chắn đặt ra những câu hỏi về đời sống  tôn giáo, và rồi tìm ra những câu trả lời không thể được chứng minh. Ông viết rằng “tất cả những điều tôi muốn biết kết hợp trong ba câu hỏi sau: (1) Tôi có thể biết gì? (2) Tôi phải làm gì? (3) Tôi có thể hy vọng điều gì?” Ông cũng viết, “lý trí của con người không ngừng tiến bộ, được thúc giục bởi cảm giác cần thiết của chính nó, hướng tới những câu hỏi, nhưng không được trả lời bằng bất kỳ ứng dụng thực nghiệm nào, hoặc các nguyên tắc bắt nguồn từ đó; và vì vậy đã từng tồn tại trong mọi người một số hệ thống siêu hình về tôn giáo.” Bằng một hệ thống siêu hình tôn giáo, ông muốn nói đến nỗ lực tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi của con người mà không thể tìm thấy thông qua bất kỳ nghiên cứu khoa học nào về bản thân và vũ trụ.

Tại sao ngoài một sự mặc khải có thẩm quyền cho chúng ta, chúng ta có thể biết rõ câu trả lời cho những câu hỏi chắc chắn nảy sinh trong tâm trí con người? Hai câu trả lời được đưa ra cho câu hỏi đó. Thứ nhất, tầm nhìn của chúng ta rất hạn chế. Điều chắc chắn là không có ai ở xung quanh Đấng tạo hóa khi thế giới được tạo dựng hoặc khi tổ phụ loài người xuất hiện. Chúng ta không thể nắm được toàn bộ lịch sử loài người. Mỗi người chúng ta chỉ điền vào một điểm nhỏ trong một chuỗi dài của lịch sử. Chúng ta giống như những người diễu hành trong một cuộc diễu hành dài. Chúng ta có thể xem và hiểu điều gì đó của những người chung quanh, nhưng không thể biết mô hình của toàn bộ cuộc diễu hành. Chúng ta không biết toàn bộ chương trình như thế nào từ điểm đầu tiên đến điểm cuối cùng của nó.

Thứ hai, sự hiểu biết của con người bị tội lỗi cản trở. Những người không tin Chúa rơi vào tình trạng này: “sự ngu muội ở trong họ, và vì lòng họ cứng cỏi nên trí khôn tối tăm, xa cách sự sống của Đức Chúa Trời” (Ê-phê-sô 4:18) và “họ dẫu biết Đức Chúa Trời, mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa; song cứ lầm lạc trong lý tưởng hư không, và lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm” ‘(Rô-ma 1:21). Điều này không có nghĩa là họ đã mất khả năng suy luận. Thay vào đó, hiểu biết của lý trí hoặc điều người ta tin là đúng thường bị tội lỗi bóp méo và do đó dẫn đến kết luận sai lầm.

Tất cả chúng ta đang hợp lý hóa các hành vi cá nhân. Có nghĩa là, tất cả chúng ta đều có xu hướng biện minh cho những gì chúng ta làm để hợp lý hóa hành động của mình. Nếu chúng ta không muốn sống theo lẽ thật, chúng ta cố gắng tìm những lý do hỗ trợ cho hành vi của chúng ta. Vì vậy, lý trí của chúng ta không phải là một khả năng  trung lập mà chúng ta sử dụng để tìm kiếm chân lý khách quan. Nó là một phương tiện mà mọi người cố gắng hỗ trợ cho những mong muốn của họ.

 

Một trong những câu hỏi thú vị và khó hiểu nhất chứng tỏ nhu cầu mặc khải này là về bản sắc của chính chúng ta với tư cách là con người. Câu hỏi “Con người là gì?” là một câu hỏi quan trọng? Câu hỏi này bắt nguồn từ khả năng của con người vượt lên trên hoặc đứng trên hoặc ngoài những thứ khác, thậm chí cả thế giới, và biến họ thành đối tượng quan sát và nghiên cứu có ý thức. Bây giờ nếu chúng ta đứng ngoài những điều này, nhìn vào con người trong tâm trí của chúng ta, rõ ràng là chúng ta không thể rút ra được ý nghĩa đầy đủ của sự tồn tại của con người. Đối với tư cách là những người quan sát, chúng ta không nằm trong những gì chúng ta đang quan sát.

Chúng ta cũng không thể đạt được ý nghĩa của sự tồn tại của mình bằng cách tự nghiên cứu. Vì khi làm như vậy, luôn có một phần của chúng ta không phải là “đối tượng”, vì đồng thời phải có một phần của chúng ta là “chủ thể” thực hiện quan sát. Nói một cách khác, trong sự tự ý thức luôn có một cái “tôi” đang thực hiện việc quan sát cũng như một cái “tôi” được quan sát. Chúng ta có thể xem xét bản thân của mình và sau đó trong trí tưởng tượng của chúng ta nhìn thấy bản thân đang nhìn lại chính mình. Và nếu chúng ta tiếp tục điều này, chúng ta có thể thấy cái tôi đang nhìn vào cái tôi mà đến lượt nó cũng đang nhìn vào cái tôi. Vấn đề là bất kể chúng ta tiến hành quá trình này bao lâu, luôn có một “cái tôi quan sát” mà chúng ta không thể quan sát được. Vì vậy, có một chiều không gian của chúng ta không bao giờ có thể là đối tượng quan sát của chúng ta. Luôn có một chiều không gian đứng bên ngoài mọi suy nghĩ của chúng ta, đó là chủ thể thực hiện suy nghĩ. Đối tượng này là ai? Trừ khi ai đó nói cho chúng ta biết chúng ta thực sự là ai, chúng ta sẽ không bao giờ có thể biết được con người thật của mình.

Trong Thi thiên 8:4, trước giả hỏi: “Loài người là gì, mà Chúa nhớ đến?

Con loài người là chi, mà Chúa thăm viếng nó?” Trước giả đang băn khoăn về vị trí của con người, mỗi người là một hạt bụi bé nhỏ, so với độ lớn và vẻ lộng lẫy của những tầng trời đầy sao ở trên. Trước giả Thi thiên tìm thấy câu trả lời không nằm trong việc nghiên cứu tự nhiên hay triết học, mà chỉ ở Đức Chúa Trời là Đấng đã tiết lộ rằng Ngài nghĩ đến và quan tâm đến ông, và đã ban cho ông quyền cai trị đối với các tạo vật. Nếu không có mối quan hệ này với Đức Chúa Trời, trước giả sách Thi thiên sẽ không bao giờ biết về vị trí của mình trong thế giới.

Nhiều người đã mất niềm tin vào lý trí của con người để cung cấp câu trả lời cho những câu hỏi quan trọng. Đối với những người từ chối Chúa trong thời kỳ hậu hiện đại, đơn giản là không có câu trả lời, không có lẽ thật tuyệt đối. Họ nói rằng mỗi chúng ta phải quyết định lẽ thật cho chính mình. Đối với họ, con người không thể trả lời những câu hỏi tối quan trọng của cuộc sống bằng bất kỳ lẽ thật tuyệt đối khách quan nào. Theo Plato, con người “được dạy hoặc tìm ra chân lý ở đâu, hoặc nếu không thể, ít nhất là tiếp thu một học thuyết nhân văn tốt nhất có thể và khó bác bỏ nhất, và đi trên đó như một chiếc bè vượt qua biển đời đồng thời chấp nhận rủi ro; trừ khi anh ta có một chiếc tàu đủ khả năng đi biển nhanh hơn để chở anh ta an toàn hơn và ít nguy hiểm hơn, một giáo lý thần thánh nào đó sẽ đưa anh ta vượt qua những vấn đề của đời sống, của linh hồn.” Thật đúng! Những gì chúng ta cần là “một số giáo lý thần thánh” hoặc như một người khác nói cần “lời của Chúa.” Hay nói rõ hơn là cần sự mặc khải từ Đức Chúa Trời.

Nhưng liệu có hợp lý để tin rằng có một lời mặc khải từ Thiên Chúa như vậy? Đúng. Cả bản chất của loài người và bản chất của Đức Chúa Trời đều khiến chúng ta mong đợi một sự mặc khải như vậy.

Những câu hỏi dai dẳng của tâm trí con người liên quan đến linh hồn cho rằng có một cõi đời đời tồn tại. Chắc hẳn ai cũng không thể ngờ rằng Đấng Tạo Hóa tạo ra chúng ta để chúng ta có những câu hỏi này về sự tồn tại của mình và sau đó tìm kiếm câu trả lời. Ngay cả sự tiến hóa theo chủ nghĩa tự nhiên cũng lập luận rằng có một thứ gì đó trong môi trường duy trì một đặc tính tiến hóa mới, hoặc nếu không, tính mới đó không được giữ lại và không còn tồn tại. Thực tế là mọi người có những câu hỏi này và tiếp tục tranh luận ngay cả trên cơ sở tiến hóa rằng có một thứ gì đó trong môi trường của chúng ta cung cấp câu trả lời cho những câu hỏi này mà chúng ta không thể tìm ra câu trả lời trong chính chúng ta hoặc trong thế giới được tạo ra.

 

Khi chúng ta cũng nghĩ về bản chất của Đức Chúa Trời, điều hợp lý là mong đợi Ngài bày tỏ chính Ngài cho chúng ta. Mọi sinh vật thông minh mà chúng ta biết đều mong muốn được giao tiếp với người khác và khiến bản thân được mọi người biết đến. Do đó, có lý khi cho rằng một Đức Chúa Trời cao cả, đặc biệt là một Đức Chúa Trời của tình yêu thương, muốn giao tiếp với người khác. Điều này càng hợp lý hơn khi chúng ta xem xét lời dạy trong Kinh Thánh rằng con người được tạo ra theo hình ảnh của Đức Chúa Trời và có mong muốn được tương giao với Ngài. Chắc chắn rằng Đức Chúa Trời yêu thương sẽ đáp ứng nhu cầu của các tạo vật của Ngài, đặc biệt là những nhu cầu mà Ngài đã gieo trồng trong họ. Vậy thì, nếu chúng ta cho rằng một sự mặc khải từ Đức Chúa Trời là điều chúng ta mong đợi — với bản chất của con người và của Đức Chúa Trời — thì một sự mặc khải như vậy có thể thực hiện được không? Liệu một Đức Chúa Trời vô hạn có thể giao tiếp với những con người là sinh vật hữu hạn không? Có thể.

Một số người đã lập luận rằng chúng ta chỉ có thể biết một sinh vật tương ứng với bản chất của chúng ta, và do đó chúng ta không thể biết Đức Chúa Trời là Đấng hoàn toàn khác. Đúng như vậy, Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh được trình bày như Đấng không thể so sánh được với bất cứ đối tượng nào. Đức Chúa Trời đã tuyên bố, “Vậy thì các ngươi sánh ta cùng ai? Ai sẽ bằng ta” (Ê-sai 40:25). Nhưng trong tất cả sự khác biệt của Ngài, Ngài đã tạo ra con người theo hình ảnh của Ngài (Sáng. 1:26), và con người được bao gồm trong hình ảnh này là khả năng giao tiếp cá nhân. Chắc chắn món quà này sẽ được sử dụng đầu tiên trong việc giao tiếp với Đấng Tạo Hóa. Đề cao sự vĩ đại của Đức Chúa Trời và sau đó hạn chế khả năng của Ngài trong việc tạo ra một tạo vật mà Ngài có thể giao tiếp là điều khá vô lý. Đấng đã cho chúng ta đôi mắt để thấy, đôi tai để nghe và một bộ óc để hiểu chắc chắn có thể sử dụng những khả năng tương tự của chúng ta để giao tiếp với chúng ta.

Chúng ta cần một lời từ Thiên Chúa, và Ngài đã đáp ứng nhu cầu đó. Đây là sự tìm thấy của Cơ đốc giáo. Đó là một tôn giáo “được tiết lộ”, tức là một tôn giáo dựa trên những lời từ Đức Chúa Trời. Rõ ràng tất cả những triết lý sống được xây dựng trên thuyết vô thần hay thuyết bất khả tri đều do tư tưởng của con người nghĩ ra. Cố gắng khám phá ra Đấng tối cao (1) bằng lý trí của con người, hoặc (2) bằng kinh nghiệm thần bí nào đó là bất khả thi. Kết quả là trong cả hai trường hợp này vẫn chỉ là kiến ​​thức của con người về một Đấng chủ tể tối thượng.

 

 

Ý NGHĨA CỦA KHẢI THỊ

Sự mặc khải là gì? Có phải tất cả tri thức của con người được mặc khải có nghĩa là con người khám phá ra thực tại? Sự mặc khải của Đức Chúa Trời chỉ đơn giản là sự khám phá và kinh nghiệm của con người về Đức Chúa Trời hay là một điều gì đó hơn thế nữa? Có bằng chứng nào cho thấy Đức Chúa Trời đã tiết lộ sự thật cho con người theo một cách siêu nhiên không?

Lẽ thật về sự mặc khải

Ý tưởng về việc Đức Chúa Trời làm cho nhân loại biết đến chính Ngài thông qua các hành động hoặc lời mặc khải tràn ngập trong Kinh thánh. Những người trong Kinh thánh tuyên bố biết Đức Chúa Trời và lẽ thật của Ngài vì Ngài đã bày tỏ điều đó cho họ như những câu sau đây minh họa.

  • Những sự bí mật thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta; song những sự bày tỏ thuộc về chúng ta, và con cháu chúng ta đời đời, để chúng ta làm theo mọi lời của luật pháp nầy. (Phục truyền 29:29)
  • Cũng vậy, Chúa Giê-hô-va chẳng có làm một việc gì mà Ngài chưa tỏ sự kín nhiệm Ngài ra trước cho tôi tớ Ngài, là các đấng tiên tri. (A-mốt 3: 7)
  • Đức Chúa Trời đã dùng Đức Thánh Linh để bày tỏ những sự đó cho chúng ta, vì Đức Thánh Linh dò xét mọi sự, cả đến sự sâu nhiệm của Đức Chúa Trời nữa. (1 Cô 2:10)
  • Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách, rồi đến những ngày sau rốt nầy, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài, là Con mà Ngài đã lập lên kế tự muôn vật, lại bởi Con mà Ngài đã dựng nên thế gian. (Hê 1:1-2)

Từ “khải thị” trong tiếng Anh bắt nguồn từ tiếng Latin là revelatio (“mở ra” hoặc “để trần”), được Jerome sử dụng trong bản Kinh Thánh Vulgate bằng tiếng Latin (là một phiên bản Kinh thánh được soạn vào thế kỷ thứ tư và được giáo hội ưa chuộng.) Các thuật ngữ chính trong Kinh thánh biểu thị sự mặc khải là apokalypto (tiếng Hy Lạp) trong Tân ước; và gala (tiếng Hebrew) trong Cựu ước. Cả hai động từ này đều có ý nghĩa là “khám phá, tiết lộ,” và được sử dụng để tiết lộ sự thật thiêng liêng mà trước đây bị che giấu. Những từ liên quan đến động từ này nói về người đã nhận được sự mặc khải là một “người tiên kiến.”

Các thuật ngữ Hy Lạp khác trong Kinh văn đề cập đến khải thị/mặc khải là “làm cho hiển thị” (phaneroo), “xuất hiện” (epiphaneia), và “chỉ ra hoặc làm cho được biết” (deiknymi). Ngoài những từ gợi ý tiết lộ điều gì đó hoặc làm cho điều gì đó được biết đến, các thuật ngữ khác như “lời của Chúa” và “luật pháp” hoặc “sự hướng dẫn” của Đức Chúa Trời chỉ ra kết quả của sự mặc khải thiên thượng. Kết hợp một số từ này lại với nhau chúng ta thấy rằng ý tưởng về sự mặc khải của Đức Chúa Trời đã lan tỏa khắp Kinh Thánh.

Vấn đề hiện đại của sự mặc khải

Nhu cầu của con người đối với sự mặc khải từ Đức Chúa Trời và thực tế được Đức Chúa Trời yêu thương cung cấp điều đó được dạy rõ ràng trong Kinh thánh. Nhưng chính xác thì sự mặc khải là gì, và nó diễn ra như thế nào?

Sự hiểu biết của các Cơ đốc nhân đầu tiên về sự mặc khải. Ngay từ những ngày đầu tiên của Hội thánh, các Cơ đốc nhân, giống như những thánh đồ trong thời Cựu ước, đã hiểu rằng sự mặc khải có nghĩa là Đức Chúa Trời làm cho chính Ngài, quyền năng của Ngài và lẽ thật của Ngài được mọi người biết đến. Điều này đã diễn ra theo một số cách. Nhưng mục đích là đưa các cá nhân đến một mối quan hệ cứu rỗi với Đức Chúa Trời, trong đó có sự giao tiếp nhận thức về lẽ thật. Nhiều hoạt động trong lịch sử mà qua đó Ngài đã bày tỏ chính Ngài cho dân sự  và gọi họ vào mối quan hệ cứu rỗi với Ngài đã được viết ra và được gọi là các bản văn thiêng liêng – Kinh thánh.

Sau đó, Kinh thánh không chỉ là một bản ghi chép về hoạt động mặc khải; chính nó là sự mặc khải, nó là Lời Đức Chúa Trời. Tất nhiên, những tín hữu trong hội thánh đầu tiên luôn nhận ra rằng chúng ta không thể biết tất cả những gì cần biết về Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, họ tin rằng Ngài đã tiết lộ một số thông tin về chính Ngài, sự sáng tạo của Ngài, ý muốn và mục đích của Ngài — đặc biệt là kế hoạch cứu rỗi. Trong những thế kỷ đầu, có một số bất đồng về việc các tác phẩm nên được đưa vào danh mục “Kinh thánh”, và cũng như cách giải thích một số phần của nó. Nhưng không có sự bất đồng nào về bản chất của Kinh thánh là Lời – sự mặc khải – của Đức Chúa Trời.

Vào thời Trung cổ, giáo hội bắt đầu coi việc giải thích Kinh Thánh có thẩm quyền là sự mặc khải cùng với chính Kinh Thánh. Giáo hội Công giáo La Mã nói rằng chỉ có giáo hội mới có thể giải thích Kinh Thánh một cách có thẩm quyền. Vì vậy, giáo lý của giáo hội được xem như là điều mặc khải cùng với Kinh thánh. Tuy nhiên, điều này đã không thay đổi cách hiểu truyền thống về Kinh thánh là Lời mặc khải của Đức Chúa Trời. Những người Cải chánh bác bỏ ý tưởng về sự mặc khải bổ sung của Công giáo.

 

Ý NGHĨA CỦA KHẢI THỊ

Sự mặc khải là gì? Có phải tất cả tri thức của con người được mặc khải có nghĩa là con người khám phá ra thực tại? Sự mặc khải của Đức Chúa Trời chỉ đơn giản là sự khám phá và kinh nghiệm của con người về Đức Chúa Trời hay là một điều gì đó hơn thế nữa? Có bằng chứng nào cho thấy Đức Chúa Trời đã tiết lộ sự thật cho con người theo một cách siêu nhiên không?

Lẽ thật về sự mặc khải

Ý tưởng về việc Đức Chúa Trời làm cho nhân loại biết đến chính Ngài thông qua các hành động hoặc lời mặc khải tràn ngập trong Kinh thánh. Những người trong Kinh thánh tuyên bố biết Đức Chúa Trời và lẽ thật của Ngài vì Ngài đã bày tỏ điều đó cho họ như những câu sau đây minh họa.

  • Những sự bí mật thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta; song những sự bày tỏ thuộc về chúng ta, và con cháu chúng ta đời đời, để chúng ta làm theo mọi lời của luật pháp nầy. (Phục truyền 29:29)
  • Cũng vậy, Chúa Giê-hô-va chẳng có làm một việc gì mà Ngài chưa tỏ sự kín nhiệm Ngài ra trước cho tôi tớ Ngài, là các đấng tiên tri. (A-mốt 3: 7)
  • Đức Chúa Trời đã dùng Đức Thánh Linh để bày tỏ những sự đó cho chúng ta, vì Đức Thánh Linh dò xét mọi sự, cả đến sự sâu nhiệm của Đức Chúa Trời nữa. (1 Cô 2:10)
  • Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách, rồi đến những ngày sau rốt nầy, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài, là Con mà Ngài đã lập lên kế tự muôn vật, lại bởi Con mà Ngài đã dựng nên thế gian. (Hê 1:1-2)

Từ “khải thị” trong tiếng Anh bắt nguồn từ tiếng Latin là revelatio (“mở ra” hoặc “để trần”), được Jerome sử dụng trong bản Kinh Thánh Vulgate bằng tiếng Latin (là một phiên bản Kinh thánh được soạn vào thế kỷ thứ tư và được giáo hội ưa chuộng.) Các thuật ngữ chính trong Kinh thánh biểu thị sự mặc khải là apokalypto (tiếng Hy Lạp) trong Tân ước; và gala (tiếng Hebrew) trong Cựu ước. Cả hai động từ này đều có ý nghĩa là “khám phá, tiết lộ,” và được sử dụng để tiết lộ sự thật thiêng liêng mà trước đây bị che giấu. Những từ liên quan đến động từ này nói về người đã nhận được sự mặc khải là một “người tiên kiến.”

Các thuật ngữ Hy Lạp khác trong Kinh văn đề cập đến khải thị/mặc khải là “làm cho hiển thị” (phaneroo), “xuất hiện” (epiphaneia), và “chỉ ra hoặc làm cho được biết” (deiknymi). Ngoài những từ gợi ý tiết lộ điều gì đó hoặc làm cho điều gì đó được biết đến, các thuật ngữ khác như “lời của Chúa” và “luật pháp” hoặc “sự hướng dẫn” của Đức Chúa Trời chỉ ra kết quả của sự mặc khải thiên thượng. Kết hợp một số từ này lại với nhau chúng ta thấy rằng ý tưởng về sự mặc khải của Đức Chúa Trời đã lan tỏa khắp Kinh Thánh.

Vấn đề cần cập nhật của sự mặc khải

Nhu cầu của con người đối với sự mặc khải từ Đức Chúa Trời và thực tế được Đức Chúa Trời yêu thương cung cấp điều đó được dạy rõ ràng trong Kinh thánh. Nhưng chính xác thì sự mặc khải là gì, và nó diễn ra như thế nào?

Sự hiểu biết của các Cơ đốc nhân đầu tiên về sự mặc khải. Ngay từ những ngày đầu tiên của Hội thánh, các Cơ đốc nhân, giống như những thánh đồ trong thời Cựu ước, đã hiểu rằng sự mặc khải có nghĩa là Đức Chúa Trời làm cho chính Ngài, quyền năng của Ngài và lẽ thật của Ngài được mọi người biết đến. Điều này đã diễn ra theo một số cách. Nhưng mục đích là đưa các cá nhân đến một mối quan hệ cứu rỗi với Đức Chúa Trời, trong đó có sự giao tiếp nhận thức về lẽ thật. Nhiều hoạt động trong lịch sử mà qua đó Ngài đã bày tỏ chính Ngài cho dân sự  và gọi họ vào mối quan hệ cứu rỗi với Ngài đã được viết ra và được gọi là các bản văn thiêng liêng – Kinh thánh.

Sau đó, Kinh thánh không chỉ là một bản ghi chép về hoạt động mặc khải; chính nó là sự mặc khải, nó là Lời Đức Chúa Trời. Tất nhiên, những tín hữu trong hội thánh đầu tiên luôn nhận ra rằng chúng ta không thể biết tất cả những gì cần biết về Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, họ tin rằng Ngài đã tiết lộ một số thông tin về chính Ngài, sự sáng tạo của Ngài, ý muốn và mục đích của Ngài — đặc biệt là kế hoạch cứu rỗi. Trong những thế kỷ đầu, có một số bất đồng về việc các tác phẩm nên được đưa vào danh mục “Kinh thánh”, và cũng như cách giải thích một số phần của nó. Nhưng không có sự bất đồng nào về bản chất của Kinh thánh là Lời – sự mặc khải – của Đức Chúa Trời.

Vào thời Trung cổ, giáo hội bắt đầu coi việc giải thích Kinh thánh có thẩm quyền là sự mặc khải cùng với chính Kinh thánh. Giáo hội Công giáo La Mã nói rằng chỉ có giáo hội mới có thể giải thích Kinh thánh một cách có thẩm quyền. Vì vậy, giáo lý của giáo hội được xem như là điều mặc khải cùng với Kinh thánh. Tuy nhiên, điều này đã không thay đổi cách hiểu truyền thống về Kinh thánh là Lời mặc khải của Đức Chúa Trời. Những người Cải chánh bác bỏ ý tưởng về sự mặc khải bổ sung của Công giáo.

Quan điểm hiện đại về sự mặc khải. Ngày nay nhiều người không còn giữ quan điểm lịch sử về sự mặc khải này nữa. Sự thay đổi quan điểm này là kết quả của sự thay đổi rộng rãi tư duy trong thế giới phương Tây bắt đầu từ thế kỷ mười bảy với cái gọi là Thời đại Lý trí (là thời đại mà con người cho rằng mình có khả năng phân biệt giữa đúng và sai) và nở rộ trong “Thời kỳ Khai sáng” ở Đức vào thế kỷ mười tám.

Immanuel Kant nói rằng “Sự khai sáng là con người bỏ đi sự non nớt của bản thân. Sự non nớt là việc không có khả năng sử dụng trí thông minh của bản thân nếu không có sự hướng dẫn của người khác …. Vì vậy, có can đảm để sử dụng trí thông minh của mình là phương châm của thời đại Khai sáng.”

Phong trào khai sáng được đặc trưng bởi ba khái niệm. Đầu tiên, các nhà lãnh đạo Khai sáng từ chối quyền lực bên ngoài, dù là Kinh thánh, giáo hội hay nhà nước – bởi vì con người, theo họ nói, không nên bị ràng buộc bởi những phong tục và tín ngưỡng cổ xưa. Thứ hai, số phận con người nằm ở sự tiến bộ, dựa trên niềm tin rằng thiên nhiên và con người về cơ bản là tốt. Thứ ba, kiến ​​thức về Chúa và chân lý tôn giáo cuối cùng có thể đạt được thông qua lý trí của con người. Đây là một quan điểm về cơ bản khiến mặc khải thiên thượng trở nên không cần thiết.

Niềm tin lạc quan vào lý trí của con người là đặc điểm xác định của thời đại hiện đại, bắt đầu từ thời kỳ Khai sáng.

Chủ nghĩa hậu hiện đại ngày nay được đánh dấu bằng sự mất niềm tin vào lý trí của con người để mang lại điều không tưởng mà khoa học đã hứa hẹn. Trọng tâm của các nhà lãnh đạo cấp tiến của phong trào này là bác bỏ hoàn toàn mọi lẽ thật khách quan. Mặc dù coi tất cả lẽ thật của con người là tương đối có điều kiện về mặt văn hóa và lịch sử, chủ nghĩa hiện đại vẫn coi trọng một thực tại khách quan và chân lý cuối cùng, có thể được theo đuổi và ngày càng hiện thực hóa vì lợi ích của nhân loại. Mặt khác, chủ nghĩa hậu hiện đại phủ nhận thực tại của một chân lý tối thượng và do đó bác bỏ việc theo đuổi nó.  Chủ nghĩa này chủ trương rằng không có chân lý phổ quát nào để tìm kiếm; mỗi người phải tự tạo ra chân lý cho chính mình.

 

Cách tiếp cận lý trí của thời kỳ Khai sáng đã tác động đến một số nhà tư tưởng Cơ đốc giáo. Họ cảm thấy rằng thần học tiền Khai sáng không còn khả thi nữa. Nếu Cơ đốc giáo có liên quan và có ý nghĩa đối với con người ngày nay, thì bằng cách nào đó, nó phải phù hợp với sự nhấn mạnh mới về giá trị của chủ nghĩa duy lý đối với việc đạt được chân lý. Do đó, nhiều nhà thần học Cơ đốc đã nghĩ ra những cách mới để giải thích khái niệm mặc khải và bản chất của Kinh thánh.

Một số người nói rằng sự mặc khải đến thông qua kinh nghiệm chủ quan của con người. Sự lạc quan về khả năng lý trí của con người đã khiến một số người phủ nhận tất cả sự mặc khải đặc biệt. Rõ ràng đây là điều mà chúng ta khó có thể chấp nhận.

KẾT LUẬN

Sự mặc khải của Đức Chúa Trời đến với chúng ta như thế nào là một trong những câu hỏi thần học cơ bản nhất. Vì chỉ với sự mặc khải từ Đức Chúa Trời, chúng ta mới có thể tìm thấy câu trả lời có thẩm quyền cho bất kỳ câu hỏi thần học nào. Những tác động tàn khốc của việc các trào lưu hiện đại phủ nhận mặc khải khách quan từ Thiên Chúa thể hiện rõ ràng trong sự nhầm lẫn về niềm tin và đạo đức của nhiều người ngày nay. Chỉ bằng cách chấp nhận sự dạy dỗ trong Kinh thánh mà Đấng Tạo hóa yêu thương của chúng ta đã bày tỏ rõ ràng về chính Ngài và ý muốn của Ngài cho chúng ta trong sự mặc khải khác biệt với kinh nghiệm của chúng ta, chúng ta mới có thể tìm thấy câu trả lời thỏa mãn cho những câu hỏi của con người.

 

3

Sự Khải Thị Phổ Quát Là Gì?

Theo một nghĩa nào đó, chủ đề của Kinh Thánh là thực tế về sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời làm cho chính Ngài được nhận biết để chúng ta là những tạo vật thông minh của Ngài có thể hiểu biết Ngài và thiết lập mối liên hệ cá nhân với Ngài. Bởi vì Đức Chúa Trời là Đấng sáng tạo và bảo tồn hoàn vũ. Các tạo vật tự làm chứng về lẽ thật này. Do đó, Kinh Thánh mô tả sự khải thị của Đức Chúa Trời thông qua những con đường – có thể được phân loại là sự mặc khải phổ quát và sự mặc khải đặc biệt. Sự mặc khải chung hay khải thị phổ quát thì luôn có sẵn cho tất cả mọi người trong suốt mọi thời đại. Còn sự khải thị đặc biệt là khải thị mà Đức Chúa Trời ban cho những con người cụ thể trong một thời gian đặc biệt. Những phạm trù này đôi khi được dán nhãn tương ứng là mặc khải “tự nhiên” và “siêu nhiên”, cho thấy rằng mặc khải phổ quát được truyền đạt thông qua các hiện tượng tự nhiên trong khi mặc khải đặc biệt được truyền đạt thông qua sự can thiệp siêu nhiên. Cả hai hình thức mặc khải này được đề cập trong Thi thiên 19. Đa-vít viết, “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời,

Bầu trời giãi tỏ công việc tay Ngài làm.

Ngày nầy giảng cho ngày kia,

Đêm nầy tỏ sự tri thức cho đêm nọ.

Chẳng có tiếng, chẳng có lời nói;

Cũng không ai nghe tiếng của chúng nó.

Dây đo chúng nó bủa khắp trái đất,

Và lời nói chúng nó truyền đến cực địa.

Nơi chúng nó Ngài đã đóng trại cho mặt trời” (câu 1-4)

Các câu này bày tỏ rằng các tạo vật bày tỏ ra sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Đa-vít cũng viết, “Luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại; Sự chứng cớ Đức Giê-hô-va là chắc chắn, làm cho kẻ ngu dại trở nên khôn ngoan.  Giềng mối của Đức Giê-hô-va là ngay thẳng, làm cho lòng vui mừng; Điều răn của Đức Giê-hô-va trong sạch, làm cho mắt sáng sủa.  Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là trong sạch, hằng còn đến đời đời; Các mạng lịnh của Đức Giê-hô-va là chân thật, thảy đều công bình cả.  Các điều ấy quí hơn vàng, thật báu hơn vàng ròng; Lại ngọt hơn mật, hơn nước ngọt của tàng ong.  Các điều ấy dạy cho kẻ tôi tớ Chúa được thông hiểu;

Ai gìn giữ lấy, được phần thưởng lớn thay.” (câu 7-11) Trong những câu này tác giả đề cập đến những giá trị của “luật pháp Đức Giê-hô-va.”

CÁC HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG CỦA KHẢI THỊ PHỔ QUÁT

Kinh Thánh dạy rằng Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài cho tất cả mọi người xuyên qua các công trình sáng tạo kỳ diệu của Ngài và đặc biệt là xuyên qua con người của chúng ta. Nhận thức về thế giới và vũ trụ mênh mông rộng lớn vượt quá tầm hiểu biết của chúng ta chắc chắn sẽ gợi lên câu hỏi, “tất cả những điều này đến từ đâu?” Cho đến nay những nhà tư tưởng suy ngẫm về câu hỏi đó đã luôn trả lời rằng chúng đến bởi Đức Chúa Trời. Chính sự tồn tại của vũ trụ đòi hỏi một “nguyên nhân” cuối cùng – phải có một Đấng sáng tạo. Tất cả sự hài hòa, phức hợp của toàn thể vũ trụ chỉ chúng ta đến với một Đấng thiết kế vô cùng khôn ngoan.

Sự trỗi dậy của chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa duy vật, cả hai đều phủ nhận những gì thuộc về siêu nhiên, đã ảnh hưởng đến một số người khiến họ phủ nhận sự tồn tại của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên những bằng chứng từ công trình sáng tạo thuyết phục chúng ta nhận biết sự thực hữu của Ngài. Thuyết Big Bang phổ biến về nguồn gốc của vũ trụ chỉ ra sự khởi đầu và vô hình trung chỉ về một Đấng Sáng tạo. Các thiết kế phức hợp và phức tạp trong tự nhiên ngày càng đưa ra bằng chứng về việc có một Nhà thiết kế cực kỳ thông minh cho cả vũ trụ này.

Tất cả những sự bày tỏ trên đây khiến cho Henry Wadsworth Longfellow đã viết, “Thế giới tự nhiên là sự mặc khải về Đức Chúa Trời; nghệ thuật là sự bày tỏ về con người.” Những công việc  của cá nhân bày tỏ ra khả năng của người đó, vì vậy toàn thể vũ trụ phô bày ra các thuộc tính của Đức Chúa Trời. “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời,

Bầu trời giãi tỏ công việc tay Ngài làm.”

(Thi thiên 19:1)

“Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” đề cập đến chính bản chất của Đức Chúa Trời được hiển hiện. Đây là sự phô bày các đặc tánh của Ngài.

 

Phao-lô viết rằng thế giới tự nhiên bày tỏ ra các thuộc tính của Thiên Chúa. Khi giảng dạy cho những người mà không nhận được bất kỳ sự mặc khải đặc biệt nào, ông nói, “Vì điều chi có thể biết được về Đức Chúa Trời thì đã trình bày ra cho họ, Đức Chúa Trời đã tỏ điều đó cho họ rồi, bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên họ không thể chữa mình được, vì họ dẫu biết Đức Chúa Trời, mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa; song cứ lầm lạc trong lý tưởng hư không, và lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm.” (Rô-ma 1:19-21)

Sự sáng tạo của Đức Chúa Trời bày tỏ “quyền năng đời đời” và “bản chất thần thánh” – các phẩm chất này bày tỏ Ngài là Đức Chúa Trời và Ngài xứng đáng để các tạo vật thờ phượng. Mặc dù Ngài không phải là một phần của tự nhiên, như một số tôn giáo khẳng định, và mặc dù Ngài vô hình, nhưng Đức Chúa Trời vẫn được bày tỏ trong công việc của Ngài. Chúng mang dấu ấn của Ngài rõ ràng đến nỗi không ai có thể thoát khỏi sự thật về sự tồn tại của Ngài. Richard Wurmbrand (1909-2001), một người nổi tiếng về sự chịu khổ vì Phúc âm trong tư cách là một nhà truyền giáo dưới chế độ cộng sản tại đất nước Romania, ông đã kể một cuộc đối thoại của cặp vợ chồng người Nga là những nhà điêu khắc và đã được dạy cả đời rằng không có Chúa sau đây:

Một lần nọ, chúng tôi thực hiện việc điêu khắc pho tượng của Stalin, vợ tôi hỏi: “Chồng ơi, ngón tay cái thế nào? Nếu chúng ta không thể đối lập ngón tay cái với các ngón tay khác – nếu các ngón tay của bàn tay giống như ngón chân – chúng ta không thể cầm một cái búa, một cái vồ, một cuốn sách, một mẩu bánh mì hay bất kỳ dụng cụ nào. Cuộc sống của con người sẽ là cực kỳ khó khăn nếu không có ngón tay cái nhỏ bé này. Nào, ai đã tạo ra ngón tay cái? Cả hai chúng ta được học về chủ nghĩa Mác ở trường dạy rằng bầu trời và mặt đất tự nhiên mà có. Chúng không phải là tạo vật của Thiên Chúa. Tôi học như thế và được bảo phải tin như thế. Nhưng nếu Thiên Chúa không sáng tạo bầu trời và mặt đất, và Ngài chỉ tạo ra ngón tay cái mà thôi, thì Ngài cũng sẽ đáng được ca ngợi vì điều nhỏ bé này.

Chúng ta ca ngợi Edison, Bell và Stephenson là những người phát minh ra bóng đèn điện, điện thoại, đường ray xe lửa và những điều khác. Nhưng tại sao chúng ta không ca ngợi người làm ra ngón tay cái? Nếu Edison không có ngón tay cái, liệu ông ta có phát minh ra được thứ gì không? Vậy nên điều đúng đắn là thờ phượng Thiên Chúa là Đấng làm nên ngón tay cái.

Ông chồng nghe vợ nói và trở nên rất giận dữ… “Đừng nói cách ngu muội. Bà đã được dạy rằng không có Đức Chúa Trời. Bà không biết là ngôi nhà chúng ta có bị nghe trộm hay sao, chúng ta sẽ có thể gặp vào rắc rối với những lời nói của bà. Hãy ghi nhớ một lần và mãi mãi rằng không có Thiên Chúa. Ở trên thiên đường không có ai cả.”

Người vợ trả lời, “Đây là một điều ngạc nhiên hơn nữa. Nếu trên thiên đàng có Đức Chúa Trời toàn năng mà tổ tiên chúng ta tin tưởng trong sự ngu ngốc, và điều tự nhiên là chúng ta có những ngón tay cái. Đức Chúa Trời toàn năng có thể làm được mọi điều, vì vậy Ngài có thể tạo ra ngón tay cái nữa. Nhưng nếu trên thiên đàng không có ai, thì đối với tôi, tôi quyết định tôn thờ hết cả tấm lòng mình với “Không có ai” là người đã tạo ra ngón tay cái.

Bạn nghĩ sao về câu chuyện này?

Ngay cả các quá trình liên tục của tự nhiên để duy trì sự sống và hoạt động cũng cung cấp bằng chứng về sự hiện diện của Đức Chúa Trời.  “Ngài cứ làm chứng luôn về mình, tức là giáng phước cho, làm mưa từ trời xuống, ban cho các ngươi mùa màng nhiều hoa quả, đồ ăn dư dật, và lòng đầy vui mừng.” (Công vụ 14:17, cũng xem 17:24-27). Chúng ta thường gọi các thảm họa là “hành động của Chúa” nhưng các sứ đồ công bố rằng những hoạt động bình thường có lợi của thiên nhiên mà chúng ta thường coi là bằng chứng về sự thực tại của Chúa. Ví dụ như Chúa Giê-su dạy rằng chim trời và hoa huệ ngoài đồng vẫn được Cha thiên thượng chăm sóc (Ma-thi-ơ 6:26-30). Các hiện tượng của tự nhiên bày tỏ ra sự thực hữu của Thiên Chúa và một số điều về thuộc tánh của Ngài cho tất cả mọi người, “Mặt trời ra từ phương trời nầy. Chạy vòng giáp đến phương trời kia; Chẳng chi tránh khỏi hơi nóng mặt trời được.” (Thi thiên 19:6)

Vượt ra ngoài sự phức tạp của cơ thể, như chúng ta thấy trong cuộc đàm thoại của cặp vợ chồng người Nga về ngón tay cái, bản chất con người chúng ta bày tỏ ra các thuộc tánh của Đức Chúa Trời. Khi nói chuyện với cư dân thành A-thên, là những người thờ vô số thần tượng, trong đó có “thần không biết,” Phao-lô phản đối việc thờ phượng tất cả các bàn thờ do con người tạo ra bằng cách chỉ vào bản chất của chúng ta. “Vì tại trong Ngài, chúng ta được sống, động, và có, y như xưa một vài thi nhân của các ngươi có nói rằng: Chúng ta cũng là dòng dõi của Ngài. Vậy, bởi chúng ta là dòng dõi Đức Chúa Trời, thì chớ nên ngờ rằng Chúa giống như vàng, bạc, hay là đá, bởi công nghệ và tài xảo của người ta chạm trổ nên” (Công vụ 17:28-29). Phao-lô nói rằng nếu chúng ta là những tạo vật của Đức Chúa Trời, thì ít nhất Ngài cũng kỳ diệu như chúng ta, và điều đó có nghĩa rằng Ngài là một thân vị sống động.

Trước đó nhiều thế kỷ, tiên tri Ê-sai cảnh báo những người nghĩ rằng họ sẽ thoát khỏi trách nhiệm về những hành động xấu xa của họ. Ông viết, “Khốn thay cho những kẻ giấu kín mưu mình cách thẳm sâu khỏi Đức Giê-hô-va, làm việc mình trong xó tối, và nói rằng: Ai thấy ta, ai biết ta?  Các ngươi thật là trái ngược quá, há nên xem người thợ gốm như đất sét sao? Đồ vật há được nói về kẻ làm nên mình rằng: Nó chẳng làm ra ta? Cái bình há được nói về kẻ tạo mình rằng: Nó chẳng có trí hiểu đâu” (Ê-sai 29:15-16). Tương tự như vậy, trước giả Thi thiên cũng viết, “Hỡi kẻ ngu dại, bao giờ các ngươi mới khôn ngoan?

Đấng đã gắn tai há sẽ chẳng nghe sao? Đấng đã nắn con mắt há sẽ chẳng thấy ư?”  (Thi thiên 94:8-9). Về bản chất, Đức Chúa Trời phán, “Hãy nhìn vào chính các ngươi. Bản chất và những khả năng của các ngươi chỉ đến Ta, Đấng tạo dựng các ngươi, Đấng vĩ đại hơn các ngươi.”

Một cách khác mà sự mặc khải phổ quát khẳng định sự hiện hữu của Đức Chúa Trời là tiến trình lịch sử loài người, mà Ngài luôn kiểm soát. Là Đấng kiểm soát lịch sử, Ngài bày tỏ chính Ngài trong những sự kiện của con người. Khi giảng cho cư dân A-thên trên ngọn đồi Mars, Phao-lô công bố rằng, “Ngài đã làm cho muôn dân sanh ra bởi chỉ một người và khiến ở khắp trên mặt đất, định trước thì giờ đời người ta cùng giới hạn chỗ ở, hầu cho tìm kiếm Đức Chúa Trời, và hết sức rờ tìm cho được, dẫu Ngài chẳng ở xa mỗi một người trong chúng ta.  Vì tại trong Ngài, chúng ta được sống, động, và có, y như xưa một vài thi nhân của các ngươi có nói rằng: Chúng ta cũng là dòng dõi của Ngài” (Công vụ 17:26-28). Nê-bu-cát-nết-sa là vua của đế quốc Ba-by-lôn phải học tập khó khăn để cuối cùng nhận biết rằng “Đấng Rất Cao cai trị trong nước của loài người, và Ngài muốn ban cho ai tùy ý” (Đa-ni-ên 4:32, cũng xem 4:34-37). Lẽ thật trong Châm ngôn 14:34, “Sự công bình làm cho nước cao trọng; Song tội lỗi là sự hổ thẹn cho các dân tộc” là điều hiển nhiên đối với tất cả những học sinh có tư duy về lịch sử.

Luật pháp mà Đức Chúa Trời viết một cách tự nhiên trong lòng con người là một sự khẳng định khác về mặc khải phổ quát. Đấng sáng tạo quyền năng cũng là Đấng ban cho luật đạo đức và phán xét. Mỗi người đều có cảm nhận về điều đúng và sai. “Vả, dân ngoại vốn không có luật pháp, khi họ tự nhiên làm những việc luật pháp dạy biểu, thì những người ấy dầu không có luật pháp, cũng tự nên luật pháp cho mình.  Họ tỏ ra rằng việc mà luật pháp dạy biểu đã ghi trong lòng họ: Chính lương tâm mình làm chứng cho luật pháp, còn ý tưởng mình khi thì cáo giác mình, khi thì binh vực mình” (Rô-ma 2:14-15).

Vị sứ đồ cũng nói rằng chúng ta dùng tri thức về đúng sai để phán xét người khác, nhưng tiếc rằng nó không có sức mạnh để khiến chúng ta thực hiện những gì đúng. Ông kết luận, “hỡi người kia, ngươi là ai mặc lòng, hễ đoán xét kẻ khác thì không thể chữa mình được; vì trong khi đoán xét họ, ngươi cũng lên án cho chính mình ngươi nữa, bởi ngươi đoán xét họ, mà cũng làm các việc như họ” (2:1). Immanuel Kant đi tới kết luận rằng có hai điều  lấp đầy tấm lòng con người: “bầu trời đầy sao ở trên và luật đạo đức bên trong.” Mặc dù  từ chối thẩm quyền của Kinh Thánh, cảm giác về “lẽ phải” này đã khiến ông  tin vào thực tại của Chúa. C. S. Lewis đã làm chứng rằng thực tế về luật đạo đức này đã đưa Immanuel Kant ra khỏi chủ nghĩa vô thần.

Một số nhà khoa học xã hội phản đối rằng luật đạo đức mà chúng ta tìm cách vận hành thông qua lương tâm của mình chỉ là sản phẩm của xã hội chúng ta. Họ nói rằng chúng được đặt ở đó bởi môi trường giáo dục của chúng ta. Đúng vậy, chúng ta có thể đã học được một số quy tắc cư xử có thể chấp nhận được từ cha mẹ mình hoặc từ những người khác, nhưng điều này không chứng minh rằng: thực tế của các qui luật này là sản phẩm của thầy giáo, hay bảng cửu chương, mà chúng ta đã học ở trường học, là sản phẩm của giáo viên chúng ta.

Hơn nữa, mặc dù có sự khác biệt đáng kể về quy tắc đạo đức giữa các xã hội, nhưng có những điểm tương đồng đáng kinh ngạc ở các cấp độ cơ bản. Chúng ta thường nghe rằng ở một số nền văn hóa, kẻ trộm hoặc kẻ gian xảo được đánh giá cao, trong khi ở những nền văn hóa khác, chúng bị xem là những kẻ vô lại, bị ruồng bỏ. Ngày hôm nay nhiều người tin rằng các tiêu chuẩn đạo đức là hoàn toàn mang tính cá nhân. Họ nói không có mã phổ quát của điều đúng và sai ràng buộc tất cả mọi người. Nhưng thử nghiệm thực sự về ý thức đạo đức của chúng ta với tư cách là con người không nằm ở những gì chúng ta đưa ra trong các hành động đối với người khác hoặc thậm chí ở những gì bản thân chúng ta nghĩ là đạo đức hay vô đạo đức. Sự mặc khải thực sự của các qui luật đánh giá điều đúng điều sai đến trong những gì chúng ta giải thích có liên quan đến chính bản thân. Một kẻ cắp có thể nhận được sự tôn trọng giữa vòng một số người của nó, khi nó ăn cắp của người khác, nhưng nó không chấp thuận ăn cắp khi điều đó chống lại chính bản thân! Tương tự như vậy, việc giết người khác có thể là một điều vinh dự đối với một số người, nhưng có ai cảm thấy điều đó là tốt khi người bạn thân nhất của mình bị giết hoặc chính bản thân mình bị giết không? Khi được đánh giá theo cách này, chúng ta nhanh chóng thấy rõ rằng mặc dù các tiêu chí đạo đức của chúng ta có phần bị xoay chuyển vì tội lỗi, nhưng các tiêu chuẩn sâu xa của đúng và sai vẫn là điều phổ biến đối với tất cả mọi người.

Cảm giác đúng và sai, và cảm giác khó chịu xuất hiện khi chúng ta vi phạm tiêu chuẩn nào đó, thì làm chứng cho mọi người về một Đức Chúa Trời tạo ý thức đạo đức trong tâm trí con người. “ý thức ở trong tôi là tôi mắc một món nợ,” Robert Browning đã viết, “Bạn phải bảo đảm rằng phải có một ai đó sẵn sàng trả món nợ khi đến hạn. Tất cả đều đi đến điều này: đến hạn phải trả nợ. Chúng ta phải tìm kiếm người chấp nhận trả nợ khi đến hạn.”

Nếu một mình chúng ta là người xây dựng nên bản chất đạo đức của chúng ta, thì tội lỗi sẽ không có vấn đề gì – chỉ cần thay đổi tiêu chuẩn, và ý thức về đạo đức sẽ không còn nữa, cùng với cảm giác tội lỗi cho những hành động không phù hợp. Nhưng chỉ những kẻ giết người – mà chúng ta thừa nhận là bất thường – mới có khả năng sống mà không có lương tâm đạo đức. Mỗi người bình thường đều có một ý thức về “trách nhiệm” đạo đức, đó là định nghĩa rằng họ đang “đáp trả” một người nào đó bên ngoài mình- Một ai đó đã viết ra một tiêu chuẩn về sự công bình trong tấm lòng của tất cả mọi người.

KẾT QUẢ (HIỆU ỨNG) CỦA MẶC KHẢI PHỔ QUÁT

Bởi vì có sự mặc khải phổ quát dẫn đến thực tế là mọi người có một số kiến thức không chỉ đơn giản về một vị thần, nhưng là một Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật của Kinh Thánh. Phao-lô đã giải thích điều này cho cư dân ở A-thên, “Đức Chúa Trời đã dựng nên thế giới và mọi vật trong đó, là Chúa của trời đất, chẳng ngự tại đền thờ bởi tay người ta dựng nên đâu. Ngài cũng chẳng dùng tay người ta hầu việc Ngài dường như có cần đến sự gì, vì Ngài là Đấng ban sự sống, hơi sống, muôn vật cho mọi loài. Ngài đã làm cho muôn dân sanh ra bởi chỉ một người và khiến ở khắp trên mặt đất, định trước thì giờ đời người ta cùng giới hạn chỗ ở » (Công vụ 17 :24-26). Vì vậy mọi người phải “tìm kiếm Đức Chúa Trời, và hết sức rờ tìm cho được, dẫu Ngài chẳng ở xa mỗi một người trong chúng ta” (câu 27).

Những lời của Phao-lô về sự khải thị của Đức Chúa Trời cho những ai từ chối Ngài thậm chí còn rõ ràng hơn kiến thức của họ về Đức Chúa Trời: “Vì điều chi có thể biết được về Đức Chúa Trời thì đã trình bày ra cho họ, Đức Chúa Trời đã tỏ điều đó cho họ rồi, bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên họ không thể chữa mình được, vì họ dẫu biết Đức Chúa Trời, mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa; song cứ lầm lạc trong lý tưởng hư không, và lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm” (Rô-ma 1:19-21). Đó là tri thức về Đức Chúa Trời chân thật được nhìn thấy từ những lời của vị sứ đồ nói với những người “biết Đức Chúa Trời mà không làm sáng danh Ngài.”  Họ biết Đức Chúa Trời, nhưng không tôn kính Ngài (câu 21). Họ là những người “không tin kính và mọi sự không công bình của những người dùng sự không công bình mà bắt hiếp lẽ thật” (câu 18). Các hình tượng và những tà thần họ thờ lạy là kết quả của hành động từ chối Đức Chúa Trời, và thay thế vào đó là các triết lý, suy nghĩ của riêng họ và lựa chọn thờ lạy các thần hư không khác. “Họ tự xưng mình là khôn ngoan, mà trở nên điên dại…vì họ đã đổi lẽ thật Đức Chúa Trời lấy sự dối trá, kính thờ và hầu việc loài chịu dựng nên thế cho Đấng dựng nên, là Đấng đáng khen ngợi đời đời! A-men” (1:22, 25)

Mục đích của mặc khải phổ quát là khiến con người tìm kiếm Đức Chúa Trời trong tình trạng tội lỗi của mình.  Vấn đề cơ bản ở đây không nằm trong trí tuệ, nhưng là ý chí. Tội lỗi đã đi vào thế giới khi tổ phụ con người bị cám dỗ muốn trở nên ngang bằng Đức Chúa Trời (Sáng. 3:5). Con người từ chối đầu phục Đức Chúa Trời chân thật. Họ chọn chính mình làm trung tâm thay vì nhường vị trí đó cho Đấng tối cao. Từ cơ sở không đúng đắn và biến thái này, họ tìm cách xây dựng một triết lý sống thỏa mãn. Họ đưa ra ý nghĩa riêng của họ cho dữ liệu của sự mặc khải chung hơn là thừa nhận Đức Chúa Trời và tìm cách hiểu mọi thứ từ quan điểm của Ngài.

Tuy nhiên, sự mặc khải phổ quát vẫn phục vụ các mục đích của Đức Chúa Trời. Bởi vì tri thức về Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật đã được ban cho các tạo vật và đến với mỗi người. “bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên họ không thể chữa mình được” (1:20). Không ai có thể biện minh được trước mặt Thiên Chúa là tôi không biết Ngài. “Vả, dân ngoại vốn không có luật pháp, khi họ tự nhiên làm những việc luật pháp dạy biểu, thì những người ấy dầu không có luật pháp, cũng tự nên luật pháp cho mình.  Họ tỏ ra rằng việc mà luật pháp dạy biểu đã ghi trong lòng họ: Chính lương tâm mình làm chứng cho luật pháp, còn ý tưởng mình khi thì cáo giác mình, khi thì binh vực mình.  Ấy là điều sẽ hiện ra trong ngày Đức Chúa Trời bởi Đức Chúa Giê-su Christ mà xét đoán những việc kín nhiệm của loài người, y theo Tin lành tôi” (2:14-16). Một ngày trong tương lai mọi người sẽ ra trước mặt Chúa để được phán xét – đây là điều mà Phao-lô luận giải. Vị trí không thể bào chữa của mọi người được thể hiện rõ ràng bởi thực tế là tất cả họ đều có xu hướng đánh giá người khác bằng ý thức bẩm sinh của họ về đúng và sai. Họ cáo buộc người khác làm điều sai, thì chính những cáo buộc này cũng chỉ thẳng về phía họ. “Vậy, hỡi người kia, ngươi là ai mặc lòng, hễ đoán xét kẻ khác thì không thể chữa mình được; vì trong khi đoán xét họ, ngươi cũng lên án cho chính mình ngươi nữa, bởi ngươi đoán xét họ, mà cũng làm các việc như họ. Vả, chúng ta biết rằng sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với kẻ làm những việc như thế, là hiệp với lẽ thật.  Hỡi người đoán xét kẻ phạm những việc dường ấy mà mình cũng phạm kia, vậy ngươi tưởng rằng chính mình ngươi sẽ tránh khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời sao?” (2:1-3). Trong khi mặc khải phổ quát không nói với chúng ta về sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời và giải pháp xử lý vấn đề tội lỗi của con người, thì nó chỉ ra nhu cầu này.

 

Sự mặc khải phổ quát cũng   góp phần bảo tồn xã hội và văn hóa loài người. Những ý tưởng về lẽ thật và sự giả dối, công lý và bất công, giúp duy trì trật tự giữa các dân tộc, có nguồn gốc từ sự mặc khải này. Nói ngắn gọn, sự mặc khải phổ quát giúp kiểm tra xu hướng tội lỗi ngăn ngừa sự hỗn loạn và thoái hóa của xã hội loài người. Còn nếu để bản chất con người phóng túng theo tội lỗi thì sẽ sớm đưa nền văn minh đến chỗ kết thúc.

Ngoài ra, thực tế là tất cả mọi người nhận thức về Thiên Chúa qua sự mặc khải phổ phục vụ cho nhiệm vụ truyền giáo. Phao-lô nhận thấy cư dân ở A-thên có “đầy dẫy các hình tượng” trong đó bao gồm luôn vị “thần không biết”. Vì vậy ông sử dụng nhận thức này của người A-thên để chỉ cho họ một Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật được bày tỏ qua Chúa Giê-su Christ (Công vụ 17:16-31). Mặc dù thực tế là nhiều người trong thời gian gần đây không đưa ra cùng một bằng chứng công khai về bản chất tôn giáo như người A-thên với các thần tượng của họ. Kinh Thánh dạy về sự mặc khải phổ quát nói rằng khi họ nhận thức về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, và điều này đóng vai trò như một điểm liên hệ khi chúng ta làm chứng cho họ.

 

 

4

Mặc Khải Đặc Biệt Là Gì?

 

NHU CẦU CHO MẶC KHẢI ĐẶC BIỆT

 

Trong khi bản chất tự nhiên của con người và cõi sáng tạo bày tỏ một số điều về Đức Chúa Trời. Tuy nhiên những điều này không được thiết kế để chúng ta có thể hiểu biết đầy đủ về Ngài và ý muốn Ngài cho chúng ta. Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta cho chính Ngài. Đức Chúa Trời sáng tạo chúng ta để chúng ta thiết lập mối quan hệ với Ngài. Nhìn vào sự xinh đẹp và trật tự hài hòa trong vườn Ê-đen, A-đam và Ê-va biết đến các tác phẩm của Đức Chúa Trời, nhưng nếu muốn nhận biết Ngài cách cá nhân họ phải giữ mối tương giao gần gũi với Ngài. Từ buổi bình minh của lịch sử con người, Đức Chúa Trời không chỉ bày tỏ chính Ngài qua cõi sáng tạo, nhưng cũng bày tỏ trực tiếp bằng các lời của Ngài.

Ngắm nhìn cõi sáng tạo và suy ngẫm về bản chất của chúng, có thể sẽ không bao giờ giúp cho A-đam và Ê-va đi đến chỗ nhận biết ý muốn Đức Chúa Trời và mục đích Ngài dành cho cuộc đời của họ là cai quản trái đất (Sáng thế ký 1:26-28), và chăm sóc khu vườn (2:15). Đức Chúa Trời đã giao nhiệm vụ này cho họ thông qua các lời (words). Chúng ta không biết đầy đủ các chi tiết về sự giao tiếp giữa Đức Chúa Trời với tổ phụ loài người. Tuy nhiên từ “đi ngang”  trong Sáng thế ký 3:8, “Lối chiều, nghe tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời đi ngang qua vườn, A-đam và vợ ẩn mình giữa bụi cây, để tránh mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời” cho biết rằng đó là một sự xuất hiện thường xuyên của Ngài. Từ này cũng được dùng khi đề cập đến sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong đền tạm. Vì vậy một người nghiên cứu Kinh Thánh kết luận rằng vườn Ê-đen cũng như đền tạm là nơi chốn Đức Chúa Trời hiện diện, và rằng “có thể một cuộc trò chuyện hàng ngày giữa Đấng Toàn năng và các sinh vật của Ngài như một thông lệ” Vì vậy, ngay từ ban đầu, mặc khải phổ quát thông qua tự nhiên đã cung cấp nền tảng cho giao tiếp bằng lời nói cá nhân.

 

Sự xâm nhập của tội lỗi vào thế giới làm tăng nhu cầu giao tiếp cá nhân. Thông qua tự nhiên và lương tâm, lịch sử bày tỏ rằng con người đi đến một nhận thức là có Đức Chúa Trời, và Ngài thiết lập thế giới loài người trên những nguyên tắc của luật đạo đức. Con người cũng có ý thức là không ai có thể sống và thực hành kiên định trên những luật này. Nhưng không nơi nào trong tự nhiên hay trong chính con người mà chúng ta tìm ra lối thoát cho tình huống khó xử này.

Lịch sử của các tôn giáo bày tỏ rằng khi con người không nhận được khải thị đặc biệt của Đức Chúa Trời, họ không tìm thấy sự giải thoát thực sự khỏi cảm giác tội lỗi. Các tôn giáo được xây dựng lên để tìm câu trả lời, nhưng ngoại trừ sự khải thị đặc biệt, thì những người sùng đạo vẫn còn bị mắc kẹt với những kiến thức họ có trong khải thị phổ quát. Họ biết họ phải sống theo những tiêu chuẩn rõ ràng, cụ thể. Nhưng họ không thể. Do đó họ thiết lập nhiều phương cách để bù đắp cho sự thất bại của họ.

Không thể tránh khỏi các tôn giáo được thành lập dựa trên sự mặc khải phổ quát là những tôn giáo của công đức/việc làm. Không nhận được sự khải thị đặc biệt về sự tha thứ của Đức Chúa Trời xuyên qua Đấng Christ, họ không bao giờ được yên nghỉ với những gánh nặng của tội lỗi. Trước giả Thi thiên đã viết, “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Bầu trời giãi tỏ công việc tay Ngài làm” (Thi. 19:1) và “Luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại” (Thi. 19:7).

Sự mặc khải đặc biệt bổ sung một số chân lý còn thiếu trong sự khải thị phổ quát về Đức Chúa Trời trong cõi sáng tạo, và nó cũng khiến cho con người có khả năng để nhìn xem các lẽ thật trong sự mặc khải phổ quát chính xác. Cho đến khi một người được phục hòa với Đức Chúa Trời nhờ vào mối liên hệ cá nhân với Chúa Giê-su Christ, thì người người đó mới có thể nhìn xem thế giới trong lăng kính của Đức Chúa Trời. Chỉ có sự soi sáng của Đức Chúa Trời mới có thể mở đôi mắt bị mù vì tội lỗi.  Người nào nói đến sự vinh hiển của Đức Chúa Trời trong các từng trời là một người tin kính Ngài. Nhưng một người vô thần nhìn vào các từng trời, anh ta sẽ đưa ra một kết luận khác. John Calvin, nhà cải chánh vĩ đại của Pháp, đã minh họa một cách khéo léo sự cần thiết của khải thị đặc biệt cho một người đọc “quyển sách của tự nhiên” một cách chính xác, “Cũng giống như những người đàn ông già hoặc mắt mờ và những người có thị lực yếu, nếu bạn ném trước mặt họ một tập sách đẹp nhất, ngay cả khi họ nhận ra đó là một loại văn bản nào đó, nhưng họ khó có thể đọc ra hai từ, nhưng với sự hỗ trợ của kính đeo mắt họ sẽ bắt đầu đọc một cách rõ ràng; vì vậy  tập họp những  hiểu biết về Đức Chúa Trời còn lộn xộn trong tâm trí chúng ta qua mặc khải phổ quát thì Kinh Thánh đã giải tán sự buồn tẻ của chúng ta, cho chúng ta thấy rõ một Đức Chúa Trời chân thật.”

 Sự mặc khải đặc biệt mà qua đó Đức Chúa Trời giao tiếp trực tiếp theo cách cá nhân, do đó rất quan trọng đối với đời sống con người. Từ buổi ban đầu con người được tạo dựng để giao tiếp với Đức Chúa Trời. Khi tội lỗi bước vào trong dòng dõi loài người, nó phá vỡ sự thông công này. Nhưng kế hoạch của Đức Chúa Trời yêu thương là phục hồi sự gãy đổ. Điều này đòi hỏi Đức Chúa Trời của ân điển phán với chúng ta qua sự mặc khải đặc biệt.

 

NHỮNG HÌNH THỨC CỦA SỰ MẶC KHẢI ĐẶC BIỆT

Đức Chúa Trời giao tiếp với chúng ta bằng cách nào? Một số học giả nói rằng Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài trong các hành động quyền năng xuyên suốt lịch sử, và không qua Lời. Một số khác chỉ ra rằng sự mặc khải cá nhân về Đức Chúa Trời được bày tỏ trong Đấng Christ. Bởi vì Đấng Christ được gọi là Ngôi Lời (Giăng 1:1), họ lập luận rằng những lời của Kinh Thánh không phải là Ngôi Lời. Những quan điểm như thế đòi hỏi chúng ta phải tra xét cẩn thận những gì Kinh Thánh nói về sự mặc khải đặc biệt của Đức Chúa Trời.

Trước giả sách Hê-bơ-rơ công bố, “Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách, rồi đến những ngày sau rốt nầy, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài, là Con mà Ngài đã lập lên kế tự muôn vật, lại bởi Con mà Ngài đã dựng nên thế gian » (Hê-bơ-rơ 1 :1-2). Tại tuyên bố này gợi ý, mặc khải đặc biệt cũng bao gồm một loạt các phương pháp khác, lên đến đỉnh điểm là sự xuất hiện của Con Đức Chúa Trời.

Các biểu hiện về Đức Chúa Trời mà con người có thể nhìn thấy được (Theophanies).

Phương cách nổi bật mà Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài từ buổi bình minh của lịch sử được ghi lại trong Kinh Thánh là thông qua các biểu hiện có thể nhìn thấy được cho con người về Đức Chúa Trời. Từ theophany  có nguồn gốc từ hai từ Hy-lạp là Theos (Đức Chúa Trời) và phaino (hiển thị hoặc xuất hiện). Vì vậy Theophany là sự xuất hiện của Đức Chúa Trời.

Trong một số trường hợp các hình thức của sự xuất hiện Đức Chúa Trời không được bày tỏ. Ví dụ, khi Kinh Thánh ký thuật, “Đức Giê-hô-va hiện ra cùng Áp-ram” (Sáng. 12:7). Trong những trường hợp khác Kinh văn chỉ ra rằng Đức Chúa Trời đã có những hình thức khác nhau để làm cho chính Ngài được biểu hiện. Trong một cơ hội, Áp-ra-ham bày tỏ lòng hiếu khách chào mửng ba người đàn ông đến trong nhà trại của mình. Hai người trong số họ là thiên sứ, nhưng người thứ ba là chính Đức Chúa Trời. “Áp-ra-ham nhưng mắt lên, thấy ba người đứng trước mặt. Vừa khi thấy, bèn bắt từ cửa trại chạy đến trước mặt ba người đó, sấp mình xuống đất” (Sáng. 18:2). “các đấng bèn từ đó đi qua hướng Sô-đôm; nhưng Áp-ra-ham hãy còn đứng chầu trước mặt Đức Giê-hô-va.  Áp-ra-ham lại gần và thưa rằng: Chúa sẽ diệt người công bình luôn với người độc ác sao?” (câu 22-23). “Lối chiều, hai thiên sứ đến Sô-đôm; lúc đó, Lót đương ngồi tại cửa thành. Khi Lót thấy hai thiên sứ đến, đứng dậy mà đón rước và sấp mình xuống đất” (19:1).

Con người bí ẩn mà đã vật lộn với Gia-cốp tại Phê-ni-ên cũng là một trong những hình thức hiện ra của Đức Chúa Trời. Gia-cốp đã nói, “Tôi đã thấy Đức Chúa Trời đối mặt cùng tôi và linh hồn tôi được giải cứu” (câu 30).
Nhiều lần sự hiện ra của Đức Chúa Trời được Kinh Thánh mô tả là “Thiên sứ của Đức Giê-hô-va.”  Chúng ta đọc trong Xuất. 3:2, “Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện ra cùng người (Môi-se) trong ngọn lửa, giữa bụi gai kia.”  Và thiên sứ này cũng hiện ra trong hình dáng của một con người, và Kinh văn làm cho điều này sáng tỏ người đó không phải là thiên sứ bình thường. Một số điều về sự xuất hiện của thiên sứ hoặc thông điệp tiên tri của ông đã nói với A-ga khi bà đang trốn chạy trong sa mạc, “Thiên sứ của Đức Giê-hô-va dạy nàng rằng: Ngươi hãy trở về chủ ngươi …

Nàng gọi Đức Giê-hô-va mà đã phán cùng mình, danh là “Đức Chúa Trời hay đoái xem,” vì nàng nói rằng: Chính tại đây, tôi há chẳng có thấy được Đấng đoái xem tôi sao?” (Sáng. 16:9-13). Từ sự hiện ra đáng kinh sợ, cùng với lời tiên tri và cách mà “thiên sứ của Đức Giê-hô-va cũng lên theo trong ngọn lửa của bàn thờ” (Các quan xét 13:20), cha mẹ của Sam-sôn biết đó là thiên sứ của Đức Giê-hô-va, và cũng là Đấng họ nhận biết là Đức Giê-hô-va (Các quan xét 13:3-23; cũng xem 6:11-24).

Mặc dù không phải là “theophanies” theo nghĩa đen, thiên sứ đã xuất hiện trong các giấc mơ (Sáng. 31:11-13) và nói chuyện với từng cá nhân mà không có bất kỳ hình dáng rõ ràng nào (ví dụ, 22:11-12). Nhiều sinh viên trường Kinh Thánh tin rằng thiên sứ của Đức Giê-hô-va không phải ai khác nhưng là chính là Con Đức Chúa Trời mà sau này đã giáng sinh tại Bết-lê-hem. Mặc dù điều này có thể không được kết luận, nhưng thực tế là Ngài có thể tha thứ tội lỗi và việc Ngài mang danh Đức Chúa Trời cho thấy rõ ràng rằng Ngài là sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Theo một nghĩa khác, sự xuất hiện của Đấng Christ trong thân xác con người cũng là một biểu hiện về Đức Chúa Trời mà con người có thể nhìn thấy được, nhưng nó khác với tất cả những điều còn lại. Trong những trường hợp khác, Đức Chúa Trời chỉ mặc lấy một hình dạng khi Chúa Giê-su giáng sinh, Đức Chúa Trời Con đã mặc lấy chính Ngài trong bản chất con người xác thực.

 

Các giấc mơ và khải tượng

Mặc dù các giấc mơ không đóng vai trò chính trong sự mặc khải, vào một số trường hợp quan trọng, đặc biệt là trong sách Sáng thế ký và Đa-ni-ên, Đức Chúa Trời truyền thông điệp đến các đầy tớ Ngài thông qua các giấc mơ. Một trường hợp được nhiều người biết đến là Gia-cốp nhìn thấy một cái thang từ đất nối lên đến trời (Sáng. 28:12-16) và giấc mơ của Giô-sép liên quan đến vị trí lãnh đạo trong tương lai của ông (Sáng. 37:5-7, 9). Sa-lô-môn trong 1 Các vua 3:5 và Giô-sép, chồng của Ma-ri cũng nhận được các giấc mơ mà qua đó Đức Chúa Trời bày tỏ khải thị thiên thượng.

Các giấc mơ không chỉ giới hạn trong dân sự của Đức Chúa Trời, Ngài cũng bày tỏ kế hoạch tương lai của Ngài trong giấc mơ cho Pha-ra-ôn ở Ai-cập và Nê-bu-cát-nết-sa ở Ba-by-lôn (Sáng. 41:1-7; Đa-ni-ên 2:3, 31-35). Tuy nhiên trong cả hai trường hợp này sự giải thích giấc mơ thuộc về người của Đức Chúa Trời. Hầu hết những giấc mơ mặc khải này đều bao gồm lời nói của Đức Chúa Trời, nhưng với giấc mơ của Giô-sép chỉ bày tỏ về chính ông và các anh em của ông.

Các khải tượng phổ biến hơn nhiều như một phương tiện mặc khải, đặc biệt là đối với các nhà tiên tri. Trong một số trường hợp những gì đượcnhìn thấy được mô tả trong một cảnh tượng. Ê-xê-chi-ên đã nhìn thấy đền thờ Giê-ru-sa-lem trong một khải tượng (Ê-xê-chi-ên 8:3). Tuy nhiên những gì A-mốt nhìn thấy liên quan đến Israel (A-mốt 1:1) và cũng liên quan đến việc nghe hoặc nhận thức các lời. Các khải tượng thường được nối kết với các tiên tri nhiều đến nỗi họ được gọi là “những người tiên kiến” (ví dụ, 2 Sa-mu-ên 24:11; 1 Sử ký 9:22; 2 Sử ký 16:7; 29:30).

Giao tiếp trực tiếp

Đức Chúa Trời thường xuyên phán trực tiếp với con người. Các cụm từ này thường xuyên xuất hiện trong Kinh Thánh: Đức Chúa Trời phán, có lời của Đức Giê-hô-va đến với tôi. Trong một số trường hợp dường như đây là tiếng nói có thể nghe được bằng tai, như Phao-lô nghe một tiếng phán từ trên cao (Công vụ 9:4) và chàng trai trẻ tuổi Sa-mu-ên nghe tiếng phán của Chúa (1 Sa-mu-ên 3:4, 6, 8, 10-14). Trong những trường hợp khác, dường như là một tiếng nói từ bên trong hướng dẫn dân sự của Đức Chúa Trời giống như khi chúng ta giữ yên lặng trong khi cầu nguyện với Chúa và nghe tiếng Ngài phán. Khi một thiên sứ của Chúa ra lệnh cho Phi-líp đuổi theo hoạn quan Ê-thi-ô-pi (Công vụ 8:29), hay khi Đức Thánh Linh bảo Phi-e-rơ rằng có ba người đang tìm ông (Công vụ 10:19), hay khi hội thánh sai phái Phao-lô và Ba-na-ba đi truyền giáo (13:2). Những trường hợp này có thể là nghe được tiếng nói của Đức Chúa Trời từ bên trong. Loại tiết lộ này có thể là những gì Phao-lô nhận được từ Đấng Christ trong thời gian ông ở sa mạc A-ra-bi (Ga-la-ti 1:11-17).

Một trường hợp duy nhất Đức Chúa Trời nói chuyện trực tiếp với Môi-se được ghi trong Xuất Ê-díp-tô ký 33:11, “Đức Giê-hô-va đối diện phán cùng Môi-se, như một người nói chuyện cùng bạn hữu mình.” Khi Mi-ri-am và A-rôn đặt câu hỏi về uy quyền của Môi-se, Đức Chúa Trời phán rằng Ngài nói chuyện với họ xuyên qua các khải tượng và giấc mơ, nhưng với Môi-se thì khác. Đức Chúa Trời nói về Môi-se: “Tôi tớ Môi-se ta không có như vậy, người thật trung tín trong cả nhà ta. Ta nói chuyện cùng người miệng đối miệng, một cách rõ ràng, không lời đố, và người thấy hình Đức Giê-hô-va” (Dân số ký 12:7-8). Điều này bày tỏ sự thân mật trực tiếp giữa Đức Chúa Trời và Môi-se.

Các thiên sứ

Thỉnh thoảng Đức Chúa Trời dùng các thiên sứ để truyền đạt sự mặc khải của Ngài. Họ xuất hiện trong vai trò này, đặc biệt là khi Đức Chúa Trời khởi đầu một công việc mới.  Ví dụ Luật pháp được ban cho bởi Môi-se, nhưng qua trung gian là các thiên sứ. “các ngươi đã nhận luật pháp truyền bởi các thiên sứ, nhưng không giữ lấy” (Công vụ 7:53; Ga-la-ti 3:19). Một thiên sứ đã thông báo tin mừng về sự giáng sinh của Cứu Chúa (Lu-ca 2:10, 13). Một trong những trường hợp sinh động nhất là sự bày tỏ của thiên sứ với Đa-ni-ên. Trong hai tình huống Đức Chúa Trời trả lời sự cầu nguyện của Đa-ni-ên về Israel bằng cách gửi thông điệp thông qua các thiên sứ, một trong các thiên sứ đó là Gáp-ri-ên (Đa-ni-ên 9:2-21; 10:10-21). Trong khi các thiên sứ vượt trội hơn con người về nhiều mặt, thì họ vẫn chỉ là những sứ giả (người đưa tin) cho Lời của Đức Chúa Trời, không phải là tác giả của thông điệp. Sự giới hạn của thiên sứ về tri thức được sứ đồ Phi-e-rơ đề cập đến: “những người nhờ Đức Thánh Linh từ trên trời sai xuống, mà giảng Tin lành cho anh em; các thiên sứ cũng ước ao xem thấu những sự đó” (1 Phi-e-rơ 1:12).

Các phép lạ

Khi Đức Chúa Trời truyền đạt lời Ngài trực tiếp cho con người, Ngài thường đưa ra bằng chứng về sự hiện diện của Ngài bằng cách thực hiện các phép lạ. Bởi một phép màu, chúng ta đang đề cập đến một hành động khác với những sự kiện thông thường. Thông thường Đức Chúa Trời vận hành vũ trụ của Ngài theo cái mà chúng ta gọi là “các quy luật tự nhiên,” mà Ngài đã thiết lập như một phần của tạo vật. Phép lạ xảy ra khi Đức Chúa Trời chọn hành động một cách phi thường với mục đích bày tỏ chính Ngài.

Ngôn ngữ Kinh Thánh cho các phép lạ cho thấy chức năng mặc khải của chúng. Nói về những phép lạ của Chúa Giê-su, Phi-e-rơ mô tả chúng là “việc quyền phép, sự lạ và dấu lạ” (Công vụ 2:22). Đây không phải là ám chỉ đến ba loại hành vi khác nhau, mà là cùng một hành động được nhìn từ ba quan điểm. Thuật ngữ “việc quyền phép” xem hành động như một sự phô trương quyền lực. Từ “sự lạ” hàm ý những sự kiện gây ngạc nhiên cao độ. Và từ “dấu lạ” chỉ trực tiếp đến mục đích của chúng như những điều được mặc khải. Các dấu lạ trong Kinh Thánh giống như những con trỏ hướng sự chú ý của chúng ta đến một điều gì đó.

 

Theo những lời tiên tri trong Cựu Ước, Đấng Mê-si sẽ đến và làm phép lạ như những dấu hiệu chỉ ra thần tánh của Ngài. Vì lý do này, người Do Thái liên tục hỏi Chúa Giê-su: “Thầy làm như vậy thì cho chúng tôi xem thấy phép lạ chi?” (Giăng 2:18; xem thêm Ma-thi-ơ 12:38; 16:1). Phép lạ chữa lành người bại liệt (Mác 2) minh họa ba khía cạnh này của một việc quyền phép. Rõ ràng, quyền năng của Đức Chúa Trời đã được thể hiện khi người đàn ông bại liệt nằm trên giường đứng dậy và bước đi (2:12). Hiệu quả của sự ngạc nhiên được thấy trong lời này, “Kẻ bại đứng dậy, tức thì vác giường đi ra trước mặt thiên hạ; đến nỗi ai nấy đều lấy làm lạ, ngợi khen Đức Chúa Trời, mà rằng: Chúng tôi chưa hề thấy việc thể nầy” (Mác 2:12). Nhưng điểm cuối cùng của phép lạ đã được Chúa Giê-su tuyên bố: “để các ngươi có thể biết rằng Con Người có thẩm quyền trên đất để tha tội” (2:10). Quyền hành này chỉ thuộc về Đức Chúa Trời; do đó phép lạ là một sự mặc khải về thần tính của Chúa Giê-su Christ.

Phép lạ liên quan đến sự mặc khải theo hai cách quan trọng. Đầu tiên, chúng chỉ ra thực tế rằng sự mặc khải đang xảy ra. Chúng khiến chúng ta ngồi dậy và chú ý rằng Chúa đang làm việc. Thứ hai, chúng tiết lộ điều gì đó về quyền năng Đức Chúa Trời và mục đích mà Ngài sử dụng quyền năng đó. Mặc dù trong một số trường hợp, khó có thể thấy gì hơn bằng chứng về quyền năng của Đức Chúa Trời đối với thế giới tự nhiên, như trong việc Chúa Giê-su biến nước thành rượu (Giăng 2). Hầu hết các phép lạ của Chúa Giê-su đều biểu lộ quyền năng của Đức Chúa Trời để chiến thắng tội lỗi và các tác động của nó.  Việc chữa lành người bệnh bại và phục hồi thị lực cho người mù chứng minh sự đắc thắng của Đức Chúa Trời trên đau khổ và tội lỗi. Trường hợp La-xa-rơ và những người khác đã chết sống lại đã thông báo lẽ thật rằng quyền lực của tội lỗi đã bị phá vỡ, và sự chết, kẻ thù cuối cùng của nhân loại, có thể bị đánh bại bởi quyền năng của Đức Chúa Trời. Sự phục sinh của Đấng Christ được miêu tả như là một minh chứng về quyền năng kỳ diệu siêu nhiên của Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 2:19-20).

Trong khi phép lạ là một hình thức mặc khải, ý nghĩa đầy đủ của chúng chỉ được biết đến qua Kinh Thánh. Vì vậy, các phép lạ được coi là dấu hiệu chỉ ra chức vụ của Ngôi Lời. Như Phi-e-rơ đã viết, “Hỡi người Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời nầy: Đức Chúa Giê-su ở Na-xa-rét, tức là Người mà Đức Chúa Trời đã dùng làm việc quyền phép, sự lạ và dấu lạ ở giữa các ngươi, để làm chứng cho Người trong vòng các ngươi, như chính các ngươi đều biết. Người đó bị nộp theo ý định trước và sự biết trước của Đức Chúa Trời, các ngươi đã mượn tay độc ác mà đóng đinh Người trên thập tự giá và giết đi. Nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Người sống lại, bứt đứt dây trói của sự chết, vì nó không thể giữ Người lại dưới quyền nó” (Công. 2:22-24). Các phép lạ “chứng thực” hoặc “công nhận” Con Người của Đấng Christ cho dân chúng. Họ đã chứng thực về Con Người của Ngài và do đó cũng là Lời của Ngài. Lời đó tuyên bố ý muốn và mục đích của Đức Chúa Trời. Sứ đồ Phao-lô viết, “Các bằng cớ về chức sứ đồ tôi đã tỏ ra trong anh em bởi sự nhịn nhục mọi đàng, bởi các dấu lạ, các sự khác thường, và các phép lạ” (2 Côr. 12:12). Những “sự nhịn nhục mọi đàng, bởi các dấu lạ, các sự khác thường, và các phép lạ” này đã chứng thực Phao-lô là sứ đồ của Đấng Christ và đi tới khẳng định rằng sự dạy dỗ của ông đến từ Đức Chúa Trời.

Ngôi vị của Đấng Christ

Trước giả sách Hê-bơ-rơ tuyên bố rằng “trong những ngày cuối cùng này, Đức Chúa Trời đã phán cùng chúng ta qua Con Ngài” (Hêb. 1:2). Trong Lời này, sự mặc khải của Đức Chúa Trời đạt đến cực điểm. Nhiều phần trong lời của Đức Chúa Trời mà trước đây đã được tiết lộ qua nhiều cách chỉ là những mảnh nhỏ chỉ ra sự tái lâm của Ngài “trong Ngài đã giấu kín mọi sự quí báu về khôn ngoan thông sáng” (Cô-lô-se 2:3).

Trong sự Nhập thể, chúng ta có thêm kiến ​​thức về Đức Chúa Trời khi Ngài bày tỏ chính Ngài theo một cách khác biệt. Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể, tức là Đức Chúa Trời trong thân xác con người. Tiếp nhận kiến ​​thức về một Con Người là một điều, nhưng điều này không bao giờ so sánh được với việc gặp gỡ chính Người đó.

Chúa Giê-su Christ giới thiệu Cha thiên thượng cho chúng ta. Giăng tuyên bố, “Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời; chỉ Con một ở trong lòng Cha, là Đấng đã giãi bày Cha cho chúng ta biết” (Giăng 1:18). Điều này không nên hiểu đơn giản là Chúa Giê-su chỉ là một người dạy về lẽ thật thiêng liêng hơn tất cả những thầy dạy luật pháp trước đây. Ngài đã giãi bày Đức Chúa Trời theo nghĩa rằng ai nhìn Ngài là thấy Đức Chúa Trời. Ngài nói với Phi-líp, “Ai đã thấy Ta là thấy Cha” (14: 9). Ngài có thể nói điều này bởi vì “sự đầy dẫy của bổn tánh Đức Chúa Trời thảy đều ở trong Đấng ấy (Đấng Christ) như có hình” (Cô-lô-se 2:9).

Sự mặc khải của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ đã được ban cho qua sự dạy dỗ của Chúa Giê-su. Ngài được công nhận là Giáo sư từ Đức Chúa Trời đến (Giăng 3:2), nói những lời của Đức Chúa Trời mà trước đây chưa ai nói. Nhưng ngoài lời nói, Đức Chúa Trời còn phán qua Con Người và công việc của Chúa Giê-su, mà cao điểm là thập tự giá và sự phục sinh. Trong sự hy sinh của Chúa Giê-su vì tội lỗi của nhân loại, Đức Chúa Trời bày tỏ tình yêu thương vô hạn của Ngài, đồng thời cũng là sự thánh khiết và công bình của Ngài. Chúa Giê-su không chỉ đơn giản là trọng tâm lớn nhất của sự mặc khải; Ngài còn là chủ đề của mọi sự mặc khải. Kinh Thánh làm chứng cho Ngài (Giăng 5:39). Các tiên tri trước đó đã nói về Ngài, “Về sự cứu rỗi đó, các đấng tiên tri đã tìm tòi suy xét, và đã nói tiên tri về ân điển định sẵn cho anh em:  nghĩa là tìm cho biết thời kỳ nào và thời kỳ cách nào mà Thánh Linh Đấng Christ ở trong lòng mình đã chỉ cho, là khi làm chứng trước về sự đau đớn của Đấng Christ và về sự vinh hiển sẽ theo sau” (1 Phi. 1:10-11; xem thêm Khải 19:10).

Một hình thức cuối cùng của sự mặc khải là Lời được viết ra. Phần lớn Kinh Thánh là bản ghi chép về sự mặc khải, được đưa ra dưới nhiều hình thức mà chúng ta đã biết. Các giấc mơ và khải tượng đã được ghi lại, và việc truyền đạt trực tiếp lời của Đức Chúa Trời cho các tiên tri đã được viết ra. Khi Đức Chúa Trời nói chuyện trực tiếp với con người, họ ý thức được sự kiểm soát của Ngài. Khi những giấc mơ và khải tượng xảy ra, các cá nhân về cơ bản là những người tiếp nhận thông điệp của Chúa một cách thụ động. Rõ ràng là khi Đức Chúa Trời viết Mười Điều Răn bằng ngón tay của Ngài trên bảng đá, Môi-se không thể làm gì khác hơn là mang chúng đến cho tuyển dân.

Mặt khác, trái ngược với những người ý thức được quyền uy áp đảo của Đức Chúa Trời trong việc ban sự mặc khải của Ngài cho họ, một số trước giả viết Kinh Thánh có thể không có ý thức như vậy. Tuy nhiên Thánh Linh của Đức Chúa Trời hoạt động bên trong và thông qua tính cách của họ để bày tỏ lẽ thật của Ngài. Tâm trí và cảm xúc của họ hoàn toàn tham gia trong tiến trình này khi họ ghi lại lẽ thật của Đức Chúa Trời.  Thánh Linh của Đức Chúa Trời điều khiển họ để những gì họ viết ra chính là những gì Đức Chúa Trời muốn truyền đạt. Chúng ta có thể nói rằng trong hình thức tôn kính này, Đức Chúa Trời và con người được kết hợp chặt chẽ.

Điều tự nhiên là sự mặc khải đó chủ yếu xảy ra vào thời Tân Ước khi Đức Chúa Trời bởi Thánh Linh của Ngài bắt đầu ngự trị bên trong các tín đồ.

Tất cả những hình thức mặc khải này cho thấy rằng có một sự tiến bộ cơ bản trong các loại mặc khải được sử dụng trong suốt chiều dài lịch sử. Tất cả những phương pháp này, ngoại trừ sự mặc khải thông qua Con Đức Chúa Trời, có thể được tóm gọn lại dưới ba hình thức — sự hiện ra của Đức Chúa Trời; một số kiểu truyền thông trực tiếp hoặc lời tiên tri; và sự thần cảm hay sự soi dẫn. Các hình thức mặc khải tiến từ cái bên ngoài đến bên trong, từ những sự khác biệt đến sự gần gũi thân mật. Điều này rõ ràng theo sau sự tiến triển của toàn bộ mối quan hệ của Đức Chúa Trời với loài người. Trong Vườn Địa Đàng, A-đam và Ê-va bị xa cách Đức Chúa Trời vì tội lỗi. Nhưng qua sự cứu chuộc trong Đấng Christ, Đức Chúa Trời đưa các tín nhân đến gần Ngài và bởi Thánh Linh của Ngài. Ngài ngự trong lòng con người trong mối tương giao sâu đậm. Tuy nhiên, mặc dù có những khác biệt về hình thức và các mối quan hệ, Kinh Thánh không bao giờ phân biệt giá trị mặc khải của mỗi hình thức. Tất cả đều được Đức Chúa Trời bày tỏ như nhau.

Một số sự kiện về sự mặc khải đặc biệt có thể được ghi nhận. Đầu tiên, sự mặc khải đặc biệt bao gồm hành động và lời của Đức Chúa Trời. Trái ngược với nhiều học giả xem sự mặc khải đặc biệt của Đức Chúa Trời chỉ ở trong “những hành động quyền năng” của Đức Chúa Trời. Các hình thức khác nhau mà Đức Chúa Trời dùng để giao tiếp với dân Ngài chứng tỏ Ngài đã sử dụng cả hành động và lời nói. Tất cả các hình thức được đề cập có thể được phân loại theo một hoặc cả hai tiêu chí này. Nếu không có sự giải thích của Đức Chúa Trời về các hành động của Ngài, chúng ta sẽ không hiểu được đầy đủ. Nhiều người đã chứng kiến ​​cuộc xuất hành ra khỏi Ai Cập, cảnh phu tù của Israel dưới ách cai trị của đế quốc Babylon, sự chết của Đấng Christ, hoặc ngôi mộ trống. Nhưng tất cả sự kiện không có ý nghĩa như nhau. Ví dụ chỉ có sự mặc khải của Đức Chúa Trời mới cho chúng ta biết rằng việc Đấng Christ bị đóng đinh là “vì tội lỗi của chúng ta.” Trừ khi Đức Chúa Trời tiết lộ ý nghĩa các hành động của Ngài, chúng ta không bao giờ có thể chắc chắn về ý nghĩa đầy đủ của chúng.

Một sự bày tỏ qua lời nói cũng cần thiết cho một mối quan hệ cá nhân. Trong một tình huống giả định thì có thể một số người sẽ chọn điếc thay vì mù. Nhưng trên thực tế, người mù ít bị rối loạn cảm xúc hơn người điếc. Lý do liên quan đến tầm quan trọng của lời nói đối với mối quan hệ cá nhân được Bernard Ramm giải thích, “Các mối quan hệ cá nhân nồng thắm bị cuốn vào bởi những cuộc trò chuyện, và người nào khiếm thính thì không thể trải nghiệm nó. Thế giới không âm thanh còn bực bội hơn nhiều so với một thế giới không có thị giác.” Phim truyền hình là giải trí nhưng một bộ phim truyền hình bị cướp mất đi âm thanh thì cạn kiệt ý nghĩa. Trong cuộc sống cũng như trong phim truyền hình, từ ngữ chuyển tải những ý nghĩa; nó cần thiết cho mối quan hệ nồng ấm của tình bạn. Sự mặc khải đặc biệt của Đức Chúa Trời được thiết kế cho mối tương giao cá nhân. Và điều này đòi hỏi những lời được nói ra để chúng ta có thể hiểu các hành động của Đức Chúa Trời và biết cách phản hồi phù hợp.

Thứ hai, sự mặc khải đặc biệt mang tính cá nhân và bằng lời nói. Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời là chủ đề của chương sau. Nhưng ở đây cần lưu ý đơn giản rằng việc chúng ta xem xét các hình thức mặc khải đặc biệt chứng tỏ rằng không có sự phân đôi giữa Đấng Christ với tư cách là Ngôi Lời của Đức Chúa Trời và Lời phán của Đức Chúa Trời. Một số người có thể tập trung vào những lời trong Kinh Thánh mà không cần tương giao với Lời Hằng Sống là Chúa Giê-su mà Kinh Thánh nói đến. Một số người Do Thái vào thời Chúa Giê-su chăm chú nghiên cứu Kinh Thánh vì tin rằng nhờ đó nhận được sự sống. Nhưng Chúa Giê-su bảo họ: “Chính những lời Kinh Thánh này làm chứng về Ta; nhưng các ngươi không muốn đến cùng Ta, để được sự sống” (Giăng 5: 39-40). Thật không may, một số người “tin Kinh Thánh” biết nhiều về Kinh Thánh, nhưng họ không có mối quan hệ sống động với Đấng Christ.

Theo Kinh Thánh, không thể có sự phân cách thực sự giữa lời được viết ra và Ngôi Lời (Lời đã thành người). Trong giao tiếp với một người khác, lời nói của họ là cách chúng ta biết được suy nghĩ và cảm xúc của người đó. Theo nghĩa thực tế, lời nói của một người là sự mở rộng của cá nhân khi người đó tìm cách thu hẹp khoảng cách giữa mình và người khác. Vì vậy, Đức Chúa Trời hằng sống đã đến thế gian trong thân vị của Con Ngài để bày tỏ tấm lòng và ý muốn của Ngài cho nhân loại qua phương tiện ngôn ngữ.

Thứ ba, mặc khải đặc biệt chỉ có thể hiểu được trong bối cảnh của mặc khải phổ quát. Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài trong công việc của tay Ngài và trong mối giao tiếp cá nhân. Trên thực tế, người nghệ sĩ, kiến ​​trúc sư hay chúng ta đều bày tỏ về bản thân trong những gì chúng ta làm. Bàn làm việc của một người có gọn gàng hay lộn xộn hay không cũng tiết lộ điều gì đó về cá nhân đó. Một họa sĩ cũng giao tiếp bằng lời với gia đình và bạn bè của mình, và những lời đó không chỉ đơn giản là nằm trong các bức tranh nói thay cho anh. Vì vậy, Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài trong sự tráng lệ và tuyệt vời của các công trình tạo dựng và cũng trong sự giao tiếp trực tiếp và cá nhân với con người.

Đây là trường hợp của A-đam và Ê-va trong vườn địa đàng. Như Warfield giải thích, “Ấn tượng mạnh mẽ mà Kinh Thánh truyền đạt cho chúng ta là tổ phụ con người ở với Chúa trong vườn Ê-đen, và vui vẻ trong mối tương giao với Ngài tức thì, chứ không chỉ đơn thuần là suy ngẫm trong sự hiệp thông…con người có cái nhìn trực tiếp về Đức Chúa Trời và được nói chuyện trực tiếp với Ngài.”

Sự xâm nhập của tội lỗi đem đến sự xa cách thuộc linh khỏi Đức Chúa Trời và cùng với đó là sự mất mát tai hại về mối giao tiếp cá nhân. Giống như A-đam, tội nhân cảm thấy không thoải mái trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Sự thánh khiết của Ngài đã khiến dân Y-sơ-ra-ên cầu xin Môi-se nói chuyện với Đức Chúa Trời thay cho họ. Nhưng trong tình yêu thương, Đức Chúa Trời đã tìm kiếm những con người tội lỗi, Ngài ban ân điển đưa họ trở lại mối tương giao đã được thiết kế. Lịch sử Kinh Thánh tiết lộ rằng sự giao tiếp này đã phát triển và sẽ phát triển cho đến khi một ngày nào đó các tín nhân sẽ được về nhà sống trong sự hiện diện của Ngài.

Về bản chất sự mặc khải đặc biệt của Đức Chúa Trời và sự giao tiếp cá nhân thuộc về nhau. Chúa phát ngôn lời của Ngài và hành động trong lịch sử để khôi phục mối quan hệ của chúng ta với Ngài. Nhưng nếu không có sự hiểu biết về Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa Toàn Năng và Đấng cai trị vạn vật, Đấng công bình và tốt lành, thì những bài học trên đây không thể hiểu được hoặc đáng tin cậy. Sẽ khó chấp nhận Ngài là Đấng Cứu Chuộc nếu chúng ta không biết Ngài cũng là Đấng Tạo Hóa.

KẾT LUẬN

Nhiều người sống như thể không có Đức Chúa Trời, và một số người loại trừ Chúa theo quan điểm và học thuyết của họ. Nhưng các cuộc khảo sát hiện đại cũng như lịch sử nhân loại đã chứng minh sự thật trong Kinh Thánh rằng con người công nhận sự thực hữu của Đức Chúa Trời (mặc dù không phải lúc nào họ cũng thừa nhận điều đó). Ngài đã tạo ra chúng ta để biết Ngài, và do đó Ngài làm cho chính Ngài được biết đến. Sự mặc khải của Ngài đáp ứng đầy đủ các câu hỏi của chúng ta về ý nghĩa của sự tồn tại con người. Qua thế giới tự nhiên, Ngài bày tỏ sự tồn tại vĩnh cửu và quyền năng toàn năng của Ngài. Qua hành động và Lời, Ngài truyền đạt thuộc tính của Ngài như một Đức Chúa Trời của tình yêu thương. Tất cả những gì Ngài bày tỏ chính Ngài để chúng ta có thể biết Ngài, Đấng được biết là Đấng tự hữu và hằng hữu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5
 Giáo Huấn Của Kinh Thánh  Là Duy Nhất?

 

KINH THÁNH là sự mặc khải đặc biệt từ Đức Chúa Trời, nó chính là Lời của Đức Chúa Trời. Nhưng các nhóm tôn giáo khác cũng tuyên bố rằng các kinh sách của họ được viết ra trong sự thần cảm hoặc được Đức Chúa Trời soi sáng. Chẳng hạn, người Hồi giáo tin rằng sách Kinh Koran được soi dẫn từ vị thần của họ; họ nói rằng thiên sứ trưởng Gáp-ri-ên đã tiết lộ điều đó cho Mô-ha-mét. Người Mormon tin rằng Joseph Smith đã nhận được một sự mặc khải trực tiếp từ Đức Chúa Trời được khắc trên những tấm bảng vàng, sau đó ông đã biên dịch và xuất bản chúng với tên gọi là Sách Mormon. Các tôn giáo khác cũng có những tác phẩm mà họ xem là thánh. Những tín đồ của họ xem những tác phẩm này truyền đạt những chân lý cơ bản.

Bởi vì những tác phẩm khác nhau này có những thông điệp khác nhau, nên tất cả chúng không thể đến từ Đức Chúa Trời là Đấng không thể nói dối. Vậy thì làm sao chúng ta có thể biết được “sách kinh” nào trên thực tế là lời phán của Đức Chúa Trời? Tất nhiên, chúng ta không thể để một số người có thẩm quyền cao trong các giáo hội nói với chúng ta rằng “Đây là tiếng nói của Đức Chúa Trời” hoặc “Đây không phải”. Nếu có ai đưa ra quyết định như vậy, người đó phải là người có thẩm quyền trên Đức Chúa Trời. Nhưng điều này là không thể nếu chúng ta chấp nhận định nghĩa chung về Đức Chúa Trời là Đấng Tối cao.

Tiếng phán của Đức Chúa Trời đến với chúng ta phải được chứng minh là xác thực. Nghĩa là, khi Đức Chúa Trời phán chúng ta là tạo vật của Ngài, chúng ta phải có khả năng nhận ra lời đó là tiếng phán của Đức Chúa Trời. Chúng phải nổi bật so với những tiếng nói khác. Điều chúng ta tìm thấy chính là khi chúng ta so sánh Kinh Thánh với những lời tuyên bố khác. Kinh Thánh mang dấu ấn của một cuốn sách siêu nhiên. Chương này thảo luận về những lời dạy độc nhất của Kinh Thánh và chương 6 xem xét một số sự kiện khác về Kinh Thánh nhằm chỉ ra đặc tính siêu nhiên của nó.

Khi xem xét những lời dạy trọng tâm của Kinh Thánh, chúng ta thấy rằng phạm vi và uy quyền của chúng vượt xa tất cả các tác phẩm khác của con người. Tất cả những lời hay nhất của các bậc thầy, đơn giản là không thể so sánh với những giáo huấn trong Kinh Thánh. Như F. W. Farrar đã viết, “Những vấn đề nào mà cuốn sách này chưa được khám phá? Độ sâu nào mà chưa được thăm dò? Độ cao nào mà chưa được xác định? Lời an ủi nào mà chưa được nói ra? Lương tâm nào mà chưa bị khiển trách? Tấm lòng nào mà chưa được chạm đến?”

Tác giả J.G. Whittier đã viết:

“Chúng ta tìm kiếm một chân lý trong thế gian; để chọn lấy

Cái tốt đẹp, cái trong sáng, cái đẹp đẽ

Từ bảng đá khắc chữ và cuộn giấy viết

Từ tất cả những cánh đồng hoa cằn cỗi của tâm hồn;

Và, khi những người tìm kiếm điều tốt nhất đang mòn mỏi

Chúng ta quay lại với đầy những câu hỏi,

Để tìm thấy nơi tất cả các nhà hiền triết đã nói

Có phải tất cả được tìm thấy trong Quyển Sách mà những bà mẹ chúng ta đã đọc.”

Bên cạnh việc Kinh Thánh vượt xa các tác phẩm của con người trong phạm vi rộng lớn về thông điệp, lẽ thật cốt yếu của Kinh Thánh thực sự trái ngược với suy nghĩ tự nhiên của con người. Toàn bộ thông điệp của Kinh Thánh minh họa rõ ràng lời tuyên bố của Đức Chúa Trời qua tiên tri Ê-sai: “Ý tưởng ta chẳng phải ý tưởng các ngươi, đường lối các ngươi chẳng phải đường lối ta. Vì các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối ta cao hơn đường lối các ngươi, ý tưởng ta cao hơn ý tưởng các ngươi cũng bấy nhiêu” (Ê-sai. 55: 8-9).

 

KHÁI NIỆM VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI

 

Từ đầu đến cuối, Kinh Thánh tập trung vào Đức Chúa Trời. Quan điểm này được ghi trong 1 Sử-ký 29:11, “Hỡi Đức Giê-hô-va sự cao cả, quyền năng, vinh quang, toàn thắng, và oai nghi đáng qui về Ngài; vì muôn vật trên các từng trời và dưới đất đều thuộc về Ngài. Đức Giê-hô-va ôi! nước thuộc về Ngài; Ngài được tôn cao làm Chúa tể của muôn vật.” Ngài là Đức Chúa Trời quyền năng, Đấng cai trị vũ trụ, hướng mọi vật đến mục đích cuối cùng của chúng vì sự vinh hiển của Ngài.

Ngoài ra, Đức Chúa Trời là Đấng hoàn toàn thánh khiết, và sự thánh khiết của Ngài đã tôn cao Ngài lên xa khỏi con người tội lỗi. Sau khi hình dung về Đức Chúa Trời trong sự thánh khiết đáng kinh ngạc, Ê-sai đáp: “Khốn nạn cho tôi! Xong đời tôi rồi!” (Ê-sai 6:5). Cùng với tội lỗi, chúng ta không thể tồn tại trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, cùng với sự thánh khiết của Ngài, Ngài có lòng nhân từ, tình yêu thương và lòng thương xót vô hạn. “Đức Giê-hô-va làm lành cho muôn người,” Đa-vít tuyên bố, “sự từ bi Ngài giáng trên các vật Ngài làm nên” (Thi. 145: 9). Trong sự thánh khiết, yêu thương và công bình, Đức Chúa Trời đã vạch ra một kế hoạch cứu rỗi cho những con người tội lỗi chúng ta.

Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh, đặc biệt là trong sự thánh khiết của Ngài, trái ngược với con người tội lỗi là lẽ tự nhiên; do đó Ngài không phải là một phát minh của con người, như nhiều người đã khẳng định. Nhà biện giáo Cơ đốc Cohn Chapman đã nói, “Điều khó chịu về Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh là Ngài thường xuyên cắt ngang những ước muốn và khao khát cá nhân của chúng ta. Ngài không cho phép chúng ta ích kỷ và luôn đối đầu với chúng ta bằng một tiêu chuẩn cao không thể thỏa hiệp. Đây không phải là kiểu Đức Chúa Trời mà con người làm ra khi con người đặt mục tiêu làm ra một vị thần theo ảnh tượng của chính mình.”

Bản chất của Đức Chúa Trời là mầu nhiệm mà không một con người nào có thể hiểu hết được. Trong suốt lịch sử, con người đã tin vào nhiều vị thần (đa thần) hoặc một vị thần Nhất thể duy nhất. Chỉ riêng Kinh Thánh trình bày về Đức Chúa Trời duy nhất, đồng thời cũng là một Đức Chúa Trời Ba ngôi — Cha, Con và Thánh Linh. Khái niệm Ba Ngôi này về Đức Chúa Trời không mâu thuẫn với lý trí của con người, như một số người suy nghĩ. Ba Ngôi không có nghĩa là có ba Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là một Đấng Thánh tồn tại đời đời trong ba thân vị. Mặc dù không phải là một sự trái ngược phi lý, nhưng khái niệm về Đức Chúa Trời Ba Ngôi Hiệp Một không hoàn toàn dễ hiểu đối với tâm trí con người, cũng như không được tìm thấy trong bất kỳ tôn giáo nào khác. Tất cả những điều này lập luận rằng Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh  không phải là một sự trình bày, diễn đạt từ con người mà là một sự mặc khải thiên thượng.

Hơn nữa, về bản chất ba ngôi, Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh trả lời cho sự tìm kiếm của con người về sự hiểu biết Đức Chúa Trời và mối quan hệ với Ngài sâu sắc hơn bất kỳ tôn giáo nào khác. Niềm tin vào một vị thần tối cao được tìm thấy trong nhiều tôn giáo, thậm chí một số tôn giáo có nhiều vị thần thấp hơn. Nhưng các vị thần trong các hệ thống tín ngưỡng đó siêu phàm và xa vời đến mức không thể biết được. Giống như một trong những vị thần của người A-thên lập ra vào thời của sứ đồ Phao-lô là một “thần không biết” (Công vụ 17:23). Người Hindu, khi mô tả bản chất của một vị thần, đã sử dụng những cách diễn đạt như “Bóng tối thánh” hoặc “Đấng mà không ai có thể nói lên được.” Đối với người theo đạo Phật, bất cứ thực tại nào cũng không thể được định nghĩa hoặc mô tả. Họ nói rằng chúng tôi chỉ có thể giữ một “sự im lặng kính phục” khi đối mặt với những điều không thể biết được. Tương tự như vậy, các tôn giáo Phi châu cổ xưa chỉ nói về một “chủ thể không biết”. Sự nhấn mạnh của Hồi giáo về quyền năng siêu đẳng nơi thần của họ là thánh Allah. Họ cũng xem Allah như là một vị thần, về cơ bản nằm ngoài tầm hiểu biết với ít sự liên kết với con người và không có đặc tính tình yêu thương!

Sự hiểu biết của Do Thái giáo về Đức Chúa Trời, dựa trên Cựu Ước, có nhiều điểm tương đồng với Đức Chúa Trời của Cơ đốc giáo. Nhưng sự bác bỏ của Do Thái giáo về bản chất Ba Ngôi của Đức Chúa Trời cũng dẫn đến một Đức Chúa Trời khác xa, khi so sánh với Đức Chúa Trời của Cơ đốc giáo gồm ba ngôi vị là Cha, Con và Thánh Linh. Môi-se chỉ được phép nhìn lướt qua phía sau vinh quang của Đức Chúa Trời, nhưng trong Chúa Giê-su, Đức Chúa Trời đã đích thân bước vào dòng lịch sử nhân loại. Phi-líp đã nói, “Lạy Chúa, xin chỉ Cha cho chúng tôi, thì đủ rồi” (Giăng 14: 8, xem thêm 1:14, 18). Chỉ khi Đức Thánh Linh là Đức Chúa Trời chứ không phải là một tạo vật, thì nhờ Ngài chúng ta mới có thể có mối tương giao mật thiết với chính Đức Chúa Trời. Herman Bavinck viết trong sách Giáo Lý về Đức Chúa Trời: “Niềm tin tôn giáo không thể hài lòng với bất kỳ điều gì kém hơn Đức Chúa Trời. Trong Đấng Christ, chính Đức Chúa Trời đến với chúng ta, và qua Đức Thánh Linh, Ngài truyền đạt chính Ngài cho chúng ta.”

Đức Chúa Trời duy nhất trong Kinh Thánh đáp ứng nhu cầu của chúng ta không chỉ về sự mặc khải mà còn cả về sự cứu chuộc. Nhà cải chánh vĩ đại Martin Luther đã nói rất đúng, “Không có cách nào khác hơn là thông qua một thân vị đời đời, chúng ta có thể được cứu khỏi sự sa ngã khủng khiếp của tội lỗi và sự chết đời đời; chỉ một thân vị như vậy mới có thể có quyền trên tội lỗi và sự chết, để bôi xóa tội lỗi của chúng ta và thay vào đó ban cho chúng ta sự công bình và sự sống đời đời; không một thiên sứ hay tạo vật nào có thể làm điều này, nhưng phải do chính Đức Chúa Trời làm.” Chỉ có Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh mới ban sự cứu chuộc và đó chính là Đức Chúa Trời mà chúng ta phải thờ phượng.

Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh, là Cha, Con và Thánh Linh, cũng là lời giải thích duy nhất về một Đức Chúa Trời yêu thương đời đời. Một Đức Chúa Trời duy nhất không thể bày tỏ tình yêu thương trong mối quan hệ cá nhân nếu không tạo ra một đối tượng cho tình yêu thương của Ngài. Chỉ khi có những mối quan hệ cá nhân với chính Đức Chúa Trời thì Ngài mới có thể là Đức Chúa Trời – Ngài là “tình yêu thương” với bản chất từ ​​muôn thuở. Chỉ khi Đức Chúa Trời có sự liên kết trong bản thể của Ngài thì Ngài mới có thể cung cấp một mô hình cho sự hiệp nhất trong mối liên hệ giữa chúng ta với nhau (xem Giăng 17:21-22).

Helmut Thielicke viết trong sách Niềm Tin Của Người Giảng Tin Lành:

“Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh cũng đáp ứng nhu cầu về một Đấng siêu việt — tể trị trên tạo vật và lịch sử như là một Đấng có toàn quyền — và về một Đấng đang hiện diện với chúng ta. Con người luôn có xu hướng đánh mất Đức Chúa Trời bởi một trong hai tà thuyết. Thứ nhất, Ngài có thể bị lạc trong một sự trừu tượng đến nỗi Ngài hầu như không thể được biết đến, điều này đúng trong nhiều tôn giáo của con người. Thứ hai, Ngài có thể được coi là nội tại bên trong sự sáng tạo đến mức về cơ bản Ngài bị lu mờ bởi chính các tiến trình của tự nhiên và lịch sử, như trong thuyết phiếm thần và thần học tiến trình (process theology). Chỉ có Đức Chúa Trời Ba Ngôi bước vào lịch sử để bày tỏ chính Ngài, đồng thời vẫn ở bên ngoài lịch sử với tư cách là một Đức Chúa Trời siêu việt.”

Bởi vì Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh nằm ngoài lý trí của con người, do đó Ngài không thể là sản phẩm của con người. Như tác giả W. G. T. Shedd  đã cảnh báo cách đây nhiều năm, “khi một người phủ nhận giáo lý cơ bản của Cơ đốc giáo (Đức Chúa Trời Ba Ngôi), người đó có thể đánh mất linh hồn của mình, nhưng khi cố gắng để hiểu thấu đáo giáo lý này, người đó có thể sẽ mất trí khôn.” Là những người tin Chúa, chúng ta vui mừng được thờ phượng Đức Chúa Trời là Đấng tối cao, vĩ đại và bản chất của Ngài chúng ta không thể hiểu hết được bằng trí óc hữu hạn của mình. Vì chính trong bản chất ba ngôi của Ngài, Ngài làm thỏa mãn ước muốn sâu xa nhất trong lòng chúng ta vì một mối quan hệ với Ngài là Đức Chúa Trời ở trên chúng ta, vì chúng ta và ở trong chúng ta.

 

 

KHÁI NIỆM VỀ ĐẤNG CHRIST

Trong tất cả các tác phẩm thánh của các tôn giáo khác, không có người nào giống như Chúa Giê-su Christ. Được sinh ra bởi một nữ đồng trinh trong một nơi thấp hèn, Ngài là Con của Đức Chúa Trời. Ngài là Đấng tạo dựng muôn vật, nhưng Ngài đã chết trên cây thập tự bởi tay của con người. J.N.D Anderson tóm tắt vị trí độc nhất của Đấng Christ trong vòng tất cả các tôn giáo. “Các tôn giáo khác, thực sự, có thể bao gồm cả việc tin rằng Đức Chúa Trời, hoặc một trong các vị thần, hiện thân một lần hoặc nhiều lần, trong hình dạng con người, hoặc trong một số ‘vật chất nào đó – ánh sáng thánh’ đã truyền từ một cá nhân này sang một người kế thừa thuộc thế hệ khác. Nhưng chỉ riêng Cơ đốc giáo dám tuyên bố rằng ‘Đấng duy nhất, toàn tại, toàn tri, là căn nguyên của mọi sự tồn tại’ đã can thiệp cách độc nhất vào sự sáng tạo của mình, không phải bằng cách giả định hình dạng đơn thuần hay vẻ ngoài của một con người, mà bằng cách thực sự trở thành Con Người trong hình dạng bằng xương bằng thịt; không phải bằng cách sống và giảng dạy đơn thuần, nhưng bằng cách thực sự chết như một người phạm tội trọng cho loài người chúng ta và cho sự cứu rỗi của chúng ta và đã đóng ấn cho lẽ thật này bằng cách sống lại từ cõi chết.”

Đấng Christ là duy nhất về nguồn gốc và về bản chất Con Người và sự sống của Ngài. Ngài đã bước đi trên đất trong những hình thái bình thường của một con người. Tuy nhiên, Ngài không phạm tội (Giăng 8:46). Ngài không bao giờ phải xin lỗi khi cầu xin sự tha thứ cho bất cứ điều gì Ngài đã làm. Những người đương thời đã kinh ngạc trước sự dạy dỗ của Ngài. “Chẳng hề có người nào đã nói như người nầy!” (Giăng 7:46). “Vì Ngài dạy như là có quyền, chớ không giống các thầy thông giáo” (Ma-thi-ơ 7:29). Ngài không bao giờ xin lời khuyên hay sự cho phép của con ngưởi. Những phép lạ Ngài làm cũng chỉ ra sự độc nhất vô nhị. “Người nầy là ai, mà gió và biển đều vâng lịnh người?” (Ma-thi-ơ 8:27). “Người ta chẳng bao giờ nghe nói có ai mở mắt kẻ mù từ thuở sanh ra” (Giăng 9:32).

Các nhà lãnh đạo tôn giáo khác tuyên bố dạy về cách sống mà họ tìm thấy. Nhưng Đấng Christ tuyên bố Ngài là con đường, là sự sống (Giăng 14:6). Người Hồi giáo giải thích rằng Mô-ha-mét là một tiên tri truyền đạt sự mặc khải của Allah, nhưng ông không phải là nền tảng cho niềm tin của họ. Đức Phật cũng đã không kêu gọi mọi người đến với ông. Khi ông chết, những môn đệ đã hỏi làm thế nào để họ có thể nhớ đến ông. Câu trả lời của ông là “có nhớ đến tôi hay không thì không quan trọng. Điều cốt yếu là nằm ở lời dạy của tôi.” Nhưng không lâu trước khi Chúa Giê-su qua đời, khi thiết lập Tiệc thánh, Ngài đã truyền lệnh cho các môn đồ, “Hãy làm điều này để nhớ đến Ta” (Lu-ca 22:19).

Griffith Thomas đã chỉ ra rằng “Cơ đốc giáo là tôn giáo duy nhất trên thế giới nương dựa vào chính Đấng đã sáng lập ra nó.” Ông nói thêm, “Không có lời nào trong sự dạy dỗ của Ngài mà Ngài không khiến cho con người phụ thuộc vào chính Ngài theo một cách nào đó.” Điều này là tất nhiên, bởi vì không có người sáng lập tôn giáo nào trong lịch sử khẳng định rằng họ là Chân Thần duy nhất. Một số người đã nói về Chúa Giê-su, “Nếu Ngài không phải là quyền lực siêu phàm phán dạy chúng ta, thì đó chắc chắn là sự kiêu ngạo siêu phàm.”

Tuy nhiên, trong tất cả sự hoàn hảo về đạo đức, sự dạy dỗ có thẩm quyền và việc thi hành phép lạ của Chúa Giê-su, Ngài chưa bao giờ tỏ ra kiêu hãnh hay tỏ thái độ xa cách với mọi người. John Stott nói rằng có một sự nghịch lý nơi Đấng Christ mà không thể giải thích theo cách tự nhiên được. “Không hề có một chút gì về sự tự cho mình là quan trọng. Ngài rất khiêm nhường. Chính nghịch lý này đã khiến mọi người bối rối. Ngài kết hợp trong chính Ngài lòng tự trọng cao nhất và sự hy sinh lớn nhất. Ngài biết chính Ngài là Chúa của tất cả mọi người, nhưng Ngài tự nguyện trở thành tôi tớ cho tất cả mọi người. Ngài nói rằng Ngài sẽ phán xét thế gian, nhưng Ngài đã rửa chân cho các môn đồ của mình.”

Có phải các trước giả Phúc âm đã dựng nên một bức chân dung của một người như vậy, hay họ đang tường thuật lại những gì họ đã thấy – sự mặc khải độc nhất của Đức Chúa Trời? Bức chân dung rất hạn chế về Ngài được các trước giả Kinh Thánh làm chứng cho những người sau này. Việc đọc truyện thần thoại của các dân tộc khác nhau cho thấy xu hướng của con người muốn tô điểm sự thật bằng trí tưởng tượng bay bổng. Ngay cả những tác phẩm bên ngoài Kinh Thánh nói về Chúa Giê-su, kể về thời niên thiếu của Ngài, miêu tả Ngài như một thần đồng đã hướng dẫn các thầy của Ngài những bí ẩn trong bảng chữ cái và làm kinh ngạc gia đình và bạn cùng lứa bằng những việc làm siêu phàm. Theo những sách thứ kinh này, vào một dịp nọ khi mới 5 tuổi, Chúa Giê-su được cho là đã tạo hình mười hai con chim sẻ bằng đất sét vào ngày Sa-bát. Khi Giô-sép hỏi về việc làm như vậy trong ngày thánh, Chúa Giê-su đã vỗ tay và chim sẻ bay đi hót líu lo.

Ngược lại, Kinh Thánh miêu tả những phép lạ của Đấng Christ với sự rõ ràng, đơn giản. Mục đích của chúng không phải để mua vui cho khán giả hoặc giải trí cho những người hiếu kỳ, nhưng để chứng tỏ sự vinh hiển của Cha phù hợp với mục tiêu của cuộc đời Ngài. Leon Morris chỉ ra một thực tế đáng kinh ngạc là không ai trong số những người viết các sách Phúc âm tường thuật về Chúa Giê-su mà đã từng tôn vinh Ngài. Họ thỉnh thoảng tường thuật Ngài được nhiều người ca ngợi, nhưng bản thân họ không khen ngợi Ngài một lời nào. Điều này thật khó giải thích nếu những lời kể của họ là những câu chuyện phóng đại nhằm làm cho Chúa Giê-su trở thành một điều gì đó khác hơn một con người. Một số người cho rằng các trước giả Kinh Thánh đã tôn thờ Đấng Christ giống như Đức Phật được các đệ tử của ông tôn thờ! Lưu ý rằng phải đến nhiều thế kỷ sau khi Đức Phật mất, ông mới được coi là một vị thánh và chỉ trong một phạm vi giới hạn. Nhưng bức chân dung về Chúa Giê-su trong Thánh Kinh là Con của Đức Chúa Trời được viết trong khi những người biết Ngài vẫn còn sống trong suốt thời gian Ngài còn trên đất.

Tất cả các bằng chứng đều chỉ ra một thực tế là các trước giả Phúc Âm đã cho chúng ta một lời tường thuật khách quan về Con Người độc nhất này ở giữa vòng họ đang sống. Họ làm như vậy vì họ muốn người khác tin vào sự trung thực của các sách phúc âm. Hơn nữa, Con Người (Christ) mà họ mô tả là quá siêu việt đến mức khiến người ta không nghĩ rằng Ngài có thể được sáng tạo  từ các tác giả bình thường, đặc biệt là những ngư dân vùng Ga-li-lê. Ngay cả Jean-Jacques Rousseau (1712-1778), nhà triết học đã mở đường cho chủ nghĩa tự do nhân văn, cũng thừa nhận nguồn gốc siêu nhiên của phúc âm. Ông nói “Phúc âm bày tỏ một lẽ thật quá vĩ đại, nổi bật, và hoàn hảo không thể bắt chước và người phát minh ra nó còn đáng thán phục hơn một anh hùng.” Nếu các trước giả Phúc âm nghĩ ra câu chuyện hư cấu, thì chúng ta phải thừa nhận lời của Robert Dabney nói rằng “những kẻ nói dối này đã tạo ra một hình mẫu về lẽ thật cao quý nhất và đẹp nhất từng thấy ở loài người. Hơn nữa, họ đã sử dụng tất cả nghệ thuật kỳ diệu để tạo nên một bức chân dung tưởng tượng mà kết quả là lên án sự giả dối của chính họ.”

Có lẽ hầu hết tất cả hình ảnh Đấng Christ được các trước giả Kinh Thánh miêu tả đều khó chịu đối với con người mang bản chất tội lỗi, đến nỗi không thể tin rằng người ta có thể hoặc sẽ bịa ra một ý tưởng về một Đấng như vậy. H.G. Wells, mặc dù không phải là một Cơ đốc nhân chính thống, nói rằng Chúa Giê-su “giống như một thợ săn đạo đức đang đào bới nhân loại ra khỏi những cái hang ẩn náu mà họ đã sống cho đến nay …. Có lạ gì khi con người bị lóa mắt và mù lòa đã phản đối chống lại Ngài? … Chúng ta sẽ ngạc nhiên biết bao khi có thể hiểu biết hết về người đàn ông Ga-li-lê này!”

BẢN GHI CHÉP CỦA KINH THÁNH VỀ CON NGƯỜI

Ai sẽ vẽ một bức tranh về những người như chúng ta tìm thấy trong Kinh thánh? Xu hướng của con người là đề cao bản thân hơn những gì họ thực sự là, hoặc hạ thấp bản thân mình xuống dưới bản chất thực sự của họ.

Một mặt, các triết học và thần học của con người thường đưa con người lên cấp độ thần thánh. Nhà triết học Hy Lạp Heraclitus (khoảng năm 540-480 trước CN) tuyên bố, “Các vị thần là những người bất tử, và loài người là những vị thần phàm trần.” Rất lâu sau đó, nhà triết học người Đức Georg Hegel (1770-1831) đã nói về “thần tính tiềm ẩn” của tất cả mọi người, và các nhà thần học nói về “tia lửa thần thánh” trong con người cần được thổi bùng lên thành ngọn lửa.

Mặt khác, với ảnh hưởng gần đây của quá trình tiến hóa tự nhiên, các nhà triết học coi con người là động vật thượng đẳng – là quí tộc trong các động vật. Theo một số nhà tiến hóa, chúng ta chỉ là những sinh vật phức tạp mà hành động của chúng ta được kiểm soát và chịu ảnh hưởng bởi môi trường sống.

Sự vĩ đại của con người – sự tự do, sự sáng tạo, những khả năng tiềm tàng dường như không giới hạn đối với các động vật khác khiến chúng ta cảm thấy bối rối về bản chất của chính mình. Những câu hỏi lớn mà con người đặt ra – Tôi là ai? Tôi đến từ đâu? Mục đích tồn tại của tôi là gì? —Không bao giờ có thể trả lời được từ nghiên cứu về tự nhiên. Chỉ có sự mặc khải từ Đấng Tạo Hóa mới có thể trả lời câu hỏi của chúng ta. Và không nơi nào ngoại trừ trong Kinh Thánh, chúng ta tìm thấy một bức tranh về bản chất con người giải thích cho thực tế tồn tại của con người.

Chúng ta là những tạo vật trên đất (Sáng thế Ký 2:7), nhưng chúng ta cũng được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời (1:27). Chúng ta thuộc về thế giới này, và do đó chúng ta phải lao động để duy trì môi trường tự nhiên như ngôi nhà của mình. Nhưng chúng ta cũng được tạo dựng để tương giao với Đức Chúa Trời, và do đó nếu không có mối tương giao này chúng ta không bao giờ có thể thỏa lòng với bản chất con người của mình.

Nhưng nan đề về con người hiện tại không chỉ bắt nguồn từ bản chất của chúng ta là những tạo vật. Nó đến từ tội lỗi. Nếu chúng ta là ảnh tượng của Đức Chúa Trời, tại sao chúng ta không hành động giống như Đức Chúa Trời? Một lần nữa Kinh Thánh cung cấp câu trả lời theo cách mà chúng ta không mong đợi từ những trước giả. Theo Kinh Thánh, phẩm chất của chúng ta bị hoen ố vì tội lỗi là cái mà chúng ta phải chịu trách nhiệm. Để chắc chắn, chúng ta phải nhận ra sự thất bại của mình trong những việc chúng ta làm. Chúng ta phải nhận ra sự “vô nhân đạo” của mình đối với người khác. Nhưng nếu không có sự mặc khải thiên thượng, mọi người sẽ cố gắng giải thích lỗ hổng này bằng sự thiếu hiểu biết hoặc qua một số dấu hiệu tiến hóa từ một động vật hung dữ. Tất cả những lời giải thích này giúp con người hoàn toàn thoát khỏi trách nhiệm tội lỗi; họ không thừa nhận sự nổi loạn cố ý chống nghịch lại Đức Chúa Trời. Khi tội lỗi được xem như là sản phẩm đáng thương của môi trường tiến hóa, thì loài người trở nên thấp kém hơn con người vốn được tạo nên.

Tuy nhiên, Kinh Thánh tuyên bố rằng chúng ta là những tội nhân phải chịu trách nhiệm cho chính bản thân. Kinh Thánh xác nhận sự tự do của con người, quyền để hành động theo sự lựa chọn cá nhân. Con người là cao quý, nhưng đã sa vào tội lỗi. Theo nhà thần học Reinhold Niebuhr, “Quan điểm của Cơ đốc giáo về bản chất con người có liên quan đến một tuyên bố về địa vị cao hơn của con người so với các tạo vật khác, nhưng đồng thời cũng xem cái xấu của con người nghiêm trọng hơn so với các loài khác.” Thực ra, Kinh Thánh trình bày tình trạng con người một cách hoàn hảo. Mặc dù nhiều người không làm trò đồi bại, nhưng ngay cả những anh hùng đức tin cũng không thể che giấu được những điểm yếu của họ. Những con người vĩ đại của đức tin được cho là những tội nhân cần sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.

Có lẽ sự mô tả trong Kinh Thánh về sự xáo trộn nội tâm trong ý thức của chúng ta cung cấp một bằng chứng sâu sắc của bản chất con người. Robert Dabney viết về sự mặc khải sâu sắc và sầu muộn của ý thức bên trong chúng ta, bao gồm sự trống rỗng của những mưu toan cá nhân mà chúng ta bị thúc đẩy từ một lương tâm hư hỏng đầy dục vọng, nhưng lại bất lực trong việc thực hiện đổi mới phẩm hạnh đạo đức. Sau đó, ông thấm thía hỏi: “Bằng sự khôn ngoan nào mà Kinh Thánh đã tiết lộ một cái nhìn sâu sắc hơn, trung thực hơn và thấu suốt hơn bất kỳ một triết lý nhân sinh nào, một cái nhìn thấu vào sâu thẳm bên trong lương tâm khốn khổ chúng ta? Khi tâm hồn tội lỗi của con người tìm kiếm một chân lý trong những tiếng rên rỉ hối hận và nỗi thống khổ của mình, há đó chẳng phải là từ tiếng nói của Đấng mà đôi mắt của Ngài đang nhìn thấu đến, dò xét lòng của những đứa con loài người?”

 

KHÁI NIỆM CỦA KINH THÁNH VỀ SỰ CỨU CHUỘC

Tất cả các tôn giáo đều cung cấp một số phương cách để giải thoát cuộc sống đau khổ của con người và mang lại hòa bình và hạnh phúc. Nhưng sự cứu rỗi được bày tỏ trong Kinh Thánh chỉ nói về một phương cách thiên thượng duy nhất. Các phương cách “cứu rỗi” khác nhau được tìm thấy trong các tôn giáo trên thế giới đều dựa trên một khái niệm: Sự giải thoát đến từ những nỗ lực của con người. Điều này được minh họa trong câu chuyện sau đây về một số người theo đạo Hindu.      Chúng tôi quay lưng lại với dòng sông và đến một bãi đất trống, lần theo con đường mòn bằng đá giữa các cánh đồng, được bao bởi bức tường đất sét thấp và những bụi gai. Trời bắt đầu nắng lên sau mỗi bước chân của chúng tôi trên con đường đất bụi. Sau một lúc, chúng tôi gặp một người đàn ông trẻ tuổi, nằm thẳng trên mặt đất và dường như đang tập thể dục. Anh ta chồm dậy, vươn tay trái về phía sau hết mức có thể, nhặt một viên đá từ một đống đá nhỏ nằm ở đó, rồi nằm thẳng người trên mặt đất, vươn tay phải về phía trước càng xa càng tốt, và đặt viên đá đó lên một đống đá nhỏ tương tự …. Tiến sĩ Govindam giải thích với tôi rằng người thanh niên này không được phép nói chừng nào anh ta còn say mê với hình thức parikrama (vòng luân hồi) đặc biệt đáng khen này. 108 viên sỏi phải được thu lượm và sau đó di chuyển từng viên sỏi đến một chỗ nào đó, như cách mà người thanh niên đã làm. Sau khi tất cả 108 viên sỏi đã được di chuyển với khoảng cách khoảng hai bước chân, thì chu kỳ này lập lại với từng viên sỏi. Vậy thì phải mất bao lâu để thực hiện việc làm này theo cách này? Có lẽ vài tuần, hoặc vài tháng. Chúng tôi đi qua những người mộ đạo khác là người chọn cách chuộc tội này, trong số đó có một góa phụ già. Tiến sĩ Govindam giải thích với chúng tôi rằng có lẽ bà ấy đang làm việc đó để nhận lấy công đức cho chồng mình ở thế giới bên kia …. Nhiều tuần sau đó, chúng tôi thấy bà ấy vẫn ở đó cách nơi mà chúng tôi đã nhìn thấy bà lần đầu tiên vài kilômet. Bà ấy dường như yếu đến nỗi cứ sau hai mươi mét là bà ấy nằm kiệt sức bên cạnh đống đá nhỏ của mình?

Cho dù là theo con đường chính nghĩa của người Hindu, kỷ luật theo Bát chánh đạo của Phật giáo, hay là cầu nguyện và ăn chay của người Hồi giáo, tất cả các tôn giáo ngoài Kinh Thánh đều tìm kiếm sự cứu rỗi bằng các việc làm. Cách nghĩ phổ biến là để vào được thiên đường phải “làm tốt nhất những gì mình có thể.” Điều này dễ hiểu khi chúng ta nhận ra rằng những người này có ý thức hay vô thức về bản chất sa ngã của mình, đang bị ràng buộc bởi tội lỗi. Tình trạng của họ được mô tả trong lần phạm tội đầu tiên của tổ phụ loài người: “Ngươi sẽ như Đức Chúa Trời” (Sáng 3: 5). Thật khó để một “vị thần” thừa nhận rằng mình không thể làm được gì cho bản thân!

Tuy nhiên, trong một số tôn giáo, mọi người tin vào những vị thần cứu tinh là những người ban sự cứu rỗi cho các tín đồ của họ. Hình thức Phật giáo được chấp nhận rộng rãi nhất ở Nhật Bản dựa trên câu chuyện về Amita, người đã tích lũy một kho công đức khổng lồ trên đường đến với Phật đến mức ông ấy đã thề sẽ ban sự tái sinh cho tất cả những ai tin vào ông ấy và liên tục lặp lại cụm từ “A Di Đà Phật”. Khái niệm vị thần cứu tinh cũng phổ biến ở Ai Cập cổ đại và vùng Lưỡng Hà.

Tuy nhiên, ngay cả khi người ta tin vào những vị thần cứu tinh, thì họ vẫn tin rằng công đức là cần thiết để được các vị thần ban ơn. Hơn nữa, họ không có cách nào để đối phó một cách nghiêm túc với thực tế rõ ràng của tội lỗi. Như Leon Morris đã chỉ ra, “Những nhà tư tưởng sâu sắc nhất trong nhân loại luôn nghĩ rằng sự tha thứ thực sự chỉ có thể có được khi sự quan tâm thích đáng được trả theo luật đạo đức …. Chúng ta hẳn đã không thấy đây là điều mà Đức Chúa Trời đã gieo vào sâu thẳm trong lòng con người sao. Đối mặt với một tội ác ghê tởm, ngay cả những người vô cảm nhất trong vòng chúng ta cũng có thể thốt lên rằng: ‘Điều đó đáng bị trừng phạt!’” Không có cảm giác được thỏa mãn về sự công bình trong các tôn giáo sai lầm.

Sự cứu rỗi được mô tả trong Kinh Thánh khác nhau như thế nào! Mong muốn tự nhiên của con người trong việc tìm kiếm công đức để nhận được sự cứu rỗi là hoàn toàn không thể; vì mọi vinh quang trong sự cứu rỗi đều thuộc về Đức Chúa Trời. Theo lịch sử thì thực tế về tội lỗi và hình phạt dành cho nó được xác nhận đầy đủ. Sự cứu rỗi được thực hiện bởi tình yêu thương vô tận của Đức Chúa Trời theo một cách mà vẫn bảo tồn sự thánh khiết của Ngài. Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời đòi hỏi sự công bình trong việc trừng phạt tội lỗi; và tình yêu thương của Ngài đáp ứng điều đó qua sự hy sinh của Con Ngài. “Đức Chúa Giê-su Christ, là Đấng Đức Chúa Trời đã lập làm của lễ chuộc tội, bởi đức tin trong huyết Đấng ấy. Ngài đã bày tỏ sự công bình mình như vậy, vì đã bỏ qua các tội phạm trước kia, trong buổi Ngài nhịn nhục; tức là Ngài đã tỏ sự công bình Ngài trong thời hiện tại, tỏ ra mình là công bình và xưng công bình kẻ nào tin đến Đức Chúa Giê-su” (Rô-ma 3: 25-26). Vì vậy, trái ngược với các phương cách khắc phục sự khốn khổ của con người do tội lỗi gây ra bằng cách cố gắng tìm kiếm sự phục hồi từ bản chất sa ngã là điều không thể, hoặc phương cách đặt sự thánh khiết và công bình của Đức Chúa Trời qua một bên đều là vô ích. Phương cách cứu rỗi được đưa ra để con người tham gia vào trong thuộc tính toàn năng, tình yêu và sự khôn ngoan của chính Đức Chúa Trời, vừa để thỏa mãn sự công bình tuyệt đối của Ngài, vừa để khôi phục lại sự hư hoại của con người do tội lỗi; vì vậy sự giải cứu này sẽ đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu của thiên đàng, và là mọi điều cần thiết cho nhân loại.

 

Sự chết Con Đức Chúa Trời, như là phương tiện cứu rỗi, trái ngược với tất cả những tôn giáo khác. Ajith Fernando, một học giả Cơ đốc giáo đã phục vụ nhiều năm ở Sri Lanka, kể về một “nhà văn Phật giáo nổi tiếng”, người đã nói với ông rằng “Đức Phật cao cả hơn Chúa Giê-su bởi vì Chúa Giê-su đã bị đánh bại đến nỗi phải chết trong trận chiến cho sự công chính của con người.” Từ điển bách khoa Do Thái khẳng định, “Không có Đấng Mê-si nào mà người Do Thái biết lại có thể chịu chết như vậy; vì ‘Kẻ nào bị treo ắt bị Đức Chúa Trời rủa sả’ (Phục truyền 21:23), nếu cho rằng Đấng Mê-si bị treo lên thập tự là một ‘sự xúc phạm đến Đức Chúa Trời” (Targum, Rashi). Tương tự như vậy, người Hồi giáo cũng từ chối lẽ thật về Chúa Giê-su bị đóng đinh. Kinh Koran nói, “Chúng tôi đã giết Đấng Mê-si là Giê-su, con trai của Ma-ri, Sứ đồ của Allah.’ Họ đã không giết Ngài, cũng không đóng đinh Ngài, nhưng họ nghĩ rằng họ đã làm như vậy” (Sura 4: 156). Rõ ràng thập tự giá của Đấng Christ, như Phao-lô đã viết là “sự người Giu-đa lấy làm gương xấu, dân ngoại cho là rồ dại” (1 Côr. 1:23). Nhưng đó là “quyền phép của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời” cho sự cứu chuộc (1:24).

Hơn nữa, sự cứu chuộc của Đức Chúa Trời không bắt nguồn từ những câu chuyện thần thoại hay những ý tưởng khai sáng, mà là trong được ghi lại trong lịch sử tuyển dân.  Những lời của Gresham Machen đã tóm tắt sự độc đáo về lời dạy cứu rỗi trong Kinh Thánh. “Theo Kinh Thánh, sự cứu rỗi không phải là điều được khám phá ra, mà là điều đã xảy ra. Do đó thể hiện tính độc nhất của Kinh Thánh. Tất cả các ý tưởng trong Cơ đốc giáo có thể được tìm thấy trong một số tôn giáo khác, nhưng ý tưởng của các tôn giáo khác thì không có trong Cơ đốc giáo. Vì Cơ đốc giáo không phụ thuộc vào các ý niệm phức tạp, nhưng dựa trên lời tường thuật về một sự kiện. Nếu không có sự kiện đó, thế giới, trong cái nhìn của Đấng Christ, hoàn toàn tối tăm, và nhân loại bị hư mất bởi tội lỗi. Không thể có sự cứu chuộc bằng việc khám phá ra lẽ thật vĩnh cửu, vì lẽ thật vĩnh cửu mang lại sự tuyệt vọng, bởi vì tội lỗi. Nhưng một diện mạo mới được khoác lên cuộc sống bởi điều phước hạnh mà Đức Chúa Trời đã làm khi ban chính Con một của Ngài.

Sự cứu chuộc ấy quá xa lạ đối với con người tự nhiên, nhưng lại rất vĩ đại và thỏa mãn những khát vọng sâu thẳm trong lòng của tất cả mọi người đến nỗi nó không thể được tạo ra bởi loài người. Phao-lô, người đã cố gắng tự cứu mình bằng những việc làm của con người, đã tóm tắt tính chất siêu nhiên về sự cứu chuộc của Đức Chúa Trời: “Vì Đức Chúa Trời đã nhốt mọi người trong sự bạn nghịch, đặng thương xót hết thảy.  Ôi! sâu nhiệm thay là sự giàu có, khôn ngoan và thông biết của Đức Chúa Trời! Sự phán xét của Ngài nào ai thấu được, đường nẻo của Ngài nào ai hiểu được!” (Rô-ma 11: 32-33).

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                                          7

Kinh Thánh Là Lời Soi Dẫn Của Đức Chúa Trời?

 

 

TRÁI NGƯỢC VỚI những hình tượng ngoại giáo “có miệng, nhưng … không nói được” (Thi Thiên 115:5; 135:15-16), “Nếu có ai kêu cầu, thì thần chẳng trả lời, và không cứu khỏi nạn được” (Ê-sai 46:7).  Đức Chúa Trời của Kinh Thánh giao tiếp với dân sự của Ngài qua Lời.  Bản chất Đức Chúa Trời vốn dĩ liên quan đến Ngôi Lời và Ngôi Lời thể hiện Ngài. “Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời.” (Giăng 1:1).   Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi Ngài giao tiếp với dân sự của Ngài trong suốt lịch sử bằng lời, như trước giả thư Hê-bơ-rơ đã từng tuyên bố.  “Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách, rồi đến những ngày sau rốt nầy, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài, là Con mà Ngài đã lập lên kế tự muôn vật, lại bởi Con mà Ngài đã dựng nên thế gian.” (Hê-bơ-rơ 1:1-2). Vì Đức Chúa Trời của chúng ta là một Đức Chúa Trời phán dạy qua lời, vậy thì ngày nay Ngài có còn nói chuyện với dân sự của Ngài không?  Và nếu có, chúng ta có thể nghe thấy lời của Ngài ở đâu hoặc bằng cách nào?

Theo trước giả sách Hê-bơ-rơ, các nhà tiên tri dưới sự soi dẫn của Đức Thánh Linh đã viết những lời của Đức Chúa Trời.  Sự việc này đạt đến đỉnh điểm khi con  của Đức Chúa Trời, người không chỉ nói những lời của một tiên tri, nhưng bản thân con  ấy còn chính là Ngôi Lời của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong lịch sử.  Như chúng ta sẽ thấy trong chương này, lời tiên tri của Đức Chúa Trời đã được viết ra và lưu giữ trong các tác phẩm thiêng liêng được gọi là Kinh Thánh.  Kết quả là dân sự của Đức Chúa Trời trong Cựu ước và Tân ước đều đã xác định Kinh Thánh là “Lời của Đức Chúa Trời”.

Trong suốt lịch sử hội thánh, các tín hữu hiếm khi thắc mắc về lẽ thật này.  Nhưng trong thời kỳ Khai Sáng, đã đề cao lý trí của con người trong việc tìm kiếm chân lý thông qua cái gọi là phương pháp khoa học, sự thật đấy đã bị nhiều người phủ nhận.  Đối với một số người, Kinh Thánh chỉ là một bản ghi chép về kinh nghiệm tôn giáo của con người.  Số khác xác định các phần của Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời, chẳng hạn như những phần được giới thiệu bởi công thức “Chúa phán như vậy”, hoặc “có lời của Đức Giê-hô-va phán…”  Nhiều người nói Kinh Thánh chỉ chứa đựng hoặc làm chứng cho Ngôi Lời, nhưng không phải là chính bản thân của Ngôi Lời. Họ nói rằng chỉ khi Đức Thánh Linh phán với họ qua Ngôi Lời thì Kinh Thánh mới trở thành Lời của Đức Chúa Trời.

Đây là một vấn đề quan trọng.  Vì nếu Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời, thì bất chấp tính cách của con người tham gia vào tiến trình hình thành Kinh Thánh, chúng ta có Lời Đức Chúa Trời ở dạng khách quan. Mặt khác, nếu Kinh Thánh chỉ là lời của con người, không chừng sẽ được tâng bốc theo cách nào đó, thì vì một lý do nào đó chúng ta nhất định phải tìm kiếm Lời Chúa trong và đằng sau những lời của con người, hoặc có thể – theo như một số người gợi ý, tìm kiếm ngay cả trong các tác phẩm tôn giáo khác.

Chương này thảo luận về lời chứng của Kinh Thánh xung quanh bản chất của nó.  Điều này nghe có vẻ giống như lý luận luẩn quẩn theo một vòng tròn, tìm cách xác định bản chất của Kinh Thánh bằng những tuyên bố của chính Kinh Thánh.  Chúng ta sẽ nói nhiều hơn về phương pháp này trong phần thảo luận của chúng ta về tính cách đáng tin cậy trong chương 10.  Nhưng chúng ta có thể phải lưu ý hai quan điểm được đưa ra ở đây.

Quan điểm thứ nhất, nếu chúng ta cho phép một người tự làm chứng và không tán thành việc bị bác bỏ thì lời chứng của anh ta là giả dối, như vậy chúng ta cũng không thể cho phép Kinh Thánh tự làm chứng cho Kinh Thánh?  Mặc dù Chúa Giê-su có những nhân chứng khác. Ngài cũng đã làm chứng cho chính Ngài.  “Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Dẫu ta tự làm chứng về mình, nhưng lời chứng ta là đáng tin…” (Giăng 8:14).  Sự đáng tin cậy của Kinh Thánh được chứng thực bằng những bằng chứng bên ngoài và bên trong.  Do đó, Kinh Thánh xứng đáng được tin cậy trong các tuyên bố của chính Kinh Thánh.

Quan điểm thứ hai, Cơ đốc nhân biết rằng Kinh Thánh là nền tảng của tất cả các giáo lý quan trọng của đức tin, chẳng hạn như thần tính của Đấng Christ và sự cứu rỗi qua sự chết cũng như sự phục sinh của Ngài.  Nếu chúng ta chấp nhận Kinh Thánh là kim chỉ nam dẫn chúng ta đến lẽ thật trong những giáo lý trên, chẳng lẽ chúng ta cũng không nên chấp nhận những lời dạy của Kinh Thánh về bản chất của chính Kinh Thánh sao?

 

Ý NGHĨA VỀ “LỜI CỦA CHÚA”

Nói “Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời” không có nghĩa là Lời của Đức Chúa Trời chỉ giới hạn trong Kinh Thánh.  Lời nói của Đức Chúa Trời được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.  Ví dụ, tác giả Thi Thiên viết rằng: “Ngài ra lịnh mình trên đất, Lời của Ngài chạy rất mau. Ngài cho mưa tuyết như lông chiên; Rải sương-móc trắng khác nào tro.  Ngài ném giá từng miếng; Ai chịu nổi được sự lạnh-lẽo của Ngài?  Ngài ra lịnh làm cho tuyết giá tan ra, khiến gió thổi, nước bèn chảy.” (Thi Thiên 147:15-18).  Rõ ràng “lời” trong phân đoạn trích trên không phải là   Kinh Thánh.  Và trong lời tuyên bố sau cũng vậy “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta…” (Giăng 1:14), Ngôi Lời ở đây là chỉ về Đấng Christ.

Vì thế, Lời Chúa rộng hơn sự mặc khải bằng lời nói hoặc bằng văn tự.  Điều đó có thể được định nghĩa là sự tự thể hiện của Đức Chúa Trời, theo Kinh Thánh thì bằng nhiều hình thức khác nhau.  Thứ nhất, đó là quyền năng của Đức Chúa Trời mà Ngài tác động và điều khiển mọi vật theo ý muốn của Ngài (ví dụ, sự sáng tạo trong Sáng Thế Ký 1:3; Thi Thiên 33:6-9; sự phán xét trong Thi Thiên 46:6; Ê-sai 30:30; sự chữa lành trong Ma-thi-ơ 8:8).  Thứ hai, đó là lời nói có thẩm quyền của Đức Chúa Trời mà qua đó Ngài giao tiếp cách cá nhân với các tạo vật của Ngài. Điều thú vị chính là, việc sử dụng “Lời” để thi hành ý muốn của Đức Chúa Trời trên thiên nhiên trong lời tuyên bố sau đây trích từ Thi Thiên 147, chúng ta đọc, “Ngài truyền lời mình cho Gia-cốp, luật-lệ và mạng-lịnh mình cho Y-sơ-ra-ên.” (Thi Thiên 147:19).  Thứ ba, lời của Đức Chúa Trời là sự hiện diện của chính Ngài với các tạo vật.  Tất nhiên, nhân cách của một người được tiết lộ qua cách người đó phát biểu.  (xem trong Ma-thi-ơ 12:34). Vì vậy, Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng “…Đức Giê-hô-va hiện ra cùng Sa-mu-ên, khiến cho người biết lời của Ngài” (1 Sa-mu-ên 3:21).  Nhưng cách sử dụng thứ ba này vượt quá mọi ngôn từ về sự bày tỏ của Đức Chúa Trời trong thân vị của Con Ngài là Chúa Giê-su Christ – Ngôi Lời (Giăng 1:1; Khải huyền 19:13).  Cách sử dụng cuối cùng này đưa chúng ta đến sự thật sâu xa rằng “Ngôi Lời” của Đức Chúa Trời không kém gì sự tự mặc khải của Đức Chúa Trời ba ngôi. “Đức Chúa Cha là Đấng tuyên phán; Đức Chúa Con là lời được phán ra; Đức Thánh Linh là lời hà hơi quyền năng … khiến lời đó làm trọn được mục đích của nó.”

 

LỜI CHỨNG CỦA CỰU ƯỚC

Khi Kinh Thánh ghi lại lịch sử mối quan hệ của Đức Chúa Trời với con người, không có gì đáng ngạc nhiên khi Cựu Ước đề cập đến lời Đức Chúa Trời là sự giao tiếp bằng lời nói. Ngài không chỉ phát ngôn, nhưng lời của Ngài còn được truyền đạt qua các văn tự của con người, để những gì họ nói và viết đều là những lời của Đức Chúa Trời.

Lời của Chúa đã tuyên phán

Một số từ Hebrew được sử dụng trong Cựu Ước để diễn đạt lời phán hoặc lời của Đức Chúa Trời.  “Miệng” của Đức Chúa Trời được nhắc đến khoảng năm mươi lần như một cơ quan ngôn luận, không chỉ nhấn mạnh đến nguồn gốc trực tiếp lời nói của Ngài mà còn là bản chất của chúng là lời nói. Thông điệp của Giê-rê-mi đến từ “miệng Đức Giê-hô-va” (Giê-rê-mi 9:12). “Tiên tri” là người thuật lại những lời từ miệng của người khác.  Điều này được thể hiện rõ ràng  khi Môi-se phàn nàn về khả năng diễn đạt không trôi chảy của mình và A-rôn đã trở thành người phát ngôn cho Môi-se.  “Con phải nói chuyện với người,” Đức Chúa Trời nói với Môi-se và đặt những lời phải nói trên môi miệng A-rôn … A-rôn sẽ nói chuyện với dân chúng thay ngươi; ấy là người đó sẽ nói cùng dân-sự thế cho ngươi, dùng làm miệng ngươi, còn ngươi sẽ dường như Đức Chúa Trời cho người vậy” (Xuất Ê-díp-tô ký 4:15-16).  Đức Chúa Trời sau đó đã xác định chức vụ cho A-rôn đối với Môi-se bằng những lời này: “còn A-rôn, anh ngươi, sẽ làm tiên-tri của ngươi” (7:1).

Theo cùng một cách trên đây mà Đức Chúa Trời đã phán với Giê-rê-mi: “Nhưng Đức Giê-hô-va lại phán: Chớ nói…Nầy, ta đã đặt những lời ta trong miệng ngươi” (Giê-rê-mi 1:7-9). Sau đó, Giê-rê-mi nói một tiên tri thật là người “đã đứng được trong sự bàn-luận của Đức Giê-hô-va, để được ngắm-xem và nghe lời Ngài” và  công bố, “những lời ta đến với dân sự ta” (23:18, 22).

Các tiên tri đã nói với tư cách là “người phát ngôn” của Chúa, hoặc như Đức Chúa Trời đã phán với Giê-rê-mi, “sẽ như miệng ta” (15:19). Những lời cảnh báo về sự phán xét và lời hứa sự cứu rỗi của ông là chắc chắn vì “miệng Đức Giê-hô-va đã phán.” (Ê-sai 1:20,40:5). “Miệng của Đức Giê-hô-va” thường được dịch là “lời nói” hoặc “mệnh lệnh”, do đó nhấn mạnh bản chất lời nói của sự mặc khải của Đức Chúa Trời. “Môi-se kiểm kê họ đúng như lời [nghĩa đen là “miệng”] CHÚA truyền bảo mình.” (Dân số Ký 3:16, NVB). “Cả hội-chúng Y-sơ-ra-ên đi từ đồng vắng Sin, đi từng trạm, tùy theo lịnh [nghĩa đen là “miệng”] Đức Giê-hô-va. (Xuất Ê-díp-tô Ký 17:1).  Hành động của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên ở lại phía đông sông Giô-đanh là “theo mạng-lịnh [nghĩa đen là “miệng”] của Đức Giê-hô-va cậy Môi-se truyền cho.” (Giô-suê 22:9). Điều đáng quan tâm trong ví dụ cuối cùng này là thực tế  chúng ta không có ghi chép nào về việc Đức Chúa Trời truyền lệnh cho Môi-se về những người lãnh đạo các bộ tộc Reuben, Gad và nửa bộ tộc Manasseh. Môi-se chỉ đơn giản đã đưa ra chỉ dẫn riêng của mình cho họ (xem Dân-số Ký 32:20-24). Nhưng là tiên tri của Đức Chúa Trời, lời nói từ miệng ông cũng là từ “miệng” của Chúa; những lời đó là lời của Đức Chúa Trời.

Lời Chúa trong Cựu Ước cũng thường được diễn đạt bằng động từ ‘dmar (“bày tỏ hoặc phán”) và các danh từ liên quan của nó, ‘dmer,‘emrd‘imrd, được dịch khác nhau như “lời nói”, “phát biểu” hoặc “lời”. Động từ ‘dmar luôn luôn diễn tả mối quan hệ cá nhân mà trong đó một người thốt ra “những mạng lịnh hợp lý … làm cho người khác có thể nghe và hiểu được.” Khi được Đức Chúa Trời sử dụng, điều đó đề cập đến sự mặc khải. “Các điệp ngữ ‘Đức Chúa Trời đã bày tỏ (đã phán),’ ‘Đức Chúa Trời đang bày tỏ (đang phán).’ Và ‘Đức Chúa Trời sẽ bày tỏ (sẽ phán)’, ngụ ý rằng Đức Chúa Trời có thể được nghe thấy trong lĩnh vực tự nhiên và lịch sử, lĩnh vực kinh nghiệm và hiểu biết của con người … [Ngài] có thể phát ngôn để người ta có thể hiểu được. Vì vậy, Đức Chúa Trời thường truyền đạt ý muốn của Ngài cho con người bằng lời nói (ví dụ, “Đức Chúa Trời bèn phán cùng Nô-ê rằng”: Sáng Thế Ký 8: 15). “Vì vậy, [‘dmar] CHÚA phán” là một công thức phổ biến của các tiên tri (hơn 130 lần trong sách Giê-rê-mi), cho thấy rằng họ đang truyền tải một thông điệp giống như một sứ giả của con người mang thông điệp đến.” Các danh từ liên quan với “phán” hoặc “lời phán” cũng được dùng trong nội dung lời Đức Chúa Trời phán (ví dụ, Gióp 22:22; 23:12; Thi Thiên 77: 8; Ê-sai 41:26). Điều đặc biệt cần quan tâm là thực tế rằng từ ‘imrd  (“lời”) xuất hiện mười bảy lần trong Thi Thiên 119. Được sử dụng với các thuật ngữ khác như “giếng mối”, “điều răn”, “lời chứng” và “giới luật”, rõ ràng trước giả Thi-thiên muốn nói rằng có nhiều hơn một số mặc khải chủ quan cá nhân đến từ Đức Chúa Trời. “Lời” của Đức Chúa Trời là Kinh Thánh được viết ra mà qua đó nhiều ơn phước đã được truyền lại cho các trước giả Thi Thiên.

Từ thông dụng nhất trong Cựu ước dùng để “nói” là động từ dãbar. Danh từ tương ứng của nó, “lời”, cũng có nghĩa là “điều”, “vấn đề”, “sự việc”, như trong “vấn đề mà người ta nói.” Động từ dãbar tập trung vào hoạt động nói, tức là việc tạo ra các từ và câu. Nhưng hoạt động này không làm giảm đi quan trọng của những gì đã được nói. Điều này được thể hiện rõ qua nội dung của cách “nói”, vì trong Kinh Thánh, những thuật ngữ này là những thuật ngữ phổ biến nhất được sử dụng để Đức Chúa Trời phán lời của Ngài. Có khoảng bốn lần cụm từ “CHÚA đã phán,” “CHÚA đã hứa” và “CHÚA đã truyền lệnh” được ghi nhận, trong đó động từ này là dãbar.

Dãbar đặc biệt nổi bật trong mối quan hệ của lời Đức Chúa Trời qua các tiên tri. Đức Chúa Trời đã phán với các tiên tri của Ngài như Ê-sai đã làm chứng. “Đức Giê-hô-va lại phán cùng tôi rằng” (Ê-sai 8:5; xem thêm tại Giê-rê-mi 36: 2; Ê-xê-chi-ên 3:10). Nhưng lời phán của Ngài không chỉ đến với các tiên tri. Lời phán đó cũng thông qua các tiên tri để đến với những người khác, ví dụ: “Đức Giê-hô-va nhờ con trai A-mốt, là Ê-sai, mà phán rằng: Hãy đi, cởi bao gai khỏi lưng ngươi, và lột giày khỏi chân ngươi. Ê-sai vâng lời, đi trần, và chân không” (Ê-sai 20:2, xem thêm  Xuất Ê-díp-tô ký 9:35; 1 Các Vua 12:15; Giê-rê-mi 37:2; Ê-xê-chi-ên 38:17). Do đó, việc tiếp nhận lời Đức Chúa Trời từ các tiên tri và việc công bố lời ấy có thể được coi là một hành động phát ngôn của Đức Chúa Trời. Như Đa-vít đã nói: “Thần của Đức Giê-hô-va đã cậy miệng ta mà phán, và lời của Ngài ở nơi lưỡi miệng ta” (2 Sa-mu-ên 23:2). Ê-sai đã nói với A-háp những điều mà ông đã nhận được từ Đức Chúa Trời, nhưng quá trình tương tự được mô tả khi chúng ta đọc, “Đức Giê-hô-va lại phán cùng A-cha rằng” (Ê-sai 7:10; xem thêm 7:3-4).

Do đó “lời” mà các nhà tiên tri đã nói là “lời của CHÚA.” Xuất hiện khoảng 240 lần trong Cựu Ước, cụm từ này mô tả cả lời của Đức Chúa Trời cho các nhà tiên tri và lời mà họ đã công bố cho dân chúng (ví dụ, “Có lời Đức Giê-hô-va phán cùng Ô-sê” [Ô-sê 1:1; xem thêm tại Mi-chê 1:1; Sô-phô-nia 1:1], và “hãy để tai vào luật-pháp của Đức Chúa Trời chúng ta!” [Ê-sai 1:10; A-mốt 7:16]). Cụm từ này vì vậy là “một thuật ngữ kỹ thuật cho lời tiên tri về sự mặc khải.”

Các cách sử dụng khác của dãbar cho lời Chúa cũng được tìm thấy. Nói chuyện với Môi-se, A-rôn và Mi-ri-am, Chúa phán rằng, “Hãy nghe rõ lời ta” (Dân-số Ký 12:6). Theo trước giả Thi Thiên, Đức Chúa Trời “Ngài nhớ lại lời thánh Ngài” phán với Áp-ra-ham (Thi Thiên 105:42). Điều quan trọng là sự mô tả Mười Điều Răn cũng là “những lời của giao ước, Mười Điều Răn [nghĩa đen, ‘mười từ’]” (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:28; xem thêm Phục truyền luật lệ ký 4:13; 10:4), và các mệnh lệnh của Đức Chúa Trời nói chung (ví dụ, Thi Thiên 50:17).

Vậy rõ ràng, Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính Ngài qua lời nói. Đức Chúa Trời đã tuyên phán với con người, và trách nhiệm của họ là phải “nghe” hoặc “lắng nghe” tiếng nói của Ngài.

 

Lời thành văn của Đức Chúa Trời

Lời Đức Chúa Trời cũng đã được viết ra. Chính Đức Chúa Trời đã viết ra các nguyên tắc cơ bản trong giao ước của Ngài với dân sự Ngài thời Cựu Ước trong Mười Điều Răn, “trên đó có đủ những lời mà Đức Giê-hô-va đã phán” với Môi-se. (Phục truyền Luật lệ Ký 9:10; xem thêm tại 10:4; 4:13; Xuất Ê-díp-tô Ký 24:12; 31:18; 32:15-16; 34:1). Đức Chúa Trời thường ra lệnh cho người khác viết lời Ngài muốn truyền đạt. Sau khi Y-sơ-ra-ên đánh bại A-ma-léc, Đức Chúa Trời nói với Môi-se, “Hãy chép điều nầy trong sách làm kỷ-niệm, và hãy nói cho Giô-suê biết rằng ta sẽ bôi sạch kỷ-niệm về A-ma-léc trong thiên-hạ.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 17:14). Và Đức Chúa Trời đã hướng dẫn Môi-se, “Vậy, bây gi, hãy chép bài ca nầy và dạy cho dân Y-sơ-ra-ên; hãy để trong miệng họ, để bài ca nầy dùng làm chứng cho ta nghịch cùng dân Y-sơ-ra-ên” (Phục truyền Luật lệ Ký 31:19). Hành động ghi lại, như những hướng dẫn này chứng minh, là nhằm mục đích bảo tồn lời Chúa cho các thế hệ mai sau.

Môi-se đã viết ra những điều khoản trong giao ước mà Đức Chúa Trời ban cho dân Y-sơ-ra-ên. Sau khi kể lại “tất cả những lời của CHÚA và tất cả các giáo lễ” cho mọi người, “Môi-se chép hết mọi lời của Đức Giê-hô-va” (Xuất Ê-díp-tô Ký 24:3-4). Một lần nữa, “Đức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se rằng: Hãy chép các lời nầy; vì theo các lời nầy mà ta lập giao-ước cùng ngươi và cùng Y-sơ-ra-ên.” (34:27). Vào cuối cuộc hành trình trên đất của mình Môi-se đã lặp lại những lời của giao ước với tuyển dân khi họ chuẩn bị băng qua sông Giô-đanh vào Đất Hứa (Phục truyền Luật lệ Ký 29:1; 30:1). “Khi Môi-se chép những lời luật-pháp nầy trong một cuốn sách xong rồi, thì ra lịnh cho người Lê-vi: Hãy lấy cuốn sách luật-pháp nầy, để bên hòm giao-ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi. Nó sẽ ở đó làm chứng nghịch cùng ngươi” (Phục truyền Luật lệ Ký 31:24-26; xem thêm 31:9). “Quyển sách luật pháp này” không chỉ là những điều răn và quy chế khác nhau. Như chúng ta đã thấy, Môi-se đã viết tường thuật về sự thất bại của A-ma-léc. Và ông cũng ghi lại cuộc hành trình của tuyển dân từ Ai Cập đến Y-sơ-ra-ên (Dân số Ký 33:2). “Sách giao ước,” như được biết đến (2 Các Vua 23: 3,21; xem 2 Sử ký 34:14), không chỉ đơn giản là các quy định của giao ước; nó cũng bao gồm bản ký thuật về hoạt động của các thành viên trong giao ước. Trong lời từ biệt của mình, Giô-suê đã ghi lại việc tái lập giao ước với dân chúng tại Si-chem (Giô-suê 24:25-26). Sau đó, các ghi chép lịch sử về hành động của các vị vua Y-sơ-ra-ên được các tiên tri Sa-mu-ên, Na-than và Gát (1 Sử ký 29:29) chấp bút.

Các hướng dẫn để viết Lời Chúa cũng được trao cho các tiên tri sau này. Mệnh lệnh cho Ê-sai đặc biệt có tính hướng dẫn ở chỗ mục đích của việc viết ra phải được trình bày rõ ràng. “Bây giờ, ngươi hãy đi, chạm lời nầy trên bảng nhỏ ở trước mặt họ, hãy chép vào sách, để truyền lại đời sau, mãi mãi không cùng.” (Ê-sai 30:8). Thế hệ của Ê-sai là một “dân bội nghịch” (30: 9) là những người đã từ chối tiếng phán của Đức Chúa Trời. Nhưng lời của Đức Chúa Trời qua tiên tri sẽ vẫn giữ được sức mạnh của nó như là Lời của Đức Chúa Trời khi nói với các thế hệ tiếp theo sau (Ê-sai 8:1). Giê-rê-mi và Ha-ba-cúc cũng được hướng dẫn viết ra những lời tiên tri (Giê-rê-mi 30: 2; 36: 2-4, 27-32; Ha-ba-cúc 2: 2). Các tài liệu tham khảo khác chỉ ra rằng các tiên tri đã viết cũng như công bố các thông điệp của họ (ví dụ, Giê-rê-mi 15:13; 45:1; 51:60). Thậm chí toàn bộ sách tiên tri cũng được mô tả là “lời của CHÚA” (ví dụ, Ô-sê 1:1; Mi-chê 1:1; Sô-phô-ni 1:1).

Do đó, Cựu Ước làm chứng rõ ràng cho lẽ thật rằng Đức Chúa Trời phán lời Ngài qua văn tự cũng như lời nói. Hơn nữa, toàn bộ bài viết, không chỉ một số phần, được xác định là Lời Đức Chúa Trời. Điều này thậm chí càng trở nên rõ ràng hơn khi chúng ta xem xét thái độ của Chúa Giê-su và những người khác trong Tân Ước đối với các sách Cựu Ước. Nhưng nguyên tắc này đã được minh bạch trong chính Cựu Ước. Tất cả Ngũ Kinh, không chỉ một số mệnh lệnh, đều là Lời Đức Chúa Trời. Giô-suê phải làm tất cả những gì được chép trong “quyển sách luật pháp” (Giô-suê 1: 8), trong đó chính ông cũng đã viết nhiều điều. E-xơ-ra đọc “các lời của luật-pháp” (Nê-hê-mi 8:13). Và phần giới thiệu của toàn bộ sách tiên tri đi liền với tuyên bố, Lời của Chúa đã đến … ngụ ý rằng toàn bộ sách được coi là [‘lời của Chúa’). Không có sự phân biệt nào giữa những tuyên bố trong sách được quy trực tiếp cho Đức Chúa Trời và những bình luận lịch sử của nhà tiên tri. Ở đây, chúng ta có một sự chuyển tiếp sang quan điểm cuối cùng rằng không chỉ là sách tiên tri, mà toàn bộ Cựu Ước, là Lời của Đức Chúa Trời.

LỜI CHỨNG CỦA TÂN ƯỚC

Chúa Giê-su là Lời của Đức Chúa Trời

Lời Đức Chúa Trời đạt đến ý nghĩa đỉnh cao trong Tân Ước khi nó được dùng cho thân vị của Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời (Giăng 1:1). Hơn cả là lời nói hay câu chữ điều này còn truyền tải một thông điệp khái niệm, Lời Đức Chúa Trời là hành động cụ thể của chính Đức Chúa Trời. Chẳng hạn, Đấng Christ đã đến để hoàn thành luật pháp và các lời tiên tri, không chỉ bằng cách làm cho chúng trở nên có ý nghĩa trong sự dạy dỗ mà còn bằng sự sống và sự chết của Ngài (Ma-thi-ơ 5:17). Vì vậy Ngài là “sự cuối-cùng của luật-pháp, đặng xưng mọi kẻ tin là công-bình” (Rô-ma 10:4). Giao ước mới được bày tỏ trong huyết của Ngài. “Nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội” (Ma-thi-ơ 26:28).  Giao ước mới được thực thi trong những gì diễn ra trong con người Ngài, trong chính cuộc đời mà Ngài đã sống.  Chúa Giê-su là “tôi tớ” được lời tiên tri nói đến, là người sẽ làm “giao-ước của dân” (Ê-sai 42:6; 49:8). Ngài mang thông điệp về sự cứu rỗi, nhưng hơn thế nữa, Ngài là “sự công-bình, sự nên thánh, và sự cứu-chuộc” của chúng ta (1 Cô-rinh-tô 1:30), và “chính Ngài là sự hòa-hiệp của chúng ta” (Ê-phê-sô 2:14). Đấng Christ do đó không chỉ đơn giản là Đấng mang đến Lời của Đức Chúa Trời; Ngài   hợp nhất nó trong thân vị của Ngài, trong tiến trình lịch sử … của cuộc đời và bản thể Ngài.

Lời dạy của các Sứ đồ tương đương như Lời của Đức Chúa Trời

Lẽ thật Chúa Giê-su là hiện thân của Lời của Đức Chúa Trời, tuy nhiên, điều đó không làm lu mờ lời phán của Đức Chúa Trời hay Ngài trở nên kém hơn lời Đức Chúa Trời. Chính Chúa Giê-su đã rao “lời của Đức Chúa Trời” (Giăng 3:34,  xem thêm 7:16; 8:26-28). Cụm từ được phổ biến là “lời của Đức Chúa Trời” được sử dụng trong Tân Ước đề cập đến thông điệp mà các nhân chứng ban đầu đã công bố. Họ mạnh dạn nói “lời Đức Chúa Trời cách dạn-dĩ” (Công-vụ 4:31). Phao-lô và Ba-na-ba công bố “lời của Đức Chúa Trời” trong các nhà hội ở Sa-la-min, “Đến thành Sa-la-min, hai người giảng đạo Đức Chúa Trời trong các nhà hội của người Giu-đa; cũng có Giăng cùng đi để giúp cho. Trải qua cả đảo cho đến thành Ba-phô rồi, gặp một người Giu-đa kia, là tay thuật sĩ và tiên tri giả, tên là Ba-giê-su, vốn ở với quan trấn thủ tên là Sê-giút Phau-lút là người khôn ngoan. Người nầy đã sai mời Ba-na-ba và Sau-lơ đến, và xin nghe lời Đức Chúa Trời” (Công. 13:5-7). Sau đó họ trở lại để “thăm hết thảy anh em trong các thành mà trước đó họ đã giảng lời Chúa” (15:36).

Phao-lô định cư ở Cô-rinh-tô trong mười tám tháng “dạy lời Đức Chúa Trời” (18:11). Các tín hữu tại Tê-sa-lô-ni-ca nhận được thông điệp thiêng liêng mà Phao-lô đã tuyên bố với họ là “Lời của Đức Chúa Trời” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 2:13). Sứ đồ Phi-e-rơ viết, “anh em đã được lại sanh, chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống chẳng hư nát, là bởi lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời.  Vì, Mọi xác thịt ví như cỏ. Mọi sự vinh hiển của nó ví như hoa cỏ. Cỏ khô, hoa rụng,

Nhưng lời Chúa còn lại đời đời. Và lời đó là Tin lành đã giảng ra cho anh em” (1 Phi-e-rơ 1:23,25). “Lời của Đức Chúa Trời”, “lời của Chúa,” hoặc “lời” được sử dụng gần như tám mươi lần trong các thông điệp mà các chứng nhân của Hội Thánh đầu tiên công bố về Chúa Giê-su. Ngoài ra, các câu khác cũng đề cập đến sự dạy dỗ của các sứ đồ như “lời có ích” (1 Ti-mô-thê 6:3) hay “lời lẽ thật của phúc âm” (word of the truth of the gospel. NKJV) (Cô-lô-se 1:5).

Cựu ước là Lời của Đức Chúa Trời

Các trước giả Tân Ước cũng làm chứng về các cuộn giấy viết của Lời Đức Chúa Trời. Khi nhắc  Ti-mô-thê “biết những lời thánh” từ thời thơ ấu của mình, sứ đồ Phao-lô đã bày tỏ, “Cả Kinh Thánh đều được Đức Chúa Trời hà hơi vào” (2 Ti-mô-thê 3:15-16). Cụm từ “cả Kinh Thánh” cũng có thể được dịch là “mỗi câu Kinh Thánh,” đề cập đến các phần riêng lẻ. Phao-lô muốn nói đến toàn bộ Kinh Thánh. Điều này sẽ phù hợp với việc ông thường xuyên sử dụng cụm từ “Kinh Thánh có dạy, Kinh Thánh có nói …” (ví dụ, Rô-ma 4:3; 9:17; Ga-la-ti 4:30).

Từ “soi dẫn” ở đây có thể gây hiểu lầm. Hai trong số các nghĩa của nó trong tiếng Anh là “lấp đầy bằng một hoạt ảnh, hoặc nâng cao ảnh hưởng” và “tạo ra hoặc khơi dậy (một cảm giác, suy nghĩ, v.v.).” Cả hai ý nghĩa chính này đều gợi ý rằng “soi dẫn” có nghĩa là ủng hộ hoặc tạo ra điều gì đó từ một nguồn khác. Trong trường hợp này Đức Chúa Trời đã lấp đầy Kinh Thánh bằng sự sống và năng quyền của Ngài. Mặc dù điều này đúng và được dạy trong Hê-bơ-rơ 4:12, nhưng ở đây Phao-lô không đề cập đến tác động của Kinh Thánh, mà là nguồn của chúng — từ Đức Chúa Trời.

Cụm từ “được soi dẫn bởi Chúa” trong tiếng Hy lạp là theopneustos, nó kết hợp danh từ “God” (theos) và tính từ tạo thành từ động từ “hà hơi” (pnẽo). Theopneustos luôn có nghĩa bị động là “được Đức Chúa Trời hà hơi.”  Vậy có nghĩa Kinh Thánh là sản phẩm thần cảm từ Đức Chúa Trời; những tác phẩm đó đã được Ngài hà hơi vào. Do đó, câu này nhấn mạnh nguồn của Kinh Thánh. Nhưng nó cũng nói lên điều gì đó về bản chất của chúng. Chúng có nguồn gốc từ Đức Chúa Trời, chúng là lời của Ngài. Cần lưu ý rằng mặc dù “tất cả Kinh Thánh” trong 2 Ti-mô-thê 3:16 đề cập cụ thể đến Cựu Ước, nhưng lời dạy của sứ đồ trong các tác phẩm Tân Ước cũng được xem là Kinh Thánh. Chúng cũng được các trước giả khác của Tân Ước xem là Kinh Thánh.

Tân Ước thường kết hợp các tài liệu tham khảo về Cựu Ước với các thông điệp mới về Đấng Christ, gọi cả hai là “lời của Đức Chúa Trời.” Trước giả Hê-bơ-rơ chắc chắn đã bao gồm toàn bộ các tác phẩm Cựu Ước khi ông nói Lời Đức Chúa Trời lời sống và linh nghiệm (Hê-bơ-rơ 4:12). Ngoài ra khi Phao-lô rao giảng, ông thường trích dẫn Cựu Ước để chứng tỏ rằng Chúa Giê-su là Đấng Mê-si đã được hứa ban. Do đó, lời xác nhận của ông về Lời Chúa có bao gồm cả Cựu ước (Cô-lô-se 1:15).

Mặc dù các trước giả Tân Ước không qui cho toàn bộ Cựu Ước là “lời của Đức Chúa Trời”, nhưng có rất nhiều bằng chứng trong Tân Ước cho thấy họ đã coi toàn bộ Cựu Ước là lời của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh Tân Ước thường nói rằng Đức Chúa Trời đã phán qua các trước giả Kinh Thánh là những người đã viết ra Cựu Ước. Và dĩ nhiên, các trước giả Tân Ước cũng thường nói Đức Chúa Trời cũng phán qua các trước giả. Ví dụ, Ma-thi-ơ giới thiệu lời tiên tri trong Cựu Ước về sự ra đời của Chúa Giê-su bằng cách viết, “Những việc nầy xảy ra để ứng nghiệm lời Chúa đã phán bởi tiên tri: ‘Nầy, một trinh nữ sẽ mang thai, và sinh một con trai’” (Ma-thi-ơ 1:22-23). Trong trường hợp này và những trường hợp khác, Cựu Ước được cho là sự giao tiếp trực tiếp từ Đức Chúa Trời (so sánh 2:15) với con người. Tuy nhiên, Cựu Ước là Lời của Đức Chúa Trời ngay cả khi phần trích dẫn là lời của người viết Cựu Ước. Ví dụ, trong Công vụ 4:25 Phi-e-rơ và Giăng nói đến việc Đức Chúa Trời phán “bởi Đức Thánh Linh” trong Thi thiên 2:1-2, nhưng đây thực sự là lời của Đa-vít, vì Đức Chúa Trời đã phán “qua miệng … của Đa-vít.” Đấng Christ đã ứng nghiệm những gì Đức Chúa Trời đã phán, “dùng miệng các tiên tri phán từ thuở trước” (Lu-ca 1:7). Và Thi thiên 95: 7-8 là những lời được Đức Chúa Trời phán ra “qua Đa-vít” (Hê-bơ-rơ 4:7).

Đôi khi các phần của Cựu ước được xem là Đức Chúa Trời phán trực tiếp mà không có bất kỳ sự liên quan nào đến các trước giả. Một ví dụ là Mười Điều Răn. Ở đây Ma-thi-ơ và Gia-cơ cho biết, được Đức Chúa Trời phán ra, không liên quan đến Môi-se (Ma-thi-ơ 15:4; Gia-cơ 2:11). Ngoài ra, Phao-lô nói rằng Lời Đức Chúa Trời được phán với Pha-ra-ôn (Xuất Ê-díp-tô Ký 9:13-16) là Kinh Thánh (Rô-ma 9:17).

Ngược lại, Kinh Thánh Cựu ước là lời của Đức Chúa Trời ngay cả khi Đức Chúa Trời không được ghi nhận là người phát ngôn. Một minh họa thú vị về sự hiểu biết của Tân Ước về tất cả Kinh Thánh như phát biểu hoặc lời phán của Đức Chúa Trời được trước giả sách Hê-bơ-rơ cung cấp khi ông trích dẫn sáu đoạn Kinh Thánh trong Cựu Ước (Hê-bơ-rơ 1:5-13). Khi giới thiệu mỗi trích dẫn đó, ông viết rằng Chúa đã nói những lời này. Tuy nhiên, bốn người trong số những (1: 6, 7, 8-9, 10-12) người phát ngôn trong Cựu Ước thực sự là một người khác. Bởi vì những câu này là một phần của Kinh Thánh Cựu ước, chúng đều là lời của Đức Chúa Trời.

Tân Ước là lời của Đức Chúa Trời

Tân ước gọi những tác phẩm thiêng liêng của Cựu Ước là lời Đức Chúa Trời. Chúng ta cũng có thể gọi Tân Ước là Lời của Đức Chúa Trời? Vì quá trình viết và tập hợp các tác phẩm Tân Ước (trong thế kỷ đầu tiên) vẫn đang diễn ra, nên không có tuyên bố nào mô tả toàn bộ Tân Ước là “Kinh Thánh” hay “Lời của Đức Chúa Trời.” Tuy nhiên, một số yếu tố chỉ ra rằng các trước giả Tân Ước đã xem các tác phẩm của họ cùng thể loại với Kinh Thánh Cựu Ước, điều này có nghĩa Cựu và Tân Ước đều là Lời của Đức Chúa Trời.

Các trước giả thường ghi lại lời phán trực tiếp của Đức Chúa Trời. Lời của Đức Chúa Trời đã được nghe khi làm phép báp têm và sự biến hình của Chúa Giê-su (Ma-thi-ơ 3:17; 17:5). Chúa phục sinh đã nói chuyện với Phao-lô trên Đường Đa-mách (Công vụ 9:4) và sau đó (19:9-10; 23:11) cũng như với những người khác (9:11-16; 10:13), và Chúa Giê-su Christ đã phán lời Ngài cho sứ đồ Giăng (Khải huyền 1:17-3:22).

Sự ngang bằng của Tân Ước với Cựu Ước như Lời của Đức Chúa Trời cũng nằm sau lời khuyến khích “đọc” (nghĩa là đọc lớn tiếng) các bức thư sứ đồ trong các nhà hội (Cô-lô-se 4:16; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:27; xem thêm 2 Cô-rinh-tô 1:13). Trong các buổi họp tại nhà nguyện Do Thái, Kinh Thánh Cựu Ước được đọc công khai (Lu-ca 4:16; Công vụ 13:15; 15:21; 2 Cô 3:15). Việc đọc các tác phẩm Tân Ước trong nhà hội cùng với Cựu Ước chứng tỏ rằng ngay từ đầu chúng đã được xếp ngang hàng với Cựu Ước. Phi-e-rơ đã nói rõ điều này khi ông đề cập đến các thư của Phao-lô cùng với “phần còn lại của Kinh Thánh” (2 Phi-e-rơ 3:16).

Khi Phao-lô trích dẫn trong 1 Ti-mô-thê 5:18 từ Phục truyền luật lệ ký 25:4 và Lu-ca 10:7, ông gọi chúng là “Kinh Thánh”, do đó chúng ta có thể xếp Cựu Ước và Tân Ước vào cùng một loại.

Cuốn sách cuối cùng của Kinh Thánh được gọi là “sự mặc khải của Chúa Giê-su Christ, mà Đức Chúa Trời đã ban … cho tôi tớ của Ngài là Giăng” (Khải huyền 1:1). Sau đó, Giăng đã làm chứng rằng ông “làm chứng cho lời của Đức Chúa Trời và cho lời chứng của Chúa Giê-su Christ” (1:2). Vì vậy, toàn bộ Sách Khải huyền là lời của Đức Chúa Trời được Đấng Christ làm chứng cho (22:16, 18, 20), lời tuyên bố ban phước cho người “đọc [người đọc công khai] và những người nghe những lời tiên tri [Sách Khải Huyền]” có thể liên tưởng đến những lời của Chúa Giê-su trong Lu-ca 11:28: “Phước cho những ai nghe lời Đức Chúa Trời và tuân giữ lời ấy.” Lời cảnh báo của Chúa chống lại bất kỳ ai thêm hoặc bớt “những lời tiên tri của sách này” cũng tương tự như lời cảnh báo của Cựu Ước về việc thêm vào các điều răn của Đức Chúa Trời (Phục truyền luật lệ ký 4:2; 12:32). Vì vậy, Sách Khải huyền đã được trình bày rõ ràng như là Lời Đức Chúa Trời.

LỜI THÀNH VĂN VÀ NGÔI LỜI – CHÚA GIÊ-SU CHRIST

Các nhà thần học chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa duy lý đã bác bỏ Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời và thay vào đó khẳng định rằng chỉ có Chúa Giê-su Christ là Lời của Đức Chúa Trời. Vào cuối thế kỷ XIX, F. W. Farrar người đứng đầu của Giáo hội Anh đã trích dẫn lời của một người khác để bày tỏ quan điểm: “Cơ đốc nhân được yêu cầu chỉ tin cậy Đấng Christ, và không kêu cầu với bất cứ ai khác mà chỉ duy Ngài mà thôi.” Gần đây hơn, John Barton trong một cách lập luận không phù hợp cho rằng “Chỉ có ‘Kinh Thánh’ là nguồn cho thẩm quyền của Phao-lô. Điều quan trọng đối với Phao-lô là các hành động của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ.” Karl Barth đã nói, “Phương trình này: Lời Đức Chúa Trời = Con của Đức Chúa Trời, khiến cho bất cứ giáo lý nào khác có liên quan đến Lời Đức Chúa Trời mà không theo phương trình trên đây đều không thể chấp nhận.” Đối với những người này, Lời của Đức Chúa Trời là sự mặc khải của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ và không có bất kỳ một lời nào khác được chấp nhận.

 

Ngay cả một số tác giả Phúc âm cũng nhấn mạnh đến Đấng Christ là Lời Đức Chúa Trời hơn là mệnh đề này: Kinh Thánh là lời Đức Chúa Trời. Donald Bloesch viết, “Chúng ta phải ghi nhớ rằng thẩm quyền tối thượng, cuối cùng không phải là Kinh Thánh mà là chính Đức Chúa Trời hằng sống khi chúng ta tìm thấy Ngài trong Chúa Giê-su Christ …  Cũng như Hội thánh phụ thuộc vào Kinh Thánh, và Kinh Thánh lại phụ thuộc vào Chúa Giê-su Christ, Đấng hiện thân cho tâm trí và lời của Đức Chúa Trời.” Alister McGrath, nhà truyền giáo Phúc âm người Anh, khẳng định rằng Kinh Thánh không được coi là “sự mặc khải chính nó”, vì chúng là “một kênh mà qua đó Đức Chúa Trời mặc khải chính Ngài trong Chúa Giê-su Christ.” Tuy nhiên, điều này ngược lại với thực tế. Kinh Thánh – như chúng ta đã thấy, rõ ràng là Lời của Đức Chúa Trời.

Đúng, một người không chỉ là lời nói. Nhưng chúng ta phải cẩn thận rằng chúng ta không phân biệt một cách chắc chắn một người từ những lời nói của anh ta. Một số điều cần lưu ý về mối quan hệ của Lời thành văn của Đức Chúa Trời, Kinh Thánh và Lời phát ngôn của Chúa Giê-su Christ.

Thứ nhất, lẽ thật rằng Đấng Christ là sự mặc khải sau cùng và cuối cùng của Đức Chúa Trời không làm cho những hình thức mặc khải trước đây của Đức Chúa Trời trở thành điều gì đó khác với Lời của Ngài. Như trước giả Hê-bơ-rơ khẳng định, Đức Chúa Trời phán cả “trong các tiên tri” và “trong Con Ngài” (Hê-bơ-rơ 1:1-2). Như chúng ta đã thấy, lời của các nhà tiên tri là lời của Đức Chúa Trời. Trên thực tế, bản thân Kinh Thánh đề cập đến cả Chúa Giê-su Christ và phần Kinh Thánh đã viết là Lời của Đức Chúa Trời, không có sự phân biệt nào ở đây. Ví dụ, Kinh Thánh là “lời sống và linh nghiệm” (Hê-bơ-rơ 4:12). Và Chúa Giê-su nói những lời của chính Ngài là “thần linh và… sự sống” (Giăng 6:63: xem thêm 1 Phi-e-rơ 1:23).

Một số tác giả tranh luận rằng Kinh Thánh là “lời chứng” hay “nhân chứng” cho Lời hằng sống, chứ không phải chính bản thân Lời. Họ chỉ ra rằng chính Chúa Giê-su đã nói rằng Kinh Thánh “làm chứng” về Ngài (Giăng 5:39). Việc Kinh Thánh làm chứng về Chúa Giê-su Christ có làm cho Kinh Thánh kém hơn Lời Đức Chúa Trời không? Câu trả lời cho câu hỏi này được nhìn thấy khi chúng ta nhớ rằng Chúa Giê-su làm chứng cho chính Ngài (5:31; 8:14). Ngay cả Cha trên trời và Thánh Linh cũng làm chứng cho Ngài (5:37; 8:18; 15:26). Sự làm chứng của chính Ngài và của Đức Chúa Cha và Thánh Linh chắc chắn Ngài là “lời của Đức Chúa Trời.” Lời chứng của những trước giả Kinh Thánh được viết dưới sự soi dẫn của Thánh Linh chỉ đơn giản là sự tiếp tục của lời chứng này và do đó không khác gì Lời của Đức Chúa Trời. Như Chúa Giê-su đã nói với các sứ đồ của Ngài, Thánh Linh “sẽ làm chứng cho Ta và các ngươi cũng sẽ làm chứng” (15:26-27; xem thêm Lu-ca 24:18; Khải Huyền 1:1).

Thứ hai, lời nói của một cá nhân không thể tách rời khỏi người đó, vì chúng “tiết lộ” bản chất của người nói. “Vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra” (Ma-thi-ơ 12:34) và “tấm lòng” ám chỉ điều thực sự ở bên trong chúng ta (Châm ngôn 27:19; 1 Phi-e-rơ 3:15). Do đó, lời nói của chúng ta là biểu hiện của chính chúng ta. Nếu một người nói những lời thô thiển hoặc ngu xuẩn, chúng ta nghĩ rằng bản thân anh ta thô thiển hoặc ngu ngốc. Nếu chúng ta tôn trọng lời nói của một người, chúng ta đang tôn trọng người đó. Vâng theo lời Đức Chúa Trời cho thấy chúng ta tôn trọng và yêu mến Ngài.  Chúa Giê-su phán dạy, “Ai có các điều răn của ta và vâng giữ lấy, ấy là kẻ yêu mến ta” (Giăng 14:21, xem thêm 14:23-24; 15:10, 14).

Từ ngữ là cách quan trọng nhất trong thực tế mà chúng ta giao tiếp. Tất nhiên, chúng ta có thể giao tiếp thông qua các hành động của cơ thể (hay ngôn ngữ của cơ thể), nhưng tính ưu việt của lời nói được thể hiện rõ ràng hơn. Theo quan sát của Walter Ong, chúng ta không thể ngồi và nhìn thẳng vào mặt người khác một cách lặng lẽ mà không cảm thấy mất tự nhiên và thậm chí là khó chịu. Nhưng việc nhìn vào người đó khi chúng ta trò chuyện là điều hoàn toàn tự nhiên.

Là con người, chúng ta được tạo ra để chia sẻ bản thân với người khác trong giao tiếp bằng lời nói. Lời nói của chúng ta thể hiện những gì chúng ta đang có và suy nghĩ trong tâm trí.

Theo cách tương tự, lời của Đức Chúa Trời không khác gì sự mở rộng của chính Ngài trong việc giao tiếp với chúng ta. Các trước giả của Kinh Thánh đã được Đức Thánh Linh điều khiển khi họ viết và do đó, lời của họ là sản phẩm của sự thần cảm từ Đức Chúa Trời – hay được Ngài hà hơi (2 Ti-mô-thê 3:16). Và vì vậy những lời đó không khác gì những lời của Đức Chúa Trời.

Lẽ thật này được thấy khi gần đến ngày kết thúc cuộc sống trên đất, Chúa Giê-su phán với các môn đồ, “Ta còn có nhiều chuyện nói với các ngươi nữa; nhưng bây giờ những điều đó cao quá sức các ngươi. Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi điều mình đã nghe, và tỏ-bày… Mọi sự Cha có, đều là của ta; nên ta nói rằng Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao-bảo cho các ngươi vậy” (Giăng 16:12-15). Đức Thánh Linh sẽ tiếp tục dạy những gì Đấng Christ đã dạy các môn đồ. Ngài sẽ tiết lộ cho họ ý nghĩa đầy đủ về cái chết và sự phục sinh của Đấng Christ mà các môn đồ chỉ có thể hiểu được sau khi những sự kiện đó xảy ra. Do đó, những nhân chứng ban đầu đã công bố phúc âm của Đấng Christ là Lời của Đức Chúa Trời vì thực tế đó là sự giảng dạy của Đấng Christ qua Thánh Linh. Các lá thư gửi cho bảy hội thánh trong Khải huyền 2-3 là những ví dụ rõ ràng về tiến trình này. Chúa Giê-su Christ đã phán những lời trong từng lá thư đến mỗi hội thánh, và kết thúc bằng lời tuyên bố: “Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội Thánh” (2:7, 11, 17, 29; 3:6, 13, 22). Những lời của sứ đồ Giăng viết được xem là lời Chúa, tức là những lời của Đức Chúa Trời bày tỏ và truyền đạt qua Con Ngài. Vì vậy, lời phán của Đức Chúa Trời được viết trong Kinh Thánh không thể tách rời với Lời dạy của Chúa Giê-su.  Kinh Thánh, Lời được viết ra, là sự bày tỏ về Đấng Christ. Ngài là Lời hằng sống.

 

Ý NGHĨA CỦA KINH THÁNH LÀ “LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI”

Liệu Kinh Thánh có phải là lời mặc khải của Đức Chúa Trời hay là những tác phẩm của con người chỉ làm chứng cho Chúa Giê-su Christ? Niềm tin rằng Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời có ý nghĩa gì? Các câu trả lời sâu hơn cho những câu hỏi này sẽ được trình bày rõ ràng trong các chương sau, nhưng một số hàm ý quan trọng cần được lưu ý ở đây.

Trước tiên, nếu Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời, thì chúng ta có một sự mặc khải khách quan bằng lời nói về Đức Chúa Trời trong lịch sử nhân loại ngày nay. Lời của Ngài không chỉ đơn giản là lời nói bên trong của Ngài đối với tấm lòng con người mà chúng ta có thể dễ dàng nhầm lẫn với ý nghĩ của chúng ta. Tất nhiên, Đức Chúa Trời bởi Thánh Linh của Ngài nói lời của Ngài đến với tấm lòng của chúng ta, chỉ khi đó chúng ta mới thực sự có thể tiếp nhận được. Nhưng Lời của Ngài được ban cho chúng ta trong Kinh Thánh.

Nếu không có Kinh Thánh như một sự mặc khải khách quan của Đức Chúa Trời trong lịch sử, chúng ta sẽ khó biết được nội dung thực sự của Lời Ngài. Nếu Kinh Thánh chỉ là nhân chứng cho Ngôi Lời, thì Ngôi Lời là gì? Câu trả lời là Đấng Christ. Nhưng Đấng Christ là ai và điều gì được tiết lộ về Ngài? Nếu các tác phẩm của Kinh Thánh chỉ là những lời lẽ khó hiểu của con người, nếu chúng chỉ là một tài liệu của con người thì phải dùng phương pháp nghiên cứu lịch sử-phê phán của con người để biết điều gì đã thực sự xảy ra. Lúc này làm sao chúng ta biết được nội dung thực sự của chúng? Nghĩa là, làm sao nội dung của Kinh Thánh có thể xác định chắc chắn là lời vô ngộ hay chỉ là lời của con người?

Nếu ghi chép trong Kinh Thánh về sự chết và sự phục sinh của Chúa Giê-su Christ giống như một câu chuyện thần thoại, thì chúng ta không bao giờ có thể chắc chắn rằng các bản ghi chép này là đúng đắn. Nhưng nếu Kinh Thánh là Lời khách quan của Đức Chúa Trời, thì trách nhiệm của chúng ta là tìm cách hiểu và tiếp nhận nó trong sự vâng lời.

Thứ hai, nếu Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời, thì chúng ta phải nghe Kinh Thánh như lời Đức Chúa Trời phán với chúng ta. Chúng ta bày tỏ chính mình cho người khác qua lời nói của mình thì Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài cho chúng ta qua Kinh Thánh để chúng ta có thể nhận biết Ngài. Vì những lời của Kinh Thánh không chỉ đơn giản là lời của những trước giả ghi chép  mà là lời của Đức Chúa Trời hằng sống. Lời này vẫn tiếp tục sống động như khi chúng được viết ra lần đầu tiên. Những lời của tiên tri Ê-sai có thể đã bị những người đương thời bác bỏ, nhưng khi được viết trong Kinh Thánh, chúng sẽ “truyền lại các đời sau, mãi mãi không cùng” (Ê-sai 30:8; xem thêm 8:16). Lời Chúa vẫn liên tục được phát ngôn, và một ngày nào đó mọi người sẽ lắng nghe. Đức Chúa Trời vẫn đang “phán” Lời cảnh báo của Ngài về sự cứng lòng của con người. Lời cảnh báo lần đầu tiên được nói với dân Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng (Dân-số Ký 14:22-23), sau đó được trước giả Thi-thiên viết lại (Thi-thiên 95:11), và sau đó được gửi đến các độc giả của Sách Hê-bơ-rơ (Hê-bơ-rơ 4:7). Đức Chúa Trời đã ban một số chỉ dẫn cụ thể cho một số người nhất định, những chỉ dẫn đó không thể áp dụng cho chúng ta ngày nay, nhưng lời dạy của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh vẫn truyền đạt lẽ thật của Ngài đến bây giờ. Cha mẹ đưa ra những hướng dẫn cụ thể cho con cái, chẳng hạn như thời gian đi ngủ, nhưng những hướng dẫn đó không còn được áp dụng khi trẻ đã trưởng thành. Nhưng điểm chính yếu của những hướng dẫn đó – rằng mọi người cần nghỉ ngơi hợp lý – vẫn có giá trị đối với người lớn. Tương tự như vậy, Đức Chúa Trời nói lẽ thật của Ngài với chúng ta theo cách mới mỗi ngày qua những trang Kinh Thánh.

Thứ ba, vì Kinh Thánh là Lời khách quan của Đức Chúa Trời, nên nó luôn luôn là như vậy. Do đó, thật sai lầm khi nói rằng Kinh Thánh trở thành Lời của Đức Chúa Trời khi Ngài dùng nó để nói với ai đó. Kinh Thánh là Lời hằng sống của Đức Chúa Trời, cho dù người ta có công nhận nó như vậy hay không. Chúa Giê-su đã nói những lời của Đức Chúa Trời, nhưng nhiều người không nhận ra những lời đó bởi vì như Ngài đã nói, họ không thể “nghe lời Ta” (Giăng 8:43). Vì vậy, thay vì chờ đợi Kinh Thánh trở thành Lời Đức Chúa Trời, chúng ta nhận ra rằng đó là Lời của Ngài. Vì vậy, chúng ta cùng trước giả Thi-thiên cầu nguyện, “Xin mở mắt tôi để tôi được nhìn thấy những điều lạ lùng trong luật pháp của Chúa” (Thi Thiên 119:18). Đó là, chúng ta cầu xin Đức Chúa Trời cho phép chúng ta hiểu những gì Ngài đã phán trong Kinh Thánh. Trách nhiệm của chúng ta là vâng theo lời cảnh báo của Chúa Giê-su là “hãy coi chừng về cách các ngươi nghe” (Lu-ca 8:18).

PHẦN KẾT LUẬN

Vì lời nói là nền tảng của mối quan hệ của chúng ta với người khác, nên chúng cũng nằm trong mối quan hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời. Lời của Ngài được hiện diện trong thân vị và chức vụ của Đấng Christ. Nhưng nó cũng được đưa ra dưới dạng lời nói và văn bản để chúng ta có thể biết Ngài và những gì Ngài đòi hỏi ở chúng ta. Do đó, Đức Chúa Trời nhìn chúng ta trong Đấng Christ qua lời thành văn của Ngài là Kinh Thánh, và chúng ta đáp lại điều này. Dấu hiệu  thật của các môn đồ của Chúa Giê-su là “họ đã giữ lời Cha” (Giăng 17: 6; xem thêm 8:51; 15:10). Dân sự trong thời kỳ Cựu Ước đã ràng buộc với Ngài trong giao ước khi họ nghe lời Ngài và đáp lại rằng: “Chúng tôi xin làm mọi việc ĐỨC GIÊ-HÔ-VA đã phán dặn” (Xuất Ê-díp-tô Ký 19: 8; xem thêm 24:7). Do đó, bản sắc của dân sự Đức Chúa Trời nằm trong cuộc đàm thoại mà họ tiếp tục với Đức Chúa Trời, lắng nghe Lời Ngài và vâng theo Lời Ngài. Theo lời chứng của cả Cựu ước và Tân ước, những lời thành văn trong Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời. Vì vậy, mối quan hệ của chúng ta với Ngài tùy thuộc vào việc chúng ta có Lời của Đức Chúa Trời hay không.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

8

Đấng Christ Quan Niệm Thế Nào Về Kinh Thánh?

CÁC CƠ ĐỐC NHÂN tin rằng những lời của Chúa Giê-su là hoàn toàn có thẩm quyền và đáng tin cậy. Trong khi Ngài còn ở trên đất, Ngài tuyên bố chỉ nói những lời của Đức Chúa Cha, Đấng đã sai Ngài đến thế gian. “Đạo lý của ta chẳng phải bởi ta, nhưng bởi Đấng đã sai ta đến.” (Giăng 7:16; xem thêm 8:28; 12:49). Các sách Phúc âm ghi lại rằng “đoàn dân lấy đạo Ngài làm lạ; vì Ngài dạy như là có quyền” (Ma-thi-ơ 7:28-29). Chính Ngài đánh giá về những lời dạy của Ngài, khi phán rằng: “Trời đất sẽ qua đi, song lời ta không bao giờ qua đâu.” (Mác 13:31). Những lời phán của Ngài sẽ phán xét loài người nơi ngày sau cùng (Giăng 12:48). Chỉ những ai nghe lời Ngài và đem ra thực hành mới vượt qua thử thách cuối cùng của cuộc đời (Ma-thi-ơ 7:24–25).

Một số người có tư tưởng rằng những lời dạy của Chúa Giê-su, được in bằng màu đỏ trong một số phiên bản Kinh Thánh, bằng cách nào đó thì có thẩm quyền hơn phần còn lại của Kinh Thánh. Tất cả Kinh Thánh đều có thẩm quyền, bởi vì như đã thảo luận trong chương trước, Đức Chúa Trời chính là Tác giả của Kinh Thánh. Tuy nhiên, những lời dạy của Chúa Giê-su vẫn đặc biệt quan trọng vì Ngài là chính là — Con Đức Chúa Trời. Vì Ngài là Chúa của chúng ta, nên điều quan trọng là chúng ta phải đặc biệt chú ý đến những gì Ngài đã nói về Kinh Thánh. Thái độ của Ngài đối với Lời của Đức Chúa Trời cũng phải là thái độ của chúng ta.

 

SỰ NỔI BẬT CỦA KINH THÁNH TRONG CUỘC ĐỜI CỦA CHÚA GIÊ-SU

Chúa Giê-su Thường Xuyên Sử Dụng Kinh Thánh

Cho dù Ngài đang chiến đấu với Sa-tan trong khi chịu cám dỗ, khi giảng dạy cho đám đông bên bờ biển, hay khi chỉ dẫn các môn đồ của Ngài, những lời của Chúa Giê-su đều nhấn mạnh đến việc trích dẫn từ Kinh Thánh Cựu Ước. Những lời đó luôn ở trên môi Ngài trong lời cầu nguyện, ngay cả trong sự thương khó của Ngài trên thập tự giá. Tâm trí của Ngài ngập tràn những lời Kinh Thánh đến nỗi Ngài dùng những lời đó để bày tỏ cảm xúc của chính Ngài. Nỗi thống khổ của Đa-vít nhiều thế kỷ trước đó đã trở thành biểu hiện cho nỗi đau đớn tột cùng của chính Ngài khi Ngài kêu lên từ thập tự giá, “Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?” (Ma-thi-ơ 27:46). Và khi Ngài chết, Ngài đã nói theo lời của trước giả Thi thiên: “Tôi phó thác thần linh tôi vào tay Chúa” (Thi thiên 31:5; Lu-ca 23:46). Ngay cả sau khi Ngài sống lại, Ngài cũng đã giải thích Kinh Thánh (24: 44–45).

Trong bản dịch King James, bốn sách Phúc âm bao gồm 3.779 câu. Theo Graham Scroggie, thì trong đó có 1.934 câu hầu hết hoặc một phần là chứa những lời phán của Đấng Christ. Trong số 1.934 câu này có khoảng 180 câu, hoặc khoảng một phần mười là trích dẫn hoặc ám chỉ đến Kinh Thánh Cựu Ước. Ngay cả điều này cũng không cung cấp cho chúng ta một bức tranh đầy đủ, vì như John W. Wenham lưu ý rằng, “Trong nhiều đoạn văn, đơn giản là không có cách nào để phân biệt giữa sự ám chỉ có ý thức của Chúa Giê-su đối với Cựu Ước và cách sử dụng bình thường theo thói quen của Ngài đối với các lời trong Cựu Ước. Lời Kinh Thánh đã xuyên thấu qua tâm trí của Đấng Christ.”

Chúa Giê-su đề cập đến Kinh Thánh bao gồm toàn bộ phạm vi lịch sử Cựu Ước. Trong số đó rất nhiều người và sự kiện mà Ngài đề cập đến là việc tạo dựng A-đam và Ê-va và định chế hôn nhân (Ma-thi-ơ 19:4-6), cái chết của A-bên (23:35), thời kỳ Nô-ê và cơn Đại hồng thủy (24:37-38), sự hủy diệt Sô-đôm (Lu-ca 17:29), Áp-ra-ham (Giăng 8:56). Y-sác và Gia-cốp (Ma-thi-ơ 8:11), sự xuất hiện của Đức Chúa Trời trong bụi gai cháy (Mác 12:26), cuộc đời của Đa-vít (Ma-thi-ơ 12:3), Sa-lô-môn (12:42), chức vụ của Ê-li (Lu-ca 4:25), và sự tử đạo của tiên tri Xa-cha-ri (Ma-thi-ơ 23:35). Ngài cũng đề cập đến sự cung ứng kỳ diệu của Đức Chúa Trời về ma-na (Giăng 6:49), cái chết của vợ Lót (Lu-ca 17:31-32), con rắn đồng (Giăng 3:14), Giô-na và con cá lớn (Ma-thi-ơ 12:40).

Việc Chúa Giê-su đề cập đến những sự kiện này và những nhân vật trong Cựu Ước không chỉ đơn giản là những giải thích phụ thêm vào sự dạy dỗ của Ngài. Nhiều người trong số những nhân vật và sự kiện này đã báo trước về chức vụ thiên sai của Ngài và các sự kiện tương lai trong  những ngày sau rốt. Đa-vít, Sa-lô-môn, Giô-na và những người khác, là những hình ảnh của chính Ngài, và con rắn bằng đồng là tượng trưng cho sự cứu rỗi của Ngài thông qua thập tự giá. Thời kỳ của Nô-ê là tượng trưng cho sự phán xét chung cuộc hầu đến.

Một số người nói rằng việc Chúa Giê-su đề cập đến những sự kiện này không có nghĩa là Ngài coi chúng là lịch sử. Sau hết, điều này được lập luận rằng, người ta có thể sử dụng truyền thuyết làm minh họa cho lẽ thật thuộc linh. Tuy nhiên, cách Chúa Giê-su trích dẫn những sự kiện này trong sự dạy dỗ của Ngài để xác nhận tính thực tế lịch sử của chúng. Việc Chúa Giê-su đề cập đến chế độ một vợ một chồng (Ma-thi-ơ 19:4-5; Mác 10:6-8) chắc chắn ngụ ý tính lịch sử của câu chuyện buổi đầu sáng thế về A-đam và Ê-va. Chúa Giê-su tuyên bố rằng “Ðến ngày phán xét, dân thành Ni-ni-ve sẽ đứng dậy với dòng dõi nầy mà lên án nó, vì dân ấy đã nghe lời Giô-na giảng và ăn năn” (Ma-thi-ơ 12:41) sẽ là vô nghĩa, trừ khi có “người dân của Ni-ni-ve” thực sự đã từng nghe một nhân vật lịch sử tên là Giô-na. Lời tuyên bố tương tự rằng trong ngày phán xét thì dân thành Sô-đôm sẽ bị nhẹ hơn đối với dân thành Ca-bê-na-um, là những người đã thấy những công việc kỳ diệu của Ngài nhưng không chịu ăn năn (11: 23–24), cho thấy rõ ràng tính chất lịch sử của biến cố tại Sô-đôm. Điều tương tự cũng phải nói là về việc Ngài đề cập đến cơn Đại hồng thủy như một bức tranh về sự phán xét hầu đến. Việc so sánh sự chết và sự sống lại của chính Ngài với “ba ngày ba đêm trong bụng cá lớn” của Giô-na (12:40) liên hệ đến kinh nghiệm thực tế của Giô-na.

Những ví dụ này và những ví dụ khác, chẳng hạn như các liên quan đến Áp-ra-ham (Giăng 8:56-58), Ê-li và Ê-li-sê (Lu-ca 4:25-27), cho thấy rằng Chúa Giê-su, trái với nhiều người chỉ trích Kinh Thánh, đã chấp nhận tính lịch sử của toàn bộ Cựu Ước. Theo lời dạy của Chúa Giê-su, thì Đức Chúa Trời đã tạo ra hai con người đầu tiên là A-đam và Ê-va (Ma-thi-ơ 19:4). Từ đó có Ca-in và A-bên (Lu-ca 11:51), và có một trận lụt vào thời kỳ Nô-ê. Sô-đôm và Gô-mô-rơ đã bị lửa thiêu hủy, và sự kiện của vợ Lót hóa thành tượng muối là biến cố có thật trong lịch sử (17:29–32). Tương tự, các phép lạ của Ê-li (4:25–26), câu chuyện Giô-na và con cá lớn (Ma-thi-ơ 12:40–41) là các sự kiện lịch sử đáng tin cậy.

Trái ngược với quan điểm của nhiều học giả hiện đại, Chúa Giê-su khẳng định quyền tác giả của Môi-se đối với năm sách đầu tiên của Kinh Thánh (ngũ kinh), thường được gọi là Luật pháp. Chúa Giê-su đề cập đến Môi-se là người viết Luật pháp khoảng hai mươi lần, và Ngài đã trích dẫn Môi-se mười sáu lần. Ngài đã hỏi các môn đồ, “Môi-se há chẳng ban luật pháp cho các ngươi sao?” (Giăng 7:19). Ngoài ra, một số người cho rằng Sách Ê-sai được viết bởi hai hoặc nhiều tác giả là trái với sự dạy dỗ của Chúa Giê-su. Theo các học giả tự do, Ê-sai 1–39 được viết bởi một người và các chương 40-66 được viết bởi một Ê-sai thứ hai (và một số gán cho các chương từ 56-66 là “Ê-sai” thứ ba). Tuy nhiên, Chúa Giê-su đã đưa ra những tuyên bố từ tất cả các phần của sách cho Ê-sai.

Khái niệm về Kinh Thánh của Chúa Giê-su bao gồm toàn bộ Cựu Ước, như được thấy khi Ngài đề cập đến “Luật pháp Môi-se, các sách Tiên tri và Thi thiên” (Lu-ca 24:44). Vào thời điểm đó, một cách đề cập đến Cựu Ước là nói đến sự phân chia ba phần của sách gồm: Luật pháp, Các Lời tiên tri và các sách Văn thơ. Thi thiên là cuốn sách đầu tiên trong bộ sách Văn thơ. Do đó, Chúa Giê-su đã nói về toàn bộ Cựu Ước, coi tất cả ba phần đó là “Kinh Thánh” (24:45). Toàn bộ Kinh Thánh cũng được mô tả là Luật pháp và các lời tiên tri (Ma-thi-ơ 5:17), hoặc đơn giản là “Luật pháp” (5:18; Giăng 10:34).

Sự hiểu biết rộng rãi của Chúa Giê-su đối với Kinh Thánh và đặc biệt là vị trí trung tâm của nó trong tất cả sự dạy dỗ và chức vụ của Ngài dẫn đến kết luận rằng Ngài hoàn toàn tin tưởng và thực hành Kinh Thánh trong cuộc sống của chính mình. Trích dẫn Kinh Thánh được ghi lại đầu tiên của Ngài, “Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Ðức Chúa Trời.” (Ma-thi-ơ 4:4; xem Phục truyền Luật lệ Ký 8:3). Charles Haddon Spurgeon từng nói với giáo đoàn của mình, “Thật là diễm phúc khi được ăn sâu vào chính linh hồn của Kinh Thánh cho đến tận cuối cùng, bạn nói chuyện bằng ngôn ngữ Kinh Thánh, và tâm linh bạn được thấm nhuần những lời của Chúa, đến nổi máu của bạn là sự sống của Kinh Thánh và chính linh hồn của Kinh Thánh chảy ra từ bạn.” Không ai làm gương mẫu tốt hơn cho điều này như Chúa Giê-su.

 

SỰ CÔNG NHẬN CỦA CHÚA GIÊ-SU VỀ THẨM QUYỀN CỦA KINH THÁNH

Chính Chúa Giê-su Vâng Phục Kinh Thánh

Sự tôn trọng của Chúa Giê-su đối với Kinh Thánh không chỉ thể hiện qua số lần được tìm thấy khi Ngài đề cập đến. Nó cũng được thấy trong sự vâng phục của Ngài đối với thẩm quyền của Kinh Thánh. Trong câu chuyện Sa-tan cám dỗ Chúa, Ngài sử dụng Kinh Thánh đưa ra những mệnh lệnh trái ngược với những gì ma quỷ yêu cầu, và Ngài quyết tâm vâng theo Lời của Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 4:4, 6-7,10). Ngài biết rằng ý muốn của Đức Chúa Trời dành cho Đấng Mê-si đã được báo trước trong Cựu Ước là để Ngài phải chịu đau khổ và chết. Vì vậy, Ngài đã chống lại thái độ của Phi-e-rơ khi ông từ chối lẽ thật này. Phi-e-rơ bị quở trách, “Ngài xây mặt lại mà phán cùng Phi-e-rơ rằng: Ớ Sa-tan, hãy lui ra đằng sau ta! Ngươi làm gương xấu cho ta; vì ngươi chẳng nghĩ đến việc Đức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người ta” (16:23).

Các hành động của Ngài thường bị các nhà lãnh đạo tôn giáo buộc tội Ngài đã vi phạm các điều răn của Luật pháp (Mác 2:24-28; 3:4; Lu-ca 13:14-17). Nhưng câu trả lời của Chúa Giê-su luôn luôn giống nhau. Nếu họ hiểu ý nghĩa thực sự của luật pháp, họ sẽ nhận ra rằng Ngài không vi phạm các điều luật theo bất kỳ cách nào (Giăng 7:21-24). Theo Chúa Giê-su, những vấn đề này nảy sinh vì các thầy dạy luật đã phát triển những truyền thống của con người làm sai lệch Lời của Đức Chúa Trời (Mat 15:6). Ví dụ, Chúa Giê-su thấy rằng những giới hạn của Bộ luật Do Thái, là những quy tắc do các giáo sư Do Thái đặt ra để tuân giữ các điều răn, nhưng lại ngăn cản tuyển dân yêu thương người lân cận (chữa lành người bệnh) vào ngày Sa-bát (Mác 3:1-6). Bởi vì Ngài hoàn toàn vâng phục Lời của Đức Chúa Trời, Chúa Giê-su có thể nói với các kẻ đối kháng Ngài, “Ai trong các ngươi kết tội được Ta [chứng minh Ta có tội]?” nhưng không ai có thể làm như vậy (Giăng 8:46; xem thêm 18:23). Học giả Tân Ước Adolph Schlatter đã ghi nhận một cách chính xác, “Chúa Giê-su nhìn thấy toàn bộ sự kêu gọi đời sống của Ngài trong Kinh Thánh—đó không phải là điều không liên quan mà hoàn toàn là trọng tâm trong đời sống của Ngài…. Toàn bộ ý chí của Ngài bị tiêu hao với điều này: để làm theo những gì mà từng điều răn đã truyền. Đây là Một Người—đầu tiên trong lịch sử—không chỉ hiểu biết Lời mà còn thực hiện Lời.”

Có lẽ còn hơn cả việc Ngài tuân theo các mệnh lệnh công chính của Luật pháp Đức Chúa Trời dành cho dân Ngài, sự phục tùng của Chúa Giê-su đối với Kinh Thánh được thể hiện rõ ràng qua cách Ngài xem chính Ngài là sự ứng nghiệm của Lời Kinh Thánh. Ngài phán, “Các ngươi dò xem Kinh thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời: Ấy là Kinh thánh làm chứng về ta vậy trong Kinh Thánh” (Giăng 5:39). Và với hai môn đồ trên đường về làng Em-ma-út, Ngài phán: “Ấy đó là điều mà khi ta còn ở với các ngươi, ta bảo các ngươi rằng mọi sự đã chép về ta trong luật pháp Môi-se, các sách tiên tri, cùng các Thi thiên phải được ứng nghiệm” (Lu-ca 24:44).

Sự phục tùng của Ngài đối với Kinh Thánh cũng được nhìn thấy qua cách mà những lời tiên tri đã dự báo Ngài phải đi trên con đường đau khổ cho đến chết. Tại lễ báp têm của Ngài, Ngài truyền bảo Giăng Báp-tít, “vì chúng ta nên làm cho trọn mọi việc công bình như vậy.” (Ma-thi-ơ 3:15), nghĩa là, việc làm báp têm cho Ta là điều cần thiết để Ta có thể hoàn thành công việc của Ta trong sự vâng lời với tư cách là Tôi tớ của Đức Giê-hô-va. Vào cuối cuộc đời trên đất, Chúa Giê-su phán dạy các môn đồ rằng: “Nầy, chúng ta lên thành Giê-ru-sa-lem, mọi điều mà các đấng tiên tri đã chép về Con người sẽ ứng nghiệm. Vì Ngài sẽ bị nộp cho dân ngoại… sau khi đánh đòn rồi, thì giết Ngài đi; đến ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại” (Lu-ca 18:31-33). “Ngài đã bị kể vào hàng kẻ dữ” – Lời này phải ứng nghiệm về chính mình ta. Thật vậy, sự đã chỉ về ta hầu được trọn (22:37). Sự phục tùng mà Cựu Ước đã tiên tri về sự thương khó của Ngài được thấy khi Ngài bị bắt tại Ghết-sê-ma-nê. Khi một trong những môn đồ cố gắng bảo vệ Ngài bằng một thanh gươm, nhưng Chúa Giê-su bảo môn đồ đó hãy đặt thanh gươm trở lại vị trí cũ, và nói rằng Ngài có thể cầu xin Cha mình ban cho mười hai đội thiên sứ để bảo vệ Ngài. Ngài từ chối sự trợ giúp như vậy, và giải thích, “Nếu vậy, thế nào cho ứng nghiệm lời Kinh Thánh đã chép rằng việc nầy tất phải xảy đến?” (Ma-thi-ơ 26:54). Như vậy có thể thấy rằng Chúa Giê-su biết trước và Ngài chấp nhận chương trình của Cha thiên thượng.

Có thể thấy sự lệ thuộc của Chúa Giê-su vào một kế hoạch cứu chuộc vĩ đại mà sự mặc khải trước đó ban cho Y-sơ-ra-ên, đã hình thành nên tâm thái chuẩn bị của Ngài.

 

Chúa Giê-su sử dụng Kinh Thánh trong sự giảng dạy

Bên cạnh việc thể hiện niềm tin của Ngài vào thẩm quyền của Kinh Thánh bằng cách phục tùng Kinh Thánh, Chúa Giê-su đã sử dụng Kinh Thánh là thẩm quyền tối hậu trong sự dạy dỗ của Ngài. Mặc dù chính Ngài là Lời mặc khải tối hậu của Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 1:3) và mặc dù Ngài đã nhận được sự mặc khải từ Cha (Ma-thi-ơ 11:27), phần lớn sự dạy dỗ của Ngài dựa trên những lời trong Kinh Thánh Cựu Ước. Điều này đặc biệt rõ ràng trong các phần Kinh Thánh sau:

 

Các ngươi chưa đọc những gì Đa-vít đã làm phải không? (Ma-thi-ơ 12:3)

Hay là các ngươi không đọc? (12:5)

Các ngươi há chưa đọc sao? (19:4)

Các ngươi chưa hề đọc lời này sao? (21:16)

Các ngươi há chưa hề đọc lời trong Kinh Thánh sao? (21:42)

Các ngươi há không đọc lời Đức Chúa Trời phán sao? (22:31)

Môi-se đã dạy các ngươi điều gì? (Mác 10:3)

Trong luật pháp có chép điều gì? Ngươi đọc gì trong đó? (Lu-ca 10:26)

Vậy thì điều đó nói gì? (20:17)

Trong luật pháp của các ngươi chép điều gì? (Giăng 8:17)

Điều đó không được chép trong Luật pháp của các ngươi sao? (10:34)

Nhiều lời dạy khác của Chúa Giê-su được giới thiệu bằng những lời tuyên bố tương tự, trong đó Ngài kêu gọi sự chú ý đến Cựu Ước một cách rõ ràng. Nhưng những điều này không có nghĩa là kể tất cả câu chuyện, vì phần lớn Cựu Ước thiết lập nền tảng cho sự dạy dỗ của Ngài.

Các chủ đề cơ bản về sự dạy dỗ của Chúa Giê-su cũng như những chủ đề có tính chất ngẫu nhiên hơn được xây dựng dựa trên Cựu Ước. Lời tuyên bố của Ngài về vương quốc thiên đàng bắt nguồn từ lời tiên tri của Đa-ni-ên rằng “Đức Chúa Trời trên trời sẽ thiết lập một vương quốc” (Đa-ni-ên 2:44). Trong cuộc trò chuyện của Ngài với Ni-cô-đem, Chúa Giê-su ám chỉ rằng lẽ ra Ni-cô-đêm là một người cai trị trong Y-sơ-ra-ên phải biết lẽ thật về sự tái sanh bởi Đức Thánh Linh (Giăng 3:3-8), bởi vì Ê-xê-chi-ên và những người khác đã nói về điều đó (Ê-xê-chi-ên 36:25-27). Chúa Giê-su đề cập đến cơn đại nạn trong tương lai (Mác 13:14) mà Đa-ni-ên đã viết về nó (Đa-ni-ên 9:27; 11:31; 12:11). Và sự mô tả của Chúa Giê-su về hình phạt đời đời, “đó là nơi sâu bọ chúng nó chẳng hề chết, và là nơi lửa chẳng hề tắt” (Mác 9:48) trích từ Ê-sai 66:24.

Để trả lời câu hỏi của những người Pha-ri-si về việc ly hôn, Chúa Giê-su đã căn cứ thần học về hôn nhân dựa trên lời giải trình của sách Sáng thế ký về sự Sáng tạo. Đức Chúa Trời đã tạo ra người nam và người nữ và cả hai trở nên một thịt. Đây là sự dạy dỗ của Kinh Thánh, và vì vậy đây là ý muốn của Đức Chúa Trời (Mat 19: 4-6). Vào một dịp khác, Chúa Giê-su đã tóm tắt sự hiểu biết của Ngài về bổn phận tối thượng của con người trước mặt Đức Chúa Trời trong những lời dạy của Phục truyền luật lệ ký 6:5: “Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến CHÚA, là Ðức Chúa Trời ngươi.” (Ma-thi-ơ 22:37). Ngay cả điều gọi là Luật Vàng— hễ điều chi mà các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì cũng hãy làm điều đó cho họ, “vì ấy là luật pháp và lời tiên tri.” (7:12).

Những lời đã được tiên tri Ê-sai nói nhiều thế kỷ trước cho dân sự vào thời của Ngài cũng được áp dụng cho các thầy thông giáo và người Pha-ri-si vào thế kỷ thứ nhất: “Dân nầy lấy môi miếng thờ kính ta; Nhưng lòng chúng nó xa ta lắm. Sự chúng nó thờ lạy ta là vô ích, Vì chúng nó dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra.” (Mat 15:8-9; trích Ê-sai 29:13). Sự phán xét thiên thượng về sự mù quáng thuộc linh vì đã khước từ lẽ thật được tiên tri Ê-sai tuyên bố (Ê-sai 6:9-10) vẫn được áp dụng cho thế hệ từ chối sự dạy dỗ của Ngài (Mác 3:12).

Đôi khi đó chỉ là một cụm từ hoặc ý nghĩ ngắn gọn có thể áp dụng cho một tình huống nhất định. Chúa Giê-su nói đến cụm từ “chiên không có người chăn” (được dùng nhiều lần trong Cựu Ước) là một mô tả rất thích hợp về đoàn dân đông trong thời của Ngài (Dân số ký 27:17; Ê-xê-chi-ên 34:5; Ma-thi-ơ 9:36). Ngài cảnh báo đừng chiếm chỗ ngồi danh dự trong bàn tiệc kẻo có người xứng đáng hơn (Lu-ca 14:7-11), lẽ thật này đã được tìm thấy trong Châm ngôn 25:6-7. Câu nói nổi tiếng của Ngài, “Các ngươi thường có kẻ nghèo ở cùng mình” (Ma-thi-ơ 26:11) dựa trên một tuyên bố có hiệu lực trong Phục truyền luật lệ ký 15:11. Những lời dạy của Chúa Giê-su về việc một hòn đá bị những thợ xây dựng từ chối và những ai vấp phải nó sẽ bị dập nát và nó sẽ nghiền nát những người mà nó rơi xuống là được lấy từ Cựu Ước (Ma-thi-ơ 21:42,44; Ê-sai 8:14-15; Đa-ni-ên 2:34,44). Những trích dẫn và lời ám chỉ như vậy về Cựu Ước có thể được tìm thấy ở nhiều chỗ trong Tân Ước.

Trên hết, Chúa Giê-su dùng Kinh Thánh để giải thích con người và sứ mệnh của Ngài ở thế gian. Chúng ta đã được nhắc nhớ rằng, sau khi Phục sinh, Ngài đã sử dụng toàn bộ Cựu Ước để chỉ dẫn các môn đồ của Ngài về những điều liên quan đến chính Ngài. Nhưng trước đó rất lâu, Ngài đã nói đến sự ứng nghiệm của Kinh Thánh về chính Ngài. Ngài đã đến, “không phải… phá Luật pháp hay là Lời tiên tri,” song để làm ứng nghiệm” (Ma-thi-ơ 5:17). Chức vụ của Giăng Báp-tít đã ứng nghiệm lời tiên tri của Ê-sai rằng một sứ giả sẽ được sai đến để dọn đường trước mặt Chúa (Ma-thi-ơ 11:10; Ê-sai 40:3). Và Chúa Giê-su đã giới thiệu chức vụ của Ngài tại Na-xa-rét bằng cách lấy cuộn sách trong nhà hội và đọc từ Ê-sai 61:1, “Thần của Chúa ngự trên ta: Vì CHÚA đã xức dầu cho ta đặng truyền Tin Lành cho kẻ nghèo” (Lu-ca 4:18). Sau đó, Ngài nói những lời này đã được ứng nghiệm trong chính Ngài (4:21). Vào một dịp khác, khi các môn đồ của Giăng đặt câu hỏi liệu Ngài có thực sự là “Đấng Sẽ Đến” hay không, Chúa Giê-su đã xác thực danh tính của Ngài bằng cách chỉ vào các phép lạ của Ngài, điều này làm ứng nghiệm lời tiên tri mà Ê-sai đã nói tiên tri về Đấng Mê-si và thời gian của Ngài trên đất (Ma-thi-ơ 11:1-6; Ê-sai 35:5-6).

Không chỗ nào trong Kinh Thánh mà sự giải thích của Chúa Giê-su về các hành động của Ngài là sự ứng nghiệm của Kinh Thánh rõ ràng hơn là trong các sự kiện xung quanh sự đóng đinh. Ngài bị các nhà lãnh đạo Do Thái từ chối (Ma-thi-ơ 21:42; Thi thiên 118:22); Ngài bị phản bội bởi một trong các môn đồ của Ngài (Giăng 13:18; Thi thiên 41:9); các môn đồ của Ngài bị phân tán khi Ngài bị bắt (Ma-thi-ơ 26:31; Xa-cha-ri 13:7); Sự chết thế của Ngài (Mác 10:45; Ê-sai 53:10-11)—tất cả những gì mà Chúa Giê-su nói đều được ứng nghiệm Lời tiên tri của Đức Chúa Trời về chính Ngài.

Chỉ một thời gian ngắn trước khi chết, “Ðức Chúa Giê-su biết mọi việc đã được trọn rồi, hầu cho lời Kinh Thánh được ứng nghiệm, thì phán rằng: “Ta khát’” (Giăng 19:28). Ngay cả lời tuyên bố khá ngẫu nhiên của người viết thi thiên về nước uống khó chịu mà Người Đầy tớ Thống khổ của Đức Chúa Trời sẽ nhận được từ những kẻ bắt bớ Ngài cũng đã được ứng nghiệm trong Ngài (Thi thiên 69:21).

Khi Ðức Chúa Giê-su chịu lấy giấm ấy rồi, “bèn phán rằng: ‘Mọi việc đã được trọn’; rồi Ngài gục đầu mà trút linh hồn” (Giăng 19:30). Tất cả những lời tiên tri trong Kinh Thánh nói về sự sống và cái chết của Ngài đã được ứng nghiệm. Là Tôi tớ vâng lời, Ngài phải làm trọn những lời chỉ về Ngài trong Kinh Thánh.

Những gì Chúa Giê-su tin về Kinh Thánh là đặc biệt rõ ràng trong phản ứng của Ngài đối với những người thách thức sự dạy dỗ của Ngài. Trong một số trường hợp, Ngài tìm cách mở rộng tầm mắt của họ trước sự thật bằng cách sử dụng những câu hỏi thăm dò. Trong những cuộc đối đầu này với những kẻ chống đối, Chúa Giê-su luôn luôn cậy vào Kinh Thánh là thẩm quyền tối hậu của Ngài.

Trong dụ ngôn về vườn nho, Ngài đã kể một câu chuyện tác động vào lương tâm của những người nghe là những người đang khước từ Ngài là Con Đức Chúa Trời (Lu-ca 20:16-17). Trong câu chuyện, kết quả của sự khước từ là việc dời chuyển vườn nho, mà vườn nho là tượng trưng cho vương quốc, vương quốc này bị dời chuyển từ những người Do Thái không tin trong thời kỳ của Ngài cho những người khác sẽ tiếp nhận sứ giả chân thật của Đức Chúa Trời. Khi những người nghe từ chối sự ám chỉ của Ngài trong câu chuyện thì la lên rằng, “Ðức Chúa Trời nào nỡ vậy!” (20:16), Chúa Giê-su phản bác lại bằng cách cậy vào Kinh Thánh: “Vậy thì điều này được viết như thế nào? ‘Hòn đá thợ xây nhà bỏ ra, trở nên đá góc nhà, nghĩa là gì’?” (20:17). Đối với Chúa Giê-su, câu Kinh Thánh Cựu Ước này áp dụng cho hoàn cảnh hiện tại của Ngài, và bởi vì Kinh Thánh có thẩm quyền tuyệt đối, nên sự phản đối của những người nghe Ngài đã bị bác bỏ.

Những kẻ chống đối Ngài thường xuyên tìm cách gài bẫy Ngài bằng những câu hỏi khôn khéo. Có một lần, những người Sa-đu-sê, là những người không tin vào sự phục sinh, nghĩ rằng họ đã bác bỏ được sự phục sinh bằng cách đưa ra câu hỏi về người phụ nữ giả định là đã kết hôn liên tiếp với bảy anh em (Ma-thi-ơ 22:23-33). Họ muốn biết người phụ nữ này sẽ là vợ của ai sau khi phục sinh.

Chúa Giê-su đáp lại bằng lời tuyên bố: “Các ngươi lầm, vì không hiểu Kinh Thánh, và cũng không hiểu quyền phép Ðức Chúa Trời thể nào. Vì đến khi sống lại, người ta không cưới vợ, cũng không lấy chồng, song những kẻ sống lại là như thiên sứ trên trời vậy” (22:29-30), và Ngài tiếp tục cho họ một bài học ngắn gọn để sự hiểu biết đúng đắn về Kinh Thánh: “Về sự sống lại của kẻ chết, Các ngươi há không đọc lời Ðức Chúa Trời phán về sự sống lại của kẻ chết rằng: ‘Ta là Ðức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Ðức Chúa Trời của Y-sác, Ðức Chúa Trời của Gia-cốp, hay sao’? Ðức Chúa Trời không phải là Chúa của kẻ chết, nhưng của kẻ sống.” (22:31-32). Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp đã qua đời từ lâu, khi Đức Chúa Trời nói với Môi-se tại bụi gai cháy rằng Ngài là Đức Chúa Trời của họ (Xuất 3:6), điều này cho thấy họ vẫn tồn tại và có sự sống sau khi chết. Điều thú vị cần lưu ý là, theo Chúa Giê-su, Đức Chúa Trời đã nói bằng những từ có thể “đọc được”, tức là Kinh Thánh.

Vào một dịp khác, khi những người Pha-ri-si thách thức Chúa Giê-su về việc làm của các môn đồ Ngài trong ngày Sa-bát, thì Chúa Giê-su đã đáp lại bằng những lời: “Các ngươi không đọc trong Luật Pháp sao? (Ma-thi-ơ 12:5). Lỗi của họ không chỉ là bỏ qua Kinh Thánh, mà còn là không hiểu ý nghĩa của nó. Vì vậy, Chúa đã dạy họ, “Nhưng nếu các ngươi biết điều này có nghĩa là gì, ‘Ta muốn lòng nhân từ, không phải của tế lễ,’ thì các ngươi đã không kết án người vô tội” (12:7; trích dẫn Ô-sê 6:6).

Một lần nữa khi bị những kẻ chống đối thách thức Ngài, Chúa Giê-su đã trích dẫn Kinh Thánh để trả lời và chấm dứt cuộc tranh luận. Khi những người Pha-ri-si thử Ngài bằng câu hỏi, “Người đàn ông ly dị vợ vì bất cứ lý do gì có hợp pháp không?” Chúa Giê-su đáp: “Các ngươi chưa đọc sao…?” và sau đó Ngài trích dẫn lời giải thích trong Sáng thế ký về hôn nhân đầu tiên cho thấy ý định của Đức Chúa Trời (Mat 19:4-6). Ngay cả khi đáp lại lời buộc tội phạm thượng nghiêm trọng (“ngươi là người, mà tự xưng là Ðức Chúa Trời.” (Giăng 10:33), Chúa Giê-su đã cậy vào Cựu Ước, hỏi rằng: “Điều đó đã không được ghi trong Luật pháp của các ngươi sao?” (10:34).

Đối với Chúa Giê-su, Kinh Thánh là thẩm quyền tối thượng. Không thể bác bỏ việc sử dụng Kinh Thánh đúng cách, và cũng không bao giờ Ngài đặt câu hỏi rằng bất kỳ phần nào là có thẩm quyền. Nếu Kinh Thánh đã nói điều gì, thì điều đó là có thẩm quyền.

 

 ĐẤNG CHRIST DẠY VỀ SỰ THẦN CẢM CỦA KINH THÁNH

Đối với Đấng Christ, Kinh Thánh Cựu Ước là lời của Đức Chúa Trời. Điều thú vị là chúng ta không có hồ sơ của bất kỳ người nào cùng thời với Chúa Giê-su, kể cả những người chống đối Ngài, từng đặt câu hỏi về sự tin cậy vào Kinh Thánh này, vì họ cũng đánh giá cao về Kinh Thánh, tin rằng Kinh Thánh là những tác phẩm thiêng liêng. Kết quả là chúng ta không có bất kỳ sự giảng dạy đáng kể nào của Đấng Christ về bản chất của Kinh Thánh, vì điều này đã được nhiều người biết đến và chấp nhận. Tuy nhiên, Ngài đã đưa ra một số tuyên bố về Kinh Thánh giúp chúng ta hiểu sâu hơn về sự hiểu biết của Ngài về bản chất được soi dẫn của Kinh Thánh.

 

Hai tuyên bố then chốt

Ma-thi-ơ 5:17-18. Bởi vì Chúa Giê-su chú trọng nhiều hơn đến thái độ của tấm lòng và ít chú trọng đến việc tuân theo các chi tiết của Luật pháp bề ngoài hơn là các giáo sư đương thời với Ngài, câu hỏi về tính chính thống trong Kinh Thánh của Ngài chắc chắn đã dấy lên trong tâm trí của nhiều người. Do đó, Ngài đã tuyên bố bằng những lời bày tỏ rõ ràng quan điểm của Ngài về Kinh Thánh: “Các ngươi đừng tưởng ta đến đặng phá luật pháp hay là lời tiên tri; ta đến, không phải để phá, song để làm cho trọn. Vì ta nói thật cùng các ngươi, đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn” (Ma-thi-ơ 5:17-18).

“Luật pháp” và “Tiên tri” (5:17) hay đơn giản là “Luật pháp” (5:18) vào thời Chúa Giê-su là hai cách dùng để chỉ toàn bộ các tác phẩm Cựu Ước. Những sách này đều hướng đến Ngài, hoàn toàn là đúng sự thật và sẽ được hoàn thành trong Ngài. Để nhấn mạnh quan điểm của Ngài, Chúa Giê-su đã đề cập đến chữ cái nhỏ nhất là yod trong bảng chữ cái Do Thái, chữ này nhỏ hơn chữ cái i trong tiếng Anh, và đến một nét nhỏ để phân biệt một chữ cái này với chữ cái khác của tiếng Do Thái nhỏ hơn, nhưng có thể so sánh với nét phân biệt giữa chữ E với chữ F, hoặc có thể chỉ là một phần tô điểm nhỏ của một chữ cái tiếng Do Thái. Những lời của Chúa Giê-su tương đương  trong tiếng Anh có thể là, “không một chữ t nào mà bị bỏ gạch ngang hoặc một chữ i nào mà không được đánh dấu chấm.”

Điều này chỉ ra thẩm quyền của Kinh Thánh trong từng chi tiết nhỏ nhất. Mọi điều được viết trong Kinh Thánh đều là chân thật.

Giăng 10:34-36. Những gì Chúa Giê-su nghĩ về Kinh Thánh được thể hiện rõ ràng trong lời tuyên bố để bênh vực cho quan điểm của Ngài. Để đáp lại những kẻ chống đối Ngài, Chúa Giê-su thường đáp lại lời cáo buộc phạm thượng bằng cách trưng dẫn vào Kinh Thánh: “Ðức Chúa Giê-su đáp rằng: Trong luật pháp của các ngươi há chẳng chép rằng: Ta đã phán: Các ngươi là các thần, hay sao? Nếu luật pháp gọi những kẻ được lời Ðức Chúa Trời phán đến là các thần, và nếu Kinh Thánh không thể bỏ được, thì ta đây, là Ðấng Cha đã biệt ra thánh, và sai xuống thế gian, nói: Ta là Con Ðức Chúa Trời, cớ sao các ngươi cáo ta là nói lộng ngôn?” (Giăng 10:34–36).

Lời trích dẫn của Chúa Giê-su được trích từ Thi thiên 82:6, nơi mà trước giả thi thiên gọi các vị quan xét của Y-sơ-ra-ên là “các thần”. Mặc dù Chúa Giê-su không trích dẫn cách diễn đạt song song trong thi thiên, “các con trai của Đấng Chí Cao,” Ngài có thể cho rằng những người nghe Ngài sẽ hiểu được đoạn văn và sẽ biết rằng “các thần” và “các con trai của Đấng Chí Cao” là cùng ý với nhau. Khi trích dẫn đoạn Kinh văn này, Chúa Giê-su đã lập luận từ cái nhỏ hơn đến cái lớn hơn. Về bản chất, Ngài nói: “Nếu Kinh Thánh gọi các vị quan xét là những người phục vụ như là phương tiện của Lời Đức Chúa Trời là “các thần”, thì tại sao các ngươi có thể buộc tội Ta là phạm thượng khi Ta tự xưng là Con Đức Chúa Trời?” Chúa Giê-su chắc chắn tự nhận mình là Con Đức Chúa Trời theo nghĩa cao hơn nhiều so với các quan xét thời xưa, nhưng Kinh Thánh gọi loài người là “các thần” nên đã khiến những kẻ chống đối Ngài phải lùi bước trước sự buộc tội ngay lập tức. Ngài muốn làm cho họ dừng lại và xem xét đầy đủ hơn về quyền của Ngài khi tuyên bố rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời (10:37-38).

Tuy nhiên, điểm chính cho cuộc thảo luận của chúng ta là trong lời tuyên bố của Ngài “Kinh Thánh không thể bỏ được” (10:35). Như đã đề cập ở trên, thì trích dẫn này về “các thần” được trích từ Thi thiên 82:6, mà Chúa Giê-su gọi là “Luật pháp” (10:34), do đó cho thấy rằng Ngài xem tất cả Cựu Ước là có thẩm quyền. “Luật pháp” và “Kinh Thánh”—những thuật ngữ mà Ngài sử dụng có chung ý nghĩa—không thể bị “phá bỏ”, nghĩa là chúng sẽ không mất đi hiệu lực và không còn ràng buộc nữa. Kinh Thánh không thể bị vô hiệu hoặc hủy bỏ.

 

Đức Chúa Trời là Tác Giả của Kinh Thánh

Đối với Chúa Giê-su, thẩm quyền của Kinh Thánh dựa trên sự xác tín của Ngài đó là Đức Chúa Trời là Tác giả tối thượng của Kinh Thánh, mặc dù các trước giả con người có liên quan đến việc ghi chép Kinh Thánh. Để trả lời một câu hỏi liên quan đến hôn nhân và ly dị, Chúa Giê-su trích dẫn những lời được viết từ sách Sáng thế ký, Nhưng những lời này cơ bản là những lời của Đức Chúa Trời, vì Chúa Giê-su đã tuyên bố, “Đấng dựng nên loài người… đã nói” (Ma-thi-ơ 19:4-5).

Nhiều lần Chúa Giê-su gọi Kinh Kinh là sản phẩm của lời tiên tri, mà Cựu Ước đã tuyên bố là lời phán của Đức Chúa Trời thông qua các phương tiện con người. Ví dụ, trong Mác 7:6 Chúa Giê-su đã giới thiệu câu trích dẫn của Ngài về Ê-sai 29:13 qua xác nhận, “Ê-sai đã làm đúng lời tiên tri.” Chúa Giê-su nói “sự hoang tàn ghê tởm” đã được “nói đến qua tiên tri Đa-ni-ên” (Ma-thi-ơ 24:15). Điều này cho thấy, Đa-ni-ên là một kênh để Đức Chúa Trời phán lời tiên tri này. Thường thì Chúa Giê-su chỉ giới thiệu đơn giản những trích dẫn trong Kinh Thánh với những từ như “Môi-se đã nói” (Mác 7:10). Chỗ khác, thì Chúa Giê-su cho thấy rằng một số câu trong Cựu Ước đã được Đức Chúa Trời phán trực tiếp.

Chúa Giê-su cũng dạy rằng các tác phẩm chưa hình thành nên Tân Ước sẽ được Đức Thánh Linh soi dẫn. Khi Ngài phán dạy các môn đồ, sẽ là những sứ đồ của Hội Thánh đầu tiên, Ngài hứa rằng Đức Thánh Linh sẽ “khiến các ngươi nhớ lại tất cả những gì ta đã phán với các ngươi” (Giăng 14:26). Rồi Ngài lại phán: “Ta còn có nhiều chuyện nói với các ngươi nữa; nhưng bây giờ những điều đó cao quá sức các ngươi. Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật…và tỏ bày cho các ngươi những sự sẽ đến. Ấy chính Ngài sẽ làm sáng danh ta, vì Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi” (16:12-14). Mặc dù những lời hứa này về sự dạy dỗ của Thánh Linh có thể được áp dụng theo nghĩa định hướng đối với công việc soi sáng của Thánh Linh trong đời sống của Cơ đốc nhân. Tuy nhiên tầm quan trọng thực sự của những lời dạy dỗ đó được DA Carson giải thích, “không phải để giải thích cho người đọc vào cuối thế kỷ thứ nhất được Thánh Linh dạy dỗ, nhưng giải thích cho độc giả vào cuối thế kỷ thứ nhất cách mà các nhân chứng đầu tiên – là các môn đồ đầu tiên đã hiểu chính xác và đầy đủ về lẽ thật của Đức Chúa Giê-su Christ.”

 

Tính vô ngộ của Kinh Thánh

Kinh Thánh không cho thấy dấu hiệu Chúa Giê-su phân biệt giữa những phần Kinh Thánh trình bày về lẽ thật thuộc linh và những vấn đề khác có vẻ không quan trọng hơn, chẳng hạn như các chi tiết về lịch sử. Mặc dù đôi khi Chúa Giê-su sử dụng thuật ngữ “Kinh Thánh” để chỉ các đoạn văn cụ thể, như chúng ta đã thấy, thì Ngài cũng đề cập đến toàn bộ Kinh Thánh khi tuyên bố, “Ta nói thật cùng các ngươi, đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn” (Ma-thi-ơ 5:18) và Kinh Thánh không thể bị “hủy bỏ” (Giăng 10:35). Việc Ngài liên tục đề cập đến “Kinh Thánh” với ngụ ý Đức Chúa Trời là tác giả (ví dụ: Ma-thi-ơ 21:42; Lu-ca 4:21; Giăng 5:39) và những lời tuyên bố  rằng “Kinh Thánh” phải được ứng nghiệm (ví dụ, Ma-thi-ơ 26:54) chỉ ra  toàn bộ Cựu Ước, chứ không chỉ một số phần nhất định của nó là vô ngộ.

Hai điều thiêng liêng đối với người Do Thái trong thời Đấng Christ—là Kinh Thánh và đền thờ. Khi Ngài nói tiên tri về đền thờ sẽ bị phá hủy, thì Chúa Giê-su bị buộc tội là nói chống lại đền thờ. Nhưng Ngài chưa bao giờ bị buộc tội vì đã thốt ra một lời nào chống lại Kinh Thánh.

 

THÁI ĐỘ CỦA CHÚNG TA ĐỐI VỚI SỰ GIẢNG DẠY CỦA ĐẤNG CHRIST

Rõ ràng Chúa Giê-su đánh giá cao về Kinh Thánh. Mặc dù được viết bởi các trước giả con người, nhưng suy cho cùng thì Đức Chúa Trời chính là tác giả, và vì thế Kinh Thánh là Lời của Ngài.

Một số người cố gắng né tránh các bằng chứng được trình bày trong chương này bằng cách nói rằng những người viết đã ghi lại quan điểm của họ về Kinh Thánh hơn là niềm tin của Chúa Giê-su. Nói cách khác, những người này khẳng định các trước giả Phúc Âm đặt quan điểm riêng của họ vào miệng Chúa Giê-su. Vì vậy, chúng ta sẽ thực sự không biết Chúa Giê-su nghĩ gì về Kinh Thánh. Cần lưu ý hai điểm trong việc đáp lại lời giải thích này. Thứ nhất, cách Chúa Giê-su bày tỏ quan điểm về Kinh Thánh xuyên suốt mọi điều Ngài đã dạy và đã làm, để phủ nhận các  giải thích sai. Thứ hai, cách Chúa Giê-su sử dụng Cựu Ước, đôi khi theo những cách rất sát với nguyên văn, để giải thích về chính Ngài và công việc của Ngài nên nhiều khả năng khiến cho các trước giả viết sách Phúc Âm bám theo sự hiểu biết của Chúa Giê-su hơn là tự mình suy diễn ra.

Những người khác tin rằng thái độ của Chúa Giê-su đối với Kinh Thánh chỉ đơn giản là chỗ dựa cho niềm tin của những người đương thời với Ngài. Ngài cậy vào thẩm quyền của Cựu Ước vì khán giả của Ngài tin rằng điều đó được soi dẫn, chứ không phải vì Ngài đã làm như vậy. Một lời giải thích như vậy không thuyết phục. Thứ nhất, các ghi chép của Phúc Âm cho thấy rõ rằng Chúa Giê-su đã không ngần ngại thách thức những người đương thời khi Ngài phản bác quan điểm của họ. Thứ hai, không thể tin rằng Ngài có thể nhiều lần liên hệ chính Ngài và chức vụ của Ngài như là sự ứng nghiệm của Cựu Ước, đồng thời tin rằng chúng chỉ là những tác phẩm của con người chứa đầy ngụy biện.

Vẫn còn những người khác tìm cách giải thích những lời dạy của Chúa Giê-su bằng cách tuyên bố rằng khi Ngài trở thành một con người, sự hiểu biết của Ngài bị hạn chế. Hạn chế này bao gồm khả năng mắc sai lầm trong tư tưởng. Có thể nói nhiều điều để trả lời cho ý kiến này, nhưng một lần nữa phải có đủ hai nhận xét. Đầu tiên, giới hạn không nhất thiết liên quan đến sai lầm. Nhưng thứ hai, và quan trọng hơn là Chúa Giê-su đã khẳng định luôn nói lẽ thật. Nếu Ngài đã nhầm lẫn về Kinh Thánh mà Ngài đã đặt nền tảng cho sự dạy dỗ, thì thật khó hiểu tại sao những lời của Ngài về các vấn đề khác lại được tin cậy.

Không có cách nào làm nổi bật ngụ ý của những lời dạy rõ ràng này của Đấng Christ. Chúng ta biết đến Đấng Christ và tin cậy Ngài vì cớ số phận đời đời của chúng ta chỉ thông qua Kinh Thánh. Vì vậy, đức tin của chúng ta nơi Ngài về bản chất thì được liên kết với đức tin của chúng ta vào tính chân thật của Kinh Thánh. Nếu chúng ta tin vào sự ghi chép của Kinh Thánh về Đấng Christ—rằng Ngài là Đấng mà Ngài đã tuyên bố – Ngài chính là sự mặc khải của Đức Chúa Trời, là lẽ thật nhập thể, thì chúng ta phải chấp nhận Ngài như là Vị Thầy có thẩm quyền trong mọi sự, bao hàm cả Kinh Thánh. Vì vậy chúng ta có thể nói, “Ngôi Lời nhập thể đặt ấn tín của Ngài trên Lời được viết ra. Ngôi Lời nhập thể là Đức Chúa Trời; do đó, sự soi dẫn của Cựu Ước được chứng thực bởi chính Đức Chúa Trời.” Vì vậy, với Đấng Christ, chúng ta phải tin rằng Kinh Thánh là Lời được soi dẫn của Đức Chúa Trời và tất cả những gì Kinh Thánh dạy đều là lẽ thật và có thẩm quyền.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

9

KINH THÁNH LÀ QUYỂN SÁCH CỦA CON NGƯỜI?

 

 

KINH THÁNH, như chúng ta thấy, nhấn mạnh nhiều lần về bản chất là lời Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, quyền tác giả của Kinh Thánh thường bị các học giả phê bình bác bỏ. Kết quả là, những người Tin Lành khi nghiên cứu về bản chất của lời Chúa thường có xu hướng tập trung vào đặc tính thiên thượng và tính vô ngộ của Kinh Thánh. Nhưng việc nhận biết Kinh Thánh là lời Đức Chúa Trời đồng thời cũng là lời con người là cần thiết. Hơn thế nữa, những đặc tính của con người trong Kinh Thánh cũng đóng góp vào giá trị của nó.

 

TÍNH CÁCH CON NGƯỜI TRONG KINH THÁNH

Người Hồi Giáo cho rằng sách thánh của họ – kinh Koran được viết từ trên trời gửi xuống cho Muhammad. Tuy nhiên, không có học giả Cơ Đốc nào tuyên bố như vậy về Kinh Thánh ngoại trừ một vài người trong quá khứ. Ngoài rất nhiều đề cập về các trước giả con người, nhân tố con người trong các sách là rất hiển nhiên. Được viết qua nhiều thế kỷ, phạm vi trải nghiệm của con người, sự đa dạng về nội dung và hình thức văn học của Kinh Thánh thì không có bất kỳ cuốn sách nào có thể so sánh được. Văn xuôi, thơ ca, lịch sử, thần học, văn tường thuật, dụ ngôn, châm ngôn, khải thị, gia phả, luật pháp và thư tín — tất cả và hơn thế nữa đều có trong Kinh Thánh, và tất cả đều là những phong cách viết tiêu biểu của con người vào thời đại của họ. Ví dụ, các bản giao ước trong Cựu Ước giống với các hiệp ước Hittite cổ đại. Ngoài ra, các hướng dẫn về cách cư xử của các tín nhân ở các vị trí khác nhau trong gia đình, cái gọi là “quy tắc gia đình” trong các thư tín Tân Ước (ví dụ, Ê-phê-sô 5: 22-33, 6: 1- 9; Cô-lô-se 3:18-4:1) tương tự như các quy tắc ứng xử đương thời có trước đó.

Như chúng ta đã thấy, Kinh Thánh ghi lại những lời của Đức Chúa Trời phán với con người bằng những câu giới thiệu như “CHÚA phán như vầy”, cũng như những giải thích được soi dẫn về những lời phán này và việc làm của Đức Chúa Trời trong lịch sử. Nhưng những đáp ứng mang tính suy gẫm với lời phán và hành động của Đức Chúa Trời từ phía dân sự Ngài cũng là một phần của Kinh Thánh. Những lời kêu cầu của trước giả Thi thiên cho sự giải cứu của Đức Chúa Trời khỏi kẻ thù mình, cũng như câu cảm thán của ông, “Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài là năng-lực tôi, tôi yêu-mến Ngài.” (Thi thiên 18:1), đều là một phần của Kinh Thánh.

Hơn cả việc phục vụ như những phương tiện truyền đạt ngôn ngữ con người, các trước giả Kinh Thánh là những con người thật đang bày tỏ những ý tưởng qua tâm trí và tính cách cá nhân. Phong cách thơ của các trước giả Thi thiên đối lập với cấu trúc phân tích và logic trong các thư tín của sứ đồ Phao-lô. Các sách của sứ đồ Giăng và Lu-ca khác nhau về từ vựng và văn phong. Giê-rê-mi thường được gọi là “nhà tiên tri than khóc” vì sự thê lương và u sầu bày tỏ trong các chương sách của ông.  Phao-lô đề cập đến tiên tri Ê-sai, “Ê-sai nói về dân Y-sơ-ra-ên mà kêu lên rằng…” trong sứ điệp của mình (Rô-ma 9:27), và ở một nơi khác, “Ê-sai nói cách bạo dạn” (10:20). Ê-sai đang truyền thông lời Đức Chúa Trời, nhưng toàn bộ con người của vị tiên tri – tâm trí, cảm xúc, và ý chí – đều dự phần trong tiến trình này.

 

Ngoài những khác biệt trong văn phong và từ ngữ, tính cách của trước giả thường dự phần trực tiếp vào sứ điệp khi họ viết về kinh nghiệm đầu tiên của mình. Khải tượng của Ê-sai về “Chúa ngồi trên ngôi cao-sang” (Ê-sai 6:1) có liên hệ trực tiếp đến sự kêu gọi cá nhân của ông vào chức vụ (6:7-8). Đa-vít bày tỏ kinh nghiệm cá nhân khi ông viết: “Trước tôi trẻ, rày đã già, nhưng chẳng hề thấy người công bình bị bỏ, hay là dòng-dõi người đi ăn mày” (Thi thiên 37:25). Các nền văn hóa mà các trước giả đã sống thể hiện qua các sách của họ. Nhiều trích dẫn và minh họa của Phao-lô từ (cuộc sống thời La Mã – quân đội, thể thao và luật pháp – thể hiện bối cảnh lịch sử cá nhân của ông). Nhân tố con người của các trước giả cũng dự phần vào chính nội dung và mục đích bản viết tay của họ. Theo lời của JI Packer, Kinh Thánh đã “được định hình bởi trước giả, thể hiện ra mục đích giáo huấn, mối quan tâm cá nhân, và thần học tổng thể của họ.”

 

Sự thật kép rằng Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời và cũng là lời của con người đòi hỏi cần có một lời giải thích về mối quan hệ của Đức Chúa Trời và các trước giả (là con người) trong quá trình viết ra nó, trong điều thường được gọi là “sự thần cảm của Kinh Thánh.” “Sự thần cảm” của Kinh Thánh đã được giải thích theo một số cách. Ngoại trừ quan điểm “viết lại” thì tất cả đều đồng ý về nhân tố con người dự phần trong bản văn Kinh Thánh.

QUAN ĐIỂM CHO RẰNG KINH THÁNH LÀ LỜI CỦA CON NGƯỜI

 

Tuy nhiên, trong suy nghĩ của một số người, điều chủ yếu không phải là những sai sót hiện hữu mà đơn giản chỉ là nhân tố con người trong Kinh Thánh khiến Kinh Thánh không được xem là Lời Đức Chúa Trời. Những người này cho rằng Đức Chúa Trời được coi là rất khác với con người chúng ta, Ngài hoàn toàn khác đến nỗi Lời Ngài phán trong Đấng Christ không bao giờ có thể được diễn đạt bằng ngôn ngữ của con người. Karl Barth, một người nổi bật trong quan điểm này, đã nói, “Trong Kinh Thánh, chúng ta luôn quan tâm đến việc con người cố gắng lặp lại và tái tạo Lời của Đức Chúa Trời (tức là Lời trong Đấng Christ) trong suy nghĩ và cách diễn đạt ở những hoàn cảnh nhất định …Trong một trường hợp, chúng ta đọc: Chúa phán; trong một trường hợp khác là Phao-lô nói. Đây là hai điều khác nhau.”

 

Đối với nhiều người khác, nhân tố con người đơn giản là không tương thích với chân lý tuyệt đối. Họ tranh luận rằng mọi người đều bị giới hạn bởi bối cảnh văn hóa của họ. Họ cho rằng nhận định của chúng ta về chân lý là tương đối với bối cảnh lịch sử hạn chế và vì thế luôn luôn không trọn vẹn. Theo quan điểm này, nhân tố con người của các trước giả Kinh Thánh, bất chấp sự đồng công với Đức Thánh Linh, cũng chỉ là một bằng chứng khó thuyết phục rằng Kinh Thánh là lời mặc khải thiên thượng.

Mặc dù có sự bất đồng về mức độ mà sự sai sót của con người ảnh hưởng đến mức độ đáng tin cậy và tính chân thực của Kinh Thánh, những người giữ quan điểm này đồng ý với tuyên bố của học giả Công giáo La Mã Hans Ming rằng Kinh Thánh rõ ràng “là lời của con người: được thu thập, viết xuống từng câu một bởi những cá nhân và được phát triển theo những cách khác nhau. Thế nên không phải là không có thiếu sót, lỗi, nhầm lẫn, hạn chế và sai sót.”

Một số nhà lý luận tự do đã nhấn mạnh yếu tố con người của Kinh Thánh đến mức về cơ bản họ phủ nhận sự thần cảm thiên thượng. Họ quan niệm rằng những người viết Kinh Thánh là những người bẩm sinh có sự thông sáng về tôn giáo, và “sự thần cảm” của họ có thể so sánh với những gì chúng ta có thể liên tưởng đến như một nghệ sĩ, nhà thơ hoặc nhạc sĩ “được truyền cảm hứng”.

Tuy nhiên, hầu hết các học giả Cơ Đốc nhận thấy một số tác động thiên thượng trong việc viết Kinh Thánh, mặc dù nhiều người nhấn mạnh vào yếu tố con người khi tính đến việc chấp nhận tính chất thần thượng trọn vẹn của nó. Chúng ta xem xét các quan điểm sau đây về sự thần cảm. Đầu tiên, một số người nói rằng các trước giả Kinh Thánh được thần cảm theo cùng một cách mà những tín hữu khác được soi dẫn để hầu việc Ngài. Theo quan điểm này, thì sự soi dẫn chủ yếu chỉ về công việc của Đức Chúa Trời trên các trước giả Kinh Thánh là điều tương tự như việc Ngài ban ân tứ trên các tín hữu.

Sự tác động của Đức Chúa Trời trên các trước giả Kinh Thánh tương tự như cách Ngài ban các ân tứ thuộc linh cho các tín hữu.

Những bài thánh ca mà hội thánh sử dụng trong mọi thời đại, như những bài được Isaac Watts, Charles Wesley, Augustus Toplady và Reginald Heber sáng tác được cho là có “cùng sự thần cảm” như một số trước giả Thi Thiên, chỉ đơn giản là khích lệ sự ngợi khen Chúa.

Một lời giải thích gần đây về sự thần cảm cũng thuộc loại này thì đồng nhất sự thần cảm với việc “một giáo viên truyền cảm hứng cho học viên.” Cũng vậy Đức Chúa Trời soi dẫn cho các trước giả Kinh Thánh qua mối quan hệ của Ngài với họ và cộng đồng mà họ thuộc về, và đặc biệt là qua hành động cứu rỗi cao cả của Ngài, bao gồm cả sự cứu chuộc Y-sơ-ra-ên khỏi ách nô lệ và sự sống, sự chết, và sự sống lại của Chúa Cứu Thế Giê-su. Sự soi dẫn này nâng cao các khả năng nhưng “không đảm bảo là không lỗi, vì các người trung gian, dù là được Đức Chúa Trời soi dẫn, cũng vẫn có thể mắc lỗi.

Theo quan điểm này thì sự soi dẫn tương tự vẫn đang hiện hữu trong Hội Thánh ngày nay. Nhưng bởi vì Kinh Thánh ghi lại những hành động được Đức Chúa Trời mặc khải đặc biệt trong lịch sử, nên được xem là quy chuẩn cho thần học Cơ Đốc.

Khái niệm về sự soi dẫn này không phù hợp với lời chứng phong phú của Kinh Thánh rằng mặc dù Kinh Thánh được viết bởi con người và do đó là sách của con người, nhưng nó cũng là Lời của Đức Chúa Trời. Hơn nữa, sự soi dẫn không chỉ liên quan đến tác động thiêng liêng đối với các trước giả con người mà còn tạo nên đặc trưng của sản phẩm.

Cả Kinh Thánh (bao gồm 66 sách Tân Cựu ước) đều được Đức Chúa Trời soi dẫn (2 Ti-mô-thê 3:16). Nói tóm lại, quan điểm về sự soi dẫn trên đây nhầm lẫn công việc độc đáo của Thánh Linh trong sự soi dẫn trên Kinh Thánh với công việc phổ quát của Ngài là soi sáng và dạy dỗ tín nhân trong mọi thời đại.

Sự tuyệt vời của các bài thánh ca, bài viết hoặc bài giảng Cơ Đốc của các cá nhân không phải là trước giả Kinh Thánh chỉ được xác định bằng cách họ bày tỏ trung thực lẽ thật của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh.

Thứ hai, Kinh Thánh được soi dẫn vì nó “trở thành” Lời của Đức Chúa Trời. Quan điểm này về hoạt động soi dẫn của Đức Chúa Trời trên các trước giả Kinh Thánh cũng tương tự như quan điểm trước đó. Tuy nhiên, nó nhấn mạnh nhiều hơn đến sự khác biệt giữa sự mặc khải của Đức Chúa Trời về Lời Ngài trong sự gặp gỡ cá nhân và các bản viết Kinh Thánh.

Kinh Thánh không trực tiếp tuyên bố là Lời bày tỏ của Đức Chúa Trời. Đúng hơn là Đức Chúa Trời sử dụng Kinh Thánh để bày tỏ chính Ngài cho các cá nhân. Karl Barth thể hiện khái niệm về sự soi dẫn này. “Sự soi dẫn bằng lời nói không có nghĩa là không thể sai được về đặc điểm ngôn ngữ, lịch sử và thần học của nó trong ngôn ngữ của con người. Nó có nghĩa là ngôn ngữ sai sót của con người cũng được Chúa sử dụng và phải được tiếp nhận và nghe bất chấp những sai sót đó.”

Những người theo trường phái này tin rằng Đức Chúa Trời đã tác động đến những trước giả Kinh Thánh để trở thành những nhân chứng đặc biệt cho công tác vĩ đại của Ngài trên thế giới, đặc biệt là sự mặc khải của Ngài trong Đấng Christ. Sự ảnh hưởng này đã khiến những trước giả viết về những cuộc gặp gỡ của chính họ với Chúa qua những sự kiện đó. Đức Chúa Trời tiếp tục dùng ngôn ngữ của họ để bày tỏ chính Ngài qua những cuộc gặp gỡ cá nhân với con người ngày nay. Khi các cá nhân nghe tiếng của Đức Chúa Trời qua Kinh Thánh, thì tiếng nói đó trở thành Lời của Đức Chúa Trời.

Theo một số học giả, các nhà tiên tri và sứ đồ đã sử dụng những câu chuyện thần thoại như những câu chuyện về phép lạ để truyền đạt lẽ thật thuộc linh. Phần lớn những gì có vẻ như là báo cáo lịch sử phải được giải tỏa ra khỏi huyền thoại, hoặc lột bỏ trang phục thần thoại của nó để có được lẽ thật thuộc linh thực sự được truyền tải.

Theo quan điểm này, vì không thể xem là giống nhau bất kỳ câu văn nào của Kinh Thánh với lời Chúa, nên rất khó để có thể thực sự biết được đâu là điều Chúa phán. Theodore Engelder  nói rằng những người ủng hộ quan điểm này về Kinh Thánh “từ chối tin  Đức Chúa Trời đã thực hiện phép lạ ban cho chúng ta một bản Kinh Thánh không lỗi qua sự soi dẫn, nhưng [họ] sẵn sàng tin rằng Đức Chúa Trời hàng ngày vẫn đang thực hiện phép lạ vĩ đại hơn là cho phép loài người tìm và thấy Lời vô ngộ của Chúa trong ngôn từ thiếu sót của con người.”

Rõ ràng là sự giải thích như vậy về sự soi dẫn, nằm ngoài sự hỗ trợ trong Kinh Thánh, khiến cho việc nghe Lời Đức Chúa Trời trở thành một vấn đề rất chủ quan. Những người khác nhau có thể nghe nó theo cách khác nhau, và chúng ta không có cách nào để quyết định ai đang nghe nó một cách chính xác. Một lần nữa, giống như đã đề cập trước đây, cách giải thích về sự soi dẫn này nhầm lẫn giữa việc soi dẫn đặc biệt liên quan đến việc truyền đạt sự mặc khải với việc soi sáng.

Quan điểm thứ ba cho rằng Kinh Thánh được soi dẫn đủ để thực hiện mục đích truyền đạt chân lý cứu rỗi một cách trọn vẹn. Bản chất thực tế và mức độ ảnh hưởng của Đức Chúa Trời trong toàn bộ Kinh Thánh có phần khác nhau giữa những người ủng hộ quan điểm này.

Họ có xu hướng nói về “sự soi dẫn” của Đức Chúa Trời đối với toàn bộ Kinh Thánh, nhưng họ không tập trung nhiều vào tính chân thật của Kinh Thánh mà chỉ tập trung vào tính đầy đủ để hoàn thành mục đích cứu rỗi. Họ nói, Kinh Thánh được soi dẫn và do đó không thể sai lầm, theo nghĩa là Kinh Thánh đáng tin cậy để hoàn thành những gì Đức Chúa Trời đã định.

Một vấn đề với quan điểm này là khó biết phần nào của Kinh Thánh phù hợp với mục đích cứu rỗi này và phần nào thì không. Nói chung, các vấn đề về khoa học và lịch sử được coi là ngoại vi đối với thông điệp cứu rỗi của Kinh Thánh và do đó không thể sai lầm. Quan điểm này, mà một số người gọi là “sự soi dẫn hạn chế”, có một số vấn đề.

Đầu tiên, Kinh Thánh tuyên bố rõ ràng rằng “cả Kinh Thánh đều được soi dẫn” (2 Ti-mô-thê 3:16). Không có chỗ nào trong Kinh Thánh nói rằng sự soi dẫn hay sự chính xác tuyệt đối chỉ giới hạn trong những vấn đề thuộc về “đức tin và sự thực hành.”

Thứ hai, không ai có thể chỉ ra cách chúng ta có thể xác định rõ ràng ranh giới giữa vấn đề đức tin và không đức tin. Chẳng hạn, sự phục sinh của Chúa Giê-su là vấn đề của lịch sử hay của “đức tin”? Ví dụ, nếu có một số khó khăn về mặt lịch sử trong việc thống nhất các lời tường thuật của bốn trước giả Phúc Âm, thì chúng ta có thể nói đơn giản rằng phần tường thuật đó có sai sót về lịch sử và bằng cách nào đó vẫn duy trì sự việc có thật về sự phục sinh của Ngài đến dưới sự soi dẫn không thể sai lầm của Đức Chúa Trời?

Sự tách biệt như vậy dường như là không thể. Nếu lịch sử được chép không đúng sự thật, làm sao chúng ta có thể khẳng định rằng sự phục sinh của Chúa Giê-su là một vấn đề của “đức tin” — ngoại trừ dựa trên một số điều ngoài phần ghi chép của Kinh Thánh?

Một trong những lý do khiến Cơ Đốc Giáo vượt trội hơn các tôn giáo khác là nó có nguồn gốc từ lịch sử, chứ không phải là thần thoại. Loại trừ lịch sử khỏi sự soi dẫn vì một số xác suất chưa được giải đáp là làm suy yếu lẽ thật này.

Thực tế quan trọng nhất là Kinh Thánh quan tâm đến nhu cầu tâm linh, nhưng cũng dạy chúng ta hiểu và sống trọn cuộc đời cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Nhân loại, thế giới, thiên nhiên, lịch sử, nguồn gốc và đích đến của con người được Kinh Thánh nói đều liên quan đến thông điệp cứu chuộc tổng thể của Lời Đức Chúa Trời dành cho chúng ta.                                                                                                     

 

KINH THÁNH LÀ LỜI CỦA CẢ CON NGƯỜI VÀ ĐỨC CHÚA TRỜI?

Cho đến thời kỳ Khai Sáng của thế kỷ thứ mười tám, hầu hết các tín hữu đều có sự hiểu biết chung rằng Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời và cũng là lời của con người. Một tín lý theo Kinh Thánh về các trước giả con người liên quan với việc phải giải trình về yếu tố thiên thượng và kết quả là Kinh Thánh mang những đặc điểm chân thực của cả hai.

Khái niệm của Kinh Thánh về sự thần cảm

Như đã lưu ý trước đó, khi sứ đồ Phao-lô viết rằng “cả Kinh Thánh đều được soi dẫn” (2 Ti-mô-thê 3:16) có nghĩa là “Đức Chúa Trời hà hơi”.  Điểm nhấn mạnh nằm ở kết quả của sự soi dẫn. Kinh Thánh là những bản văn do Đức Chúa Trời hà hơi.

Nhưng để tạo ra kết quả này, chắc hẳn Đức Chúa Trời cũng đã tác động trên các trước giả. Do đó, khái niệm về sự soi dẫn của Kinh Thánh cũng nói lên sự kiểm soát thiên thượng này.

Kết hợp hai khái niệm về tiến trình và kết quả này lại với nhau, chúng ta có thể định nghĩa sự soi dẫn là công việc siêu nhiên của Đức Thánh Linh trên các trước giả để họ sử dụng hoàn toàn tính cách và văn phong của mình. Họ đã viết chính xác những gì Đức Chúa Trời đã định cho họ viết và do đó Kinh Thánh là lời của Đức Chúa Trời và cũng là lời của con người.

 

Benjamin B. Warfield, người bảo vệ mạnh mẽ khái niệm về sự soi dẫn vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, đã nói như thế này: “Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời theo nghĩa là lời Chúa, mặc dù được viết bởi con người và mang những dấu tích về con người không thể xóa được, tuy nhiên, Kinh Thánh được viết ra dưới ảnh hưởng của Đức Thánh Linh cũng là những lời của Đức Chúa Trời, thể hiện đầy đủ suy nghĩ và ý muốn của Ngài.”

Sự hiểu biết về sự soi dẫn này thường bị mô tả sai thành “học thuyết chính tả”, như thể các trước giả con người chỉ đơn giản làm việc như những thư ký của Đức Thánh Linh.

Trong khi một số người nhấn mạnh khía cạnh thiên thượng của Kinh Thánh đã giữ quan điểm này, thì đây chưa bao giờ là quan điểm tầm thường của Hội Thánh. Một số người trong Hội Thánh đầu tiên nói về việc Chúa Thánh Linh hành động trên các trước giả như một nhạc công chơi đàn hạc hoặc đàn lia, và Augustine, một giáo phụ vĩ đại của Hội Thánh đã viết rằng Chúa đã sử dụng các trước giả con người “như thể họ chính là ngón tay của Ngài?”

Tương tự như vậy, John Calvin gọi các trước giả là “người ghi chép” hay “những thư ký của Đức Thánh Linh”. Tuy nhiên, những người này không có ý định sử dụng các ví sánh trên đây để trình bày một học thuyết chính tả về sự soi dẫn, vì điều đó đã phủ nhận việc Đức Chúa Trời sử dụng toàn bộ nhân tính của những người được gọi là trước giả. Thay vào đó, họ chỉ muốn nhấn mạnh sản phẩm cuối cùng là Lời trọn vẹn vô ngộ của Đức Chúa Trời.

“Học thuyết chính tả” này không thuyết phục được chúng ta ngày nay. Có thể nói rằng không có nhà thần học Tin Lành nào, từ thời Cải Chánh cho đến nay, đã từng tin theo học thuyết đó; và chắc chắn các Hội Thánh Tin Lành hiện đại cũng vậy. Đúng là nhiều nhà thần học thế kỷ mười sáu và mười bảy đã nói về Kinh Thánh là “do Đức Thánh Linh viết.” Nhưng tất cả những gì họ muốn nói là các trước giả đã viết từng chữ theo những gì Đức Thánh Linh muốn.

Việc sử dụng thuật ngữ “viết chính tả” luôn luôn là nghĩa bóng. Bằng chứng cho điều này nằm ở chỗ, khi các nhà thần học này tự hỏi, phương thức hoạt động của Thánh Linh trong tâm trí các trước giả là gì, thì họ đều đưa ra câu trả lời không phải là viết chính tả, mà là hỗ trợ, và duy trì quan điểm đúng đắn rằng Đức Chúa Trời đã hoàn toàn điều chỉnh hoạt động soi dẫn của Ngài cho phù hợp với tâm trí, cách nhìn, tính khí, sở thích, thói quen, và văn phong của mỗi trước giả.

Sự kiểm soát của Thánh Linh đối với các trước giả

Quan điểm cho rằng Kinh Thánh vừa là lời của con người vừa là Lời vô ngộ của Đức Chúa Trời cần được giải thích. Như đã nói ở trên, lý do khiến nhiều người từ chối xem Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời là vì con người tham gia vào tiến trình hình thành Kinh Thánh. Họ nói, nếu là con người thì có sai sót là điều không thể tránh khỏi. Vậy làm sao Kinh Thánh là Lời vô ngộ của Đức Chúa Trời? Câu trả lời đòi hỏi cả sự hiểu biết về bản chất con người và hiểu biết về quyền năng thiên thượng.

Tư tưởng “nhân vô thập toàn” cần được loại bỏ trong khi nói về chủ đề này. Câu nói “con người luôn sai sót” không đúng bằng “con người là tội nhân.” Được tạo ra theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, con người có đặc ân được tương giao với Đức Chúa Trời trong lẽ thật. Như Kinh Thánh dạy, những người viết Kinh Thánh không phải tự lực cánh sinh trong quá trình viết. Đức Thánh Linh vận hành một cách độc đáo và kỳ diệu trong sự thần cảm để hướng dẫn họ viết chính xác những gì Đức Chúa Trời muốn.

Sự ảnh hưởng đặc biệt này của Đức Chúa Trời có lẽ thấy rõ nhất trong thư tín Phi-e-rơ: “Vì chẳng hề có lời tiên-tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời” (2 Phi-e-rơ 1:21). Với từ “tiên tri” Phi-e-rơ có ý nói về toàn bộ Cựu Ước và không chỉ đơn giản là riêng các tiên tri.  Kinh Thánh, theo như sự dạy dỗ của vị sứ đồ, không bao giờ là kết quả của sự thôi thúc trong tâm trí của trước giả. Theo cách diễn giải của Eugene Peterson, lời Chúa “không phải là thứ gì đó được pha chế trong lòng con người.” Lời Chúa bắt nguồn từ việc con người được Thánh Linh của Đức Chúa Trời “dẫn đi theo.” Từ Hi Lạp được dịch là “dẫn đi theo” được dùng cho một chiếc thuyền buồm được gió đưa đi (Công Vụ 27:15,17). Khi gió thổi, con thuyền di chuyển, khi gió dừng, con thuyền dừng. Chúng ta cũng có thể nghĩ đến một mảnh gỗ trôi dạt theo dòng nước. Tốc độ trôi và hướng di chuyển hoàn toàn phụ thuộc vào dòng nước “mang theo nó”. Cụm từ “được Đức Thánh Linh dẫn đi theo” gợi ý rằng các trước giả Kinh Thánh là công cụ trong tay sáng tạo của Thánh Linh Đức Chúa Trời. Ngài hướng dẫn họ điều họ cần viết ra. Điều này không có ý nói họ thụ động, như cái máy đánh chữ. Nhưng hoạt động của họ nằm dưới năng quyền kiểm soát của Đức Thánh Linh. Khi họ viết dưới sự vận hành của Thánh Linh, họ biết rằng mình không chỉ đơn giản thể hiện tâm trí của con người. Tư tưởng của Đức Chúa Trời vượt quá suy nghĩ của con người tội lỗi như “trời cao hơn đất” (Ê-sai. 55: 8-9). Kinh Thánh nhiều lần làm chứng rằng đó là lời được Đức Chúa Trời phán ra qua con người. Các trước giả đã viết những gì Đức Chúa Trời muốn họ viết, vì vậy theo một nghĩa rất thực tế, Ngài là tác giả của các sách cũng giống như các trước giả đã viết ra chúng. Bản chất sự vận hành của Thánh Linh với các trước giả Kinh Thánh rất khác nhau, hoặc như trước giả sách Hê-bơ-rơ đã nói, Đức Chúa Trời phán theo “nhiều cách” (Hêb. 1:1). Có những lúc, sự vận hành của Thánh Linh được trải nghiệm một cách gián tiếp. Trong một số trường hợp, Đức Chúa Trời đã truyền đạt Lời của Ngài cho các trước giả Kinh Thánh bằng lời phán dễ nghe như Ngài đã làm với Môi-se là người “đã nghe tiếng [của Đức Chúa Trời] phán với mình từ ngai thi ân” (Dân số ký 7:89; xem thêm Xuất 4:12; 19: 3-6; 1 Sa-mu-ên 3: 4-14; Ê-sai 6: 8-9; Khải huyền 14:13). Đôi khi Ngài truyền đạt Lời của Ngài như Ngài đã làm với Đa-ni-ên, trong những giấc mơ và khải tượng, hoặc bằng cách sai thiên sứ đến rao truyền (Dân. 7:1; 8:1; 9:21-22). Trong những trường hợp khác, những người tiếp nhận Lời Ngài trải qua trạng thái phấn chấn về tâm linh có thể được mô tả như một trạng thái xuất thần (Khải 1:10; xem thêm Công vụ 10:10; 22:17; 2 Cô 12:2-4). Tuy nhiên, các trước giả Kinh Thánh vẫn hoàn toàn minh mẫn khi đối thoại với Chúa (Ê-sai 6:11; Giê 14:13).

 

Điển hình là các nhà tiên tri đã nhận được lời Đức Chúa Trời qua những gợi ý bên trong, có lẽ cũng đúng với những giấc mơ và khải tượng. Những mô tả này về Thánh Linh, sự vận hành đặc biệt trên phần Kinh Thánh mà các trước giả tiếp thu như một lời tiên tri. Nhưng Đức Thánh Linh cũng dự phần trong những phần Kinh Thánh mà trước giả con người dự phần tích cực và sự tác động thiên thượng lúc này là không trực tiếp. Các Thi Thiên thể hiện kinh nghiệm cá nhân của người viết và các phần lịch sử liên quan đến nghiên cứu của người viết đại diện cho thể loại này. Trong các Thư Tín, sứ đồ chỉ dạy Lời Chúa mà không đề cập đến việc Lời Chúa đến với họ như thế nào. Nói chung, có thể nói rằng ảnh hưởng của Thánh Linh khác với những lần được đề cập ở trên là nhũng lúc sự vận hành của Ngài rõ ràng hơn. Tuy nhiên, việc phủ nhận sự tham gia của Ngài trong những trường hợp này là một sai lầm. Bruce Demhest và Gordon Lewis đã gọi sai lầm này là “ngụy biện đơn nguyên”, tức là “nếu một trước giả nghiên cứu và sử dụng các nguồn tư liệu khác, thì thông điệp của người đó rốt cuộc không phải từ Chúa.” Đáp lại, họ tuyên bố rằng: “Đức Chúa Trời vận hành không chỉ quan phòng trong mọi điều sắp xảy ra, mà còn trong việc giám sát việc viết Kinh Thánh, chẳng hạn như sách Tin Lành Lu-ca (1:1-4) và trong việc sử dụng các nguồn kinh điển và không kinh điển khác”.

Nói cách khác, Thánh Linh điều khiển các tiên tri hoặc sứ đồ khi họ nói hoặc viết để những gì họ viết ra cũng là lời của Đức Chúa Trời. Không phải là Ngài đứng bên ngoài khả năng con người, chỉ can thiệp trong một số thời điểm nhất định để tránh sai sót hoặc bất cập khác. Thay vào đó, như Warfield nói, Đức Thánh Linh “làm việc liên tục trong, cùng và bên họ, nâng đỡ, hướng dẫn, điều khiển, thêm sức, để họ vượt lên chính mình và dưới sự soi dẫn của Ngài, họ làm công việc của Ngài để đạt được mục tiêu của Ngài. Quá trình soi dẫn này diễn ra như thế nào vẫn chưa được hiểu biết đầy đủ, nhưng phải luôn được thừa nhận. Augustine nói về khả năng của ma quỉ đã để mưu phản Ngài vào lòng Giu-đa để phản bội Chúa Giê-su (Giăng 13:2) thật đáng để suy ngẫm về mối liên hệ này.” Việc để vào lòng như vậy muốn nói trong ý nghĩa thuộc linh và được nhập vào không phải bằng tai, mà là thông qua suy nghĩ; và do đó không phải qua thuộc thể, mà là thuộc linh. Nhưng làm thế nào những việc như vậy được thực hiện, vì những gợi ý từ tà linh phải được đưa ra, và hòa lẫn với những suy nghĩ của con người đến nỗi con người tự nói ra chúng, làm sao người đó có thể biết được? Chúng ta cũng không thể nghi ngờ rằng những lời gợi ý tốt cũng giống như sự khôn ngoan đến từ Thánh Linh cũng theo cùng một cách thức không thể quan sát và là thuộc linh. Câu hỏi về quá trình soi dẫn dường như liên quan đến câu hỏi về cách thức Đức Chúa Trời vận hành trong con người chúng ta để hoàn thành ý muốn của Ngài. Khi Kinh Thánh dạy chúng ta “làm nên” sự cứu chuộc mình, bởi vì Đức Chúa Trời “cảm động” trong chúng ta (Phi-líp 2:13), thì rõ ràng điều đó dạy rằng chúng ta và Đức Chúa Trời có thể cùng hoạt động mà không phủ nhận giá trị của nhau. Liên quan đến lời nói, những lời của Chúa Giê-su đem lại một ví dụ thú vị. Ngài tuyên bố sẽ nói những lời được Cha Ngài dạy cho Ngài (Giăng 7:16; 8:28) và Ngài tuyên bố rằng Ngài đã nói mà không có bất kỳ sai sót nào. Tiến trình này được giải thích trong Giăng 3:34: “Vì Đấng mà Đức Chúa Trời đã sai đến thì rao truyền lời của Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Trời ban Thánh Linh cho Ngài không chừng mực, cho thấy hình ảnh Chúa Giê-su được ban ân tứ Thánh Linh không chừng mực (nghĩa là vượt xa bất cứ tiên tri nào khác) để Ngài nói lời của Đức Chúa Trời một cách hoàn hảo. Tất nhiên, ân tứ của Thánh Linh vận hành trong Chúa Giê-su trong con người của Ngài. Vì vậy, trong con người, Ngài đã nói một cách chủ động và tự do mà không phải là  “đọc chính tả” từ Cha Ngài. Thế nên, lời nói của Ngài là lời nói của con người và đồng thời cũng là lời của Đức Chúa Trời.

Điều tương tự có thể đúng với các tín hữu trong trạng thái vinh hiển hoàn toàn trên thiên đàng. Họ sẽ liên hệ chặt chẽ với Đức Chúa Trời và được Ngài thêm sức để trải nghiệm “xin ý Cha được nên, chớ không theo ý tôi” (Lu-ca 22:42). Rõ ràng, lúc bấy giờ ý muốn và hành động của họ cũng là ý muốn và hành động của Đức Chúa Trời. Tương tự, họ sẽ chỉ nói ra lẽ thật, là điều được xem là biểu hiện của Đức Chúa Trời vì Ngài là nguồn của mọi chân lý. Do đó những lời chân thật được nói từ sự tự do thật của con người cũng sẽ là lời chân lý của Ngài. Sự nhập thể của Con Đức Chúa Trời – sự đến của Ngài trên thế gian trong bản chất con người vô tội đem lại một sự tương đồng thú vị với phép lạ về công việc của Đức Chúa Trời trong việc viết ra Kinh Thánh. Đức Thánh Linh đã đến trên Ma-ri, một con người bất toàn. Tuy nhiên, qua bà, với sự phát triển bình thường của một bào thai siêu nhiên, Con Thiên Chúa đã được sinh ra với bản chất con người thực sự. Ngài mang đầy đủ các đặc tính của một người cũng như của Đức Chúa Trời. Ngay cả yếu tố tội lỗi trong Ma-ri đã bị loại bỏ để không làm ô nhiễm Cứu Chúa, vì vậy những tội lỗi và bất toàn của các trước giả con người đã bị loại bỏ và những gì được viết ra là không có sai sót.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA YẾU TỐ CON NGƯỜI TRONG KINH THÁNH

Những dấu ấn chung về yếu tố con người trong Kinh Thánh — vẻ trần tục trong phần lớn lịch sử và cách kể chuyện, cách diễn đạt của con người về các vấn đề và phước lành trong cuộc sống, sự đơn giản của Kinh Thánh — tất cả kết hợp lại khiến chúng ta tự hỏi liệu đây cũng là Lời của Đức Chúa Trời. Liệu Lời Đức Chúa Trời có nên vương giả hơn, sâu sắc hơn, thần bí hơn, siêu việt hơn, mang tính giáo lý hơn (cái gì đó giống như một thần học hệ thống tốt)? Tuy nhiên, bản chất của Kinh Thánh hoàn toàn phù hợp với mục đích của Đức Chúa Trời, sự mặc khải, không phải là tri thức, mà là sự cứu chuộc và cuộc sống thực. Như Richard Gaffin giải thích, “Sự mặc khải không có quá nhiều kiến thức liên quan đến bản chất của Đức Chúa Trời, con người và thế giới vì đó là sự giải thích được sự soi dẫn thiên thượng về hoạt động cứu chuộc loài người của Đức Chúa Trời để họ có thể thờ phượng và phụng sự Ngài trên thế gian. Vì vậy, Kinh Thánh, với tư cách là Lời mặc khải của Đức Chúa Trời, trước hết và trên hết là một cuốn sách lịch sử mở ra câu chuyện của Ngài. Sự cứu rỗi không phải là một hệ thống triết học hay đạo đức trừu tượng, mà là thực tế lịch sử của Đức Chúa Trời trong những hành động cứu rỗi. Yếu tố con người của nhiều trước giả Kinh Thánh đại diện cho các nền văn hóa khác nhau chứng tỏ thực tế này. Bằng cách phán Lời Ngài qua kinh nghiệm đầy đủ của con người trong những hoàn cảnh lịch sử đa dạng, Đức Chúa Trời đã thích nghi với sự hiểu biết của con người chúng ta. Kiến thức về lẽ thật thiên thượng được truyền đạt thông qua giảng dạy. Vì vậy, chúng ta tìm thấy các phần giáo lý trong Kinh Thánh, chẳng hạn như phần lớn Sách Rô-ma.

Những kiến thức đó chỉ được truyền đạt thông qua cuộc sống cụ thể. Vì vậy, Kinh Thánh thực hiện nhiều hơn là chỉ bày tỏ Đức Chúa Trời cho chúng ta. Kinh Thánh cũng bày tỏ những kinh nghiệm của dân sự với Ngài để thấy cách thực hành lẽ thật trong cuộc sống của chúng ta như thế nào. Các ẩn dụ của Chúa Giê-su cũng có cùng mục đích. Các thể loại văn học khác nhau trong Kinh Thánh cũng có cùng một mục đích dạy dỗ, vì chân lý được truyền đạt không chỉ qua các phần tín lý và các phần tường thuật lịch sử, mà còn qua thơ ca, tục ngữ, chuyện kể, lời tiên tri… Do đó những yếu tố con người trong lời Chúa là hoàn toàn phù hợp để truyền đạt sứ điệp cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Yếu tố con người trong lịch sử Kinh Thánh cho phép chúng ta nắm bắt được điều gì đó về sự vĩ đại và phạm vi chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời từ đầu đến cuối. Những trang sử mở cho phép chúng ta học biết lẽ thật không chỉ từ sự giảng dạy mà còn từ kinh nghiệm của người khác. Sau khi đọc phần lịch sử về Chúa, về con người, không ai có thể nghi ngờ thực tế của tội lỗi và nhu cầu của sự cứu chuộc. Các thể loại văn chương trong Kinh Thánh và lịch sử cũng giúp Kinh Thánh phù hợp để truyền thông đến mọi đối tượng. Sự đơn giản của sứ điệp trong câu chuyện dù là độc giả đơn sơ mới đọc lần đầu cũng có thể nắm bắt được.

KẾT LUẬN

Kinh Thánh với tư cách vừa là Lời của Đức Chúa Trời vừa là lời của con người thực sự là một cuốn sách kỳ diệu. Như đã thảo luận, bản chất thần thượng và con người của Kinh Thánh có thể được ví như sự kết hợp giữa thần tánh và nhân tánh trong Chúa Giê-su Christ, Đấng vừa thực sự là người vừa là Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, sự khác biệt ở chỗ, thần tánh và nhân tánh của Đấng Christ được hợp nhất trong một thân vị, trong khi với Kinh Thánh, Đức Thánh Linh không hợp nhất với bản chất con người trong sự soi dẫn của Kinh Thánh. Nhưng như Warfield giải thích, Kinh Thánh và Đấng Christ giống nhau ở chỗ cả hai đều là sự kết hợp giữa con người và thiên thượng dẫn đến một sản phẩm không lỗi. Trong trường hợp thân vị của Chúa chúng ta, nhân tánh vẫn thực sự là nhân tánh dù Ngài không bao giờ phạm tội hoặc sai lầm. Như vậy trong trường hợp tạo ra Kinh Thánh bằng hành động kết hợp của các yếu tố con người và thiên thượng, các yếu tố con người đã hoạt động như các yếu tố con người, và đã để lại dấu ấn của họ trên tác phẩm, nhưng không mang lỗi… bởi vì họ không vận hành bên ngoài các yếu tố thần thượng, nhưng ở dưới sự hướng dẫn của các yếu tố đó.

 

Có lẽ suy nghĩ chính xác nhất về Kinh Thánh là những lời của Đấng Cứu Rỗi của chúng ta đã phán qua dân sự của Ngài dưới sự điều khiển của Thánh Linh. Mặc dù các ấn bản bằng chữ đỏ của Kinh Thánh có thể hữu ích trong việc ghi lại những lời trích dẫn của Chúa chúng ta, nhưng chúng cũng có thể gây hiểu lầm khi cho rằng những lời lịch sử của Chúa Giê-su có chất lượng khác biệt so với những lời được soi dẫn của các trước giả con người. Như chúng ta đã thấy, tất cả Kinh Thánh được viết dưới sự điều khiển của Đức Thánh Linh đều là lời của Đức Chúa Trời và vừa là lời của con người. Điều này không có nghĩa là hạ thấp ý nghĩa của lời Chúa Giê-su. Thay vào đó, nó đề cao tính cách siêu nhiên của Kinh Thánh. Đấng Christ, mặc dù có nhân tánh, là Đấng siêu nhiên. Và tương tự, Kinh Thánh, mặc dù do con người viết ra, nhưng có tính siêu nhiên bởi vì Chúa Thánh Linh nắm quyền kiểm soát trên các trước giả.

 

 

 

 

 

– 10 –

Kinh Thánh có đáng tin cậy không?

 

VÌ KINH THÁNH là Lời của Đức Chúa Trời được bày tỏ qua lời của con người, điều này có nghĩa là Kinh Thánh đúng và không có sai sót phải không? Vâng, bởi vì Đức Chúa Trời là “Đức Chúa Trời của lẽ thật” (Thi. 31:5). Nếu Kinh Thánh thực sự là lời của Ngài, thì Kinh Thánh hoàn toàn là chân thật và không có sai sót.

Mặc dù các Cơ đốc nhân thừa nhận sự trung thực của Đức Chúa Trời, nhưng lại kết luận rằng Kinh Thánh là hoàn toàn đúng và không có sai sót nào thì ngày nay bị nhiều người phủ nhận, ngay cả trong số những người giảng Lời Đức Chúa Trời.  Trong một số trường hợp, họ áp dụng các thuật ngữ “vô ngộ” và “tính không thể sai lầm” cho Kinh Thánh, nhưng họ nói rằng những từ này có nghĩa là Kinh Thánh có thể bao gồm những sai sót thực tế trong những vấn đề không liên quan trực tiếp đến đức tin và thực hành đời sống Cơ đốc.

Ví dụ, I. Howard Marshall giải thích rằng “mục đích của Kinh Thánh là hướng dẫn mọi người đến với sự cứu rỗi và lối sống liên quan.” Sau đó ông nói, “Không thể sai lầm có nghĩa là Kinh Thánh hoàn toàn đáng tin cậy cho các mục đích mà Đức Chúa Trời đã soi dẫn. Một số học giả áp dụng thuật ngữ “vô ngộ” cho những gì tác giả dự định giảng dạy. Theo Donald Bloesch, Kinh Thánh “không sai lầm trong những gì Kinh Thánh tuyên bố, nhưng điều này không có nghĩa là Kinh Thánh không có lỗi trong việc ghi chép dữ liệu lịch sử hoặc trong thế giới quan của các trước giả hiện đã lỗi thời.”

Vì vậy, chúng ta cần xem xét kỹ vấn đề về tính trung thực của Kinh Thánh. Câu hỏi đặt ra là: Kinh Thánh có vô ngộ trong tất cả những gì nó khẳng định trong mọi lĩnh vực hay chỉ trong những vấn đề đó liên quan trực tiếp đến sự cứu rỗi và lối sống Cơ đốc của chúng ta?

 

LỜI DẠY CỦA KINH THÁNH LÀ TRUNG THỰC

Bởi vì các thuật ngữ “tính vô ngộ” và “sự vô ngộ” không được sử dụng trong Kinh Thánh để mô tả bản chất riêng của Kinh Thánh, một số người phản đối việc sử dụng như vậy, cho rằng những thuật ngữ đó vượt ra ngoài sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các thuật ngữ không có trong Kinh Thánh vẫn có thể truyền đạt lẽ thật trong Kinh Thánh. Ví dụ, từ “Ba Ngôi” không được tìm thấy trong Kinh Thánh, nhưng các tín đồ chính thống trong suốt lịch sử của hội thánh đã công nhận nó là một sự mô tả chính xác về Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh.

Tương tự, câu hỏi liệu Kinh Thánh có sai sót hay “vô ngộ” khi được chuyển tải qua các ngôn ngữ khác? Nếu Kinh Thánh là vô ngộ thì Kinh Thánh hoàn toàn đúng. Do đó, một câu hỏi nữa cần đặt ra là Kinh Thánh có hoàn toàn đúng không?

Làm thế nào để chúng ta trả lời câu hỏi này? Hai phương pháp tiếp cận dẫn đến kết luận trái ngược nhau. Một người đề xuất rằng chúng ta kiểm tra tất cả các dữ liệu của Kinh Thánh để xác định học thuyết của chúng ta về sự thần cảm và tính vô ngộ.

Phương pháp khác bắt đầu với những lời dạy của Kinh Thánh về những chủ đề sự soi dẫn và tính chân thật của Kinh Thánh. Sự giải thích cẩn thận được thực hiện đối với mọi điều Kinh Thánh dạy. Sự tổng kết của lời dạy này về cơ bản trở thành học thuyết về nguồn cảm hứng của chúng ta.

Sự khác biệt trong hai phương pháp có thể được minh họa trong cách họ giải quyết một số vấn đề cụ thể trong Kinh Thánh. Ví dụ, Chúa Giê-su gọi hạt cải là hạt “nhỏ hơn tất cả các loại hạt khác” (Ma-thi-ơ 13:32). Tuy nhiên, thực vật học, cho biết có những hạt thực sự nhỏ hơn hạt cải. Đi xuyên qua tuyên bố trong phần Kinh Thánh này, thì không hoàn toàn đúng về mặt khoa học, phương pháp đầu tiên tuyên bố rằng Kinh Thánh  có  bao gồm một số “lỗi” như lỗi này.

Lời tuyên bố của Phao-lô rằng “tất cả Kinh Thánh đều được soi dẫn” (2 Ti-mô-thê 3:16) do đó phải được giải thích theo một số cách hạn chế để tránh cho kiểu “sai lầm” này. Nói cách khác, nếu chúng ta tìm thấy những điểm không chính xác về lịch sử và khoa học trong Kinh Thánh hoặc những tuyên bố của một trước giả mà chúng ta không thể hài hòa với những lời của những trước giả khác, chúng ta phải có cách giải thích phù hợp với những sai sót giả định này.

Vấn đề với phương pháp này là phương pháp nghiên cứu và kiến thức của con người là tiêu chuẩn của lẽ thật mà theo đó một câu Kinh Thánh được tuyên bố là đúng hay sai. Lời phát biểu của Đức Chúa Trời phải phù hợp với kiến thức đương thời của chúng ta. Nhưng lịch sử của ngành học thuật Kinh Thánh chứng minh rằng nhiều điều bị coi là sai sót trong những ngày trước đó đã được chứng minh là chính xác khi thông tin mới nhận được từ khảo cổ học và nghiên cứu về các ngôn ngữ trong các bản ghi chép Kinh Thánh. Do đó những điều hôm nay còn mơ hồ thì  ngày mai  có thể có thêm thông tin để chúng ta thấu hiểu các vấn đề nan giải trong Kinh Thánh.

Phương pháp thứ hai, là tìm cách để hiểu tín lý từ những tuyên bố trực tiếp trong Kinh Thánh về chủ đề này, cũng phải giải quyết những vấn đề như là vấn đề hạt cải. Nhưng phương pháp này trước hết phải xác định những gì Kinh Thánh dạy, sau đó tìm cách hài hòa các vấn đề như là hạt cải với lời dạy đó. Nếu một vấn đề được tìm thấy mà không có lời giải thích phù hợp, nó không được coi là cơ sở để thay đổi các giáo huấn rõ ràng của Kinh Thánh. Cần phải thừa nhận sự hạn chế của kiến thức con người chúng ta.

Cách chúng ta tiếp cận các tín lý khác nhau của Kinh Thánh có thể giúp xác định quan điểm nào trong hai quan điểm này là đúng. Những người theo phái Phúc Âm luôn khẳng định thần tính và sự vô tội của Đấng Christ, dựa trên những tuyên bố trực tiếp, chẳng hạn như Giăng 1:1, nơi mà Ngài được xác định rõ ràng là Đức Chúa Trời. Nhưng giả sử chúng ta tìm cách xác định xem Ngài có thực sự là Đức Chúa Trời hay không bằng cách xem xét tất cả các tuyên bố về Ngài. Chúa Giê-su nói với người cai trị trẻ tuổi giàu có rằng: “Sao ngươi gọi ta là nhơn lành? Chỉ có một Ðấng nhơn lành, là Ðức Chúa Trời” (Lu-ca 18:19). Một tuyên bố như vậy có thể bị hiểu lầm là Chúa Giê-su kém hơn Đức Chúa Trời.

Vào một dịp khác, Chúa Giê-su thú nhận không biết về ngày tái lâm, Ngài nói rằng “chỉ một mình Cha” biết thông tin này (Mác 13:32). Vì một trong những thuộc tính của Đức Chúa Trời là sự toàn tri, một số người có thể kết luận từ câu này rằng Chúa Giê-su không phải là Đức Chúa Trời. Nhưng giáo hội đã không sử dụng những câu như thế này để sửa đổi niềm tin của họ vào thần tính trọn vẹn của Đấng Christ. Các học giả đã giải thích những câu này theo những cách hài hòa với sự dạy dỗ rõ ràng về thần tính của Đấng Christ và sự vô tội của Ngài.

Phương pháp thông thường để hiểu sự giảng dạy của Kinh Thánh về một chủ đề nhất định  là bắt đầu bằng những lời tuyên bố rõ ràng liên quan đến chủ đề đó. Sau khi đã hiểu những gì được giảng dạy một cách rõ ràng, các dữ liệu khác có thể giúp làm sáng tỏ thêm sự giảng dạy cơ bản, nhưng không được phép phủ nhận sự giảng dạy đó. Những tuyên bố được thảo luận ở trên dường như đặt ra câu hỏi về thần tính của Đấng Christ giúp chúng ta hiểu Ngài đầy đủ hơn với tư cách vừa là Đức Chúa Trời và vừa là con người. Phao-lô truyên bố Kinh Thánh là được Đức Chúa Trời hà hơi (2 Ti-mô-thê 3:16) có thể suy nghĩ rằng Kinh Thánh là do Ngài chỉ đạo các trước giả viết ra. Nhưng Kinh Thánh bày tỏ rõ ràng những cá tính khác nhau của người viết và văn phong khác nhau của từng người, khiến cho chúng ta từ chối thuyết linh ứng sai khiến để ủng hộ sự tham gia chân chính của con người.

 

Ý Nghĩa của “Lẽ Thật” trong Kinh Thánh

Trước khi chúng ta xem lời chứng về tính trung thực của Kinh Thánh, chúng ta cần phải xác định Kinh Thánh có nghĩa là “lẽ thật” hay “thật”. Từ ngữ trong tiếng Do Thái của Kinh Thánh Cựu ước (emet) có ý niệm cơ bản là “sự chắc chắn” hay “sự hiển nhiên.” Trên cơ sở của ý nghĩa này, nhiều người nói rằng lẽ thật theo ý nghĩa Kinh Thánh có nghĩa là sự tin cậy hoặc sự thành tín. Nó bày tỏ một người có thể phụ thuộc vào một người khác. Trong câu nói, “Tôi thành thật với bạn/tôi nói sự thật với bạn” chuyển tải một thông báo đúng sự thật. Vì vậy, điều ngược lại với sự thật là không thành thật, không đáng tin cậy hoặc lừa dối. Do đó, người ta lập luận rằng sự thật liên quan đến con người trong mối quan hệ với những người khác (người ta có thể tin tưởng vào lời nói hoặc hành động của họ), chứ không phải sự kiện khách quan hoặc những lời tuyên bố. Theo quan điểm này, thì trọng tâm là sự tin cậy. Kinh Thánh được cho là đúng, nghĩa là xác thực và đáng tin cậy trong việc hoàn thành mục đích của Đức Chúa Trời là dẫn đưa con người đến sự cứu rỗi. Do đó, theo cách hiểu này, các khái niệm về lẽ thật trong Kinh Thánh không tập trung vào việc liệu điều gì đó có trùng hợp một cách khách quan với thực tế hay không.

Khi xem xét việc sử dụng từ “lẽ thật” trong Kinh Thánh, chúng ta thấy rằng nó không chỉ đề cập đến sự thành tín mà còn đề cập đến tính thực tế theo nghĩa phù hợp với các sự kiện hoặc thực tế.

Đúng là ở nhiều nơi trong Cựu Ước emet có nghĩa là trung thành. Chân thật là một đặc tính của Đức Chúa Trời: “Sự chơn thật Ngài là cái khiên và cái can của ngươi.” (Thi 91:4); Ngài “giữ lòng thành thực đời đời” (146:6, NIV); “Vì lòng thành tín của ta, ta sẽ ban thưởng cho họ” (Ê-sai. 61:8, NIV; xem thêm Sáng thế ký 24:27; Xuất 34:6; Thi 31:5; Giê 4:2; Xa-cha-ri 8:8). Hành động của Ngài là thành thật hoặc đáng tin cậy: “Công việc của tay Ngài là thành tín và công bình” (Thi 111:7). Ý nghĩa tương tự của từ emet cũng được áp dụng cho con người, mặc dù ít thường xuyên hơn nhiều. Giô-suê khuyên dân Y-sơ-ra-ên “hãy kính sợ Ðức Giê-hô-va, và phục sự Ngài cách thành tâm và chân thật; (hay trung tín)” (Giô-suê 24:14; xem thêm Xuất 18:21). Trong những trường hợp này, trung thành có nghĩa là đáng tin cậy hoặc chắc chắn. Yêu cầu của Ra-háp về một “lời cam đoan về sự chân thật” (Giô-suê 2:12) biểu thị một lời yêu cầu mà bà có thể tin cậy. Tương tự, “phần thưởng đích thực” (Châm. 11:18) là một điều chắc chắn.

Hai cách sử dụng cuối cùng rõ ràng là đang hướng tới ý nghĩa của “lẽ thật” biểu hiện tính chân thật thực tế. “Phần thưởng thực sự” là phần thưởng sẽ được chứng minh là đúng hoặc thực tế trong tương lai. Ý nghĩa này là “sự thật”—là điều phù hợp với thực tế, trái ngược với những gì là giả dối, sai lầm hoặc lừa dối—là rất rõ ràng trong nhiều cách sử dụng của emet. “Sự thật” là từ được dùng trong các vấn đề về tư pháp. “Xét xử chân thật” (Xa-cha-ri 8:16), và “thực thi công lý chân thật” (7:9). Trong cả hai trường hợp, lời kêu gọi dành cho “các phán quyết phù hợp với emet, với sự kiện thực tế, để chúng chứng minh là đúng và chính xác.” Trong các vấn đề về phán quyết, điều tra kỹ lưỡng được yêu cầu để xem liệu “điều đó có đúng không” (Phục. 13:14; xem thêm 17:4, “điều đó đúng và…. chắc chắn”; và 22:20). Do đó, các nhân chứng được khen ngợi vì lời nói trung thực của họ (Châm. 14:25; Giê. 42:5).

Lời phát biểu của một người cũng được mô tả là chân thật. “Hãy nói chân thật với nhau” (Xa-cha-ri 8:16; xem thêm Châm. 8:7; Dân. 11:2). Trong Thi thiên 15:2, nói “chân thật” tương phản với việc vu khống hoặc đưa ra những báo cáo dối trá và ác ý. Tương tự như vậy, Giê-rê-mi than thở về Giê-ru-sa-lem, nói rằng: “Ai nấy gạt gẫm kẻ lân cận mình, chẳng nói sự chơn thật. Chúng nó luyện tập lưỡi mình mà nói dối” (Giê-rê-mi 9:5). Nhà tiên tri Mi-chê được triệu tập để nói “không có gì khác ngoài sự thật nhân danh CHÚA” (1 Các vua. 22:16). “Môi chân thật” được khen ngợi, nhưng “lưỡi dối trá” và “môi nói dối” bị lên án (Châm. 12:19, 22). Rõ ràng trong những câu này, lẽ thật liên quan đến thực tế hoặc phù hợp với thực tế chứ không phải là hư cấu.

Do đó, khái niệm về sự chân thật trong Cựu Ước bao gồm ý tưởng cơ bản về một điều gì đó chắc chắn và có thể tin cậy.  Nhưng nó cũng biểu hiện ý tưởng về sự phù hợp với thực tế, nghĩa là, sự chân thật là trái ngược với những gì giả dối. Thực ra hai suy nghĩ này hợp nhất với nhau. Như Roger Nicole đã chỉ ra, “Bởi vì sự chân thật là phù hợp với thực tế nên sự tin tưởng có thể được đặt vào nó hoặc ở người khẳng định nó, và bởi vì là người chính trực nên họ sẽ cẩn thận đưa ra những tuyên bố chân thật.”

Quan niệm về lẽ thật của Tân Ước tiếp nối từ Cựu Ước, mặc dù ý nghĩa của sự phù hợp với thực tế là điểm nhấn chính yếu. Trong văn học Hy Lạp, từ aletheia (lẽ thật) dùng để chỉ sự vật như chúng vốn có, tức là những gì phù hợp với thực tế. Tuy nhiên, chính từ này có nguồn gốc là từ emet của tiếng Do Thái trong bản Septuagint (là bản dịch tiếng Hy Lạp của Tân Ước). Các trước giả Tân Ước đã sử dụng thuật ngữ Hy Lạp này với cùng ý nghĩa mà nó có trong Cựu Ước.

Ý tưởng nào chiếm ưu thế của từ “lẽ thật” mỗi lần xuất hiện trong Tân Ước thường rất khó xác định. Tuy nhiên, một số nghĩa rộng có thể được phân biệt, mặc dù chúng có thể trùng lặp. “Thà xưng Đức Chúa Trời là thật và loài người là giả dối, như có chép rằng: Ấy vậy Chúa sẽ được xưng công bình trong lời phán của Ngài” (Rô-ma 3:4). Một tuyên bố về những lời hứa trong giao ước của Đức Chúa Trời với Y-sơ-ra-ên, biểu hiện sự thành tín của Ngài với Lời Ngài, tương tự như lời tuyên bố trong câu trước về sự thành tín của Đức Chúa Trời (3:3). Một ý nghĩa tương tự cũng được thấy trong những lời dạy về chức vụ của Đấng Christ. “Vả, tôi nói rằng Đức Chúa Giê-su Christ đã làm chức vụ mình nơi người chịu cắt bì, đặng tỏ bày sự thành tín của Đức Chúa Trời, và làm quả quyết lời hứa cùng các tổ phụ chúng ta” (15: 8). Là “con cái của sự sáng”, các tín đồ phải sản sinh ra “bông trái của sự sáng [mà] bao gồm tất cả sự tốt lành, và sự công bình và lẽ thật” (Ê-phê-sô 5:9). Đây là ý nghĩa của “lẽ thật” rõ ràng tương tự như emet trong Cựu Ước ghi chép về sự trung thành của Ê-xê-chia: “Người làm những điều lành, ngay thẳng và chân thành [emet], tại trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của người” (2 Sử. 31:20)

Tuy nhiên, sự nhấn mạnh chính yếu trong những lần xuất hiện của từ “thật” ở các hình thức khác nhau của nó (tức là danh từ, trạng từ, tính từ), là về những gì phù hợp với thực tế. Sự thật sẽ phân biệt điều gì là thực tế có thật, hoặc là chân thật với điều gì là giả dối. Đây là một người Y-sơ-ra-ên chân thật, trong người này không có gì là giả dối” (Giăng 1:47, xem thêm 1:9) “ánh sáng thật” (4:23), “những người thờ phượng thật” (8:31). Nó mô tả cái thực đối ngược với cái ảo. “Những gì thiên sứ đang làm là có thật, nhưng Phi-e-rơ nghĩ rằng ông đang nhìn thấy một khải tượng” (Công vụ 12:9). Phục vụ “cách chân thật/trong lẽ thật” trái ngược với làm bộ: “hoặc làm bộ, hoặc thật thà, Đấng Christ cũng được rao truyền” (Phi-líp 1:18). Đức Chúa Trời là “Đức Chúa Trời chân thật [thật]” trái ngược với các thần giả mạo (Giăng 17:3).

Tính thực tế được thể hiện rõ khi từ “thành thật” được sử dụng cho nhân chứng hoặc lời khai của một người. Một nhân chứng thật nói theo thực tế (5:31-32; 8:13-14; Tít 1:13). Phao-lô tuyên bố, “Tôi nói thật…. không nói dối” (Rô-ma 9:1; xem thêm Công vụ 26:25; 1 Ti-mô-thê 2:7). “Vậy, hãy bỏ sự nói dối sang một bên, hãy nói thật” (Ê-phê-sô 4:25). Và “nói sự thật” (4:15) trái ngược với “mưu đồ gian dối” (4:14). “Kẻ nói dối” không có “lẽ thật ” trong mình (1 Giăng 2:4;  xem thêm 1:6; Gia-cơ 3:14). Sự thật trái ngược với sự dối trá được thấy rõ qua những lời dạy của Chúa Giê-su liên quan đến ma quỷ: “Vừa lúc ban đầu nó đã là kẻ giết người, chẳng bền giữ được lẽ thật, và không có lẽ thật trong nó đâu. Khi nó nói dối, thì nói theo tánh riêng mình, vì nó vốn là kẻ nói dối và là cha sự nói dối” (Giăng 8:44). Ngay cả khi điều ngược lại không được đề cập đến, thì rõ ràng sự thật có nghĩa là điều không giả dối hoặc không sai lầm. Khi Chúa Giê-su hỏi ai đã chạm vào Ngài, Kinh Thánh ký thuật: “Người đàn bà biết sự đã xảy đến cho mình, bèn run sợ đến gieo mình dưới chân Ngài, tỏ hết tình thật” (Mác 5:33).

Khái niệm về chân lý như là sự phù hợp với thực tế này nổi bật trong suốt Tân Ước. Các trước giả khẳng định rằng thông điệp của họ đúng vì nó dựa trên những điều thực sự đã xảy ra. Họ nhiều lần khẳng định rằng họ là nhân chứng của Đấng Christ (Công 1:22; 2:32; 3:15; 5:32; 10:39; 1 Phi 5:1-2; 2 Phi 1:16 -18;1 Giăng 1:1-3). Sự khẳng định của Phao-lô về sự phục sinh của Đấng Christ dựa trên sự thật rằng Ngài đã hiện ra với mọi người. Và điều này có thể dễ dàng được xác minh, vì hầu hết họ vẫn còn sống khi lời khẳng định được đưa ra (xem 1 Côr. 15:1-8, đặc biệt là câu 6).

Khái niệm về chân lý của Tân Ước cũng bao gồm ý tưởng này: Đền tạm Cựu ước trên đất chỉ là bản sao của đền tạm “thật” trên trời (Hê-bơ-rơ 8:2; 9:24).  Giăng viết rằng “ân điển và lẽ thật bởi Ðức Chúa Giê-su Christ mà đến.” (Giăng 1:17). Điều này không phải để phủ nhận rằng ân điển và lẽ thật của Đức Chúa Trời đã hiện diện trong Cựu Ước. Nhưng với sự xuất hiện của Đấng Christ, thực tại thiêng liêng của lẽ thật hiện diện trong Cựu Ước đã được bày tỏ đầy đủ trong Ngài. Ngài là “con một từ Cha, đầy ân điển và lẽ thật” (1:14). Vì Ngài là thực tại hoàn hảo về lẽ thật của Đức Chúa Trời bày tỏ trong thế gian, nên Ngài đã nói lẽ thật, và Ngài cũng có thể tuyên phán, “Ta là…. lẽ thật” (14:6). Phao-lô viết, “lẽ thật trong Chúa Giê-su” (Ê-phê-sô 4:21).

Từ những cách sử dụng khác nhau của từ “lẽ thật” trong Cựu ước và Tân ước, rõ ràng là lẽ thật bao hàm một số ý tưởng—sự tin cậy hoặc sự trung thành, sự phù hợp với thực tế hoặc thực tại thiêng liêng. Mặc dù một ý tưởng có thể là chính yếu trong một đoạn văn cụ thể, nhưng các chủ đề khác nhau này được liên kết với nhau. Một người đáng tin cậy hoặc trung thực sẽ nói đúng theo  thực tế, tức là người này  không nói dối. Ngay cả sự mặc khải tối hậu về “lẽ thật” của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ không phải là không liên quan đến lẽ thật được bày tỏ trước đây qua các vị tiên tri (Hê-bơ-rơ 1:1-2).

Lẽ thật theo nghĩa Kinh Thánh là tối hậu, là sự hoàn hảo của Đức Chúa Trời. Tất cả lẽ thật đều đến từ Đức Chúa Trời. Hành động của Ngài là bày tỏ của lẽ thật, về sự thành tín bất biến của Ngài. Vì vậy, lời của Ngài cũng đáng tin cậy; Ngài luôn luôn hành động phù hợp với những gì Ngài nói, nghĩa là, lời nói của Ngài luôn luôn phù hợp với thực tế. Vì vậy, Ngài không thể nói dối (Tít 1:2; Hê-bơ-rơ 6:18). Vì mọi vật được tạo ra bởi Đức Chúa Trời và tìm thấy mục đích cuối cùng của chúng trong ý định của Đức Chúa Trời. Các mạng lịnh của Đức Chúa Trời là sự bày tỏ ý muốn của Ngài. Chúng phản ảnh lẽ thật của Đức Chúa Trời, và như Phao-lô viết, “trong luật pháp có mẫu mực của sự thông biết và của lẽ thật” (Rô-ma 2:20). Do đó, tín nhân được kêu gọi “[bước đi] trong lẽ thật” (2 Giăng 4; 3 Giăng 3–4), thực hành lẽ thật (Giăng 3:21;1 Giăng 1:6) và nói lẽ thật (Ê-phê-sô 4:15, 25). Một khái niệm về lẽ thật như vậy mà định nghĩa của nó được bắt nguồn  từ chính Đức Chúa Trời cho thấy sự hoàn hảo của các đặc tính của nó—sự tin cậy, sự phù hợp với thực tế, và  thực tại thiêng liêng.

 

Lời Chứng của Kinh Thánh về Lẽ Thật

Kinh Thánh thường xuyên làm chứng cho tính trung thực của nó. Việc xác định Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời rõ ràng là một lời khẳng định về tính trung thực, vì Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của lẽ thật. Tuyên bố của Phao-lô về sự soi dẫn của Kinh Thánh (2 Ti-mô-thê 3:16)—và lời tuyên bố của Chúa Giê-su rằng “không một chấm hay một nét nhỏ nhất nào (của Luật pháp hoặc Kinh Thánh) sẽ qua đi” (Mat 5:18) và “Kinh Thánh không thể bị hủy bỏ được” (Giăng 10:35)—ngụ ý rõ ràng về lời vĩnh cửu của Đức Chúa Trời.

Ngoài ra, một số tuyên bố trong Kinh Thánh đề cập rõ ràng đến tính trung thực của nó. Chẳng hạn, tác giả Thi thiên khi suy ngẫm sâu sắc về giá trị và sự thú vị của Kinh Thánh đã tuyên bố: “Luật pháp của Ngài là chân thật” (119:142), “tất cả các điều răn của Ngài đều là chân thật” (119:151), và “sự tổng cộng của Lời Ngài là chân thật” (119:160). Từ “tổng cộng” trong câu cuối cùng chỉ ra rằng “lẽ thật” là một đặc điểm của toàn bộ Kinh Thánh. Như Derek Kidner nói, việc sử dụng cùng một từ cho việc tổng điều tra dân số (ví dụ, Xuất. 30:12; Dân số 1:2) “cho thấy rằng ‘tổng của’ không phải là một cách nói ‘chung chung’, nhưng đúng hơn, ‘mỗi phần của’ lời Đức Chúa Trời đều là lẽ thật.” Chắc chắn, người viết Thi thiên vui hưởng Lời Đức Chúa Trời trong Thi thiên 119:16, 24, 47, 70, 77, 143, 174 cho thấy rằng “sự chân thật” có một ý nghĩa cá nhân hoặc hiện sinh đối với tác giả.  Anthony Thiselton lưu ý, “Trước giả Thi thiên coi luật pháp của Đức Chúa Trời như ngọn đèn và ánh sáng (câu 105) giúp cho tín nhân nhận biết vị trí thực sự của luật pháp, và do đó không thể loại bỏ ý nghĩa của lẽ thật phù hợp với thực tế từ những tuyên bố này. Những tín đồ nhận thấy Kinh Thánh đáng tin cậy về mặt cá nhân trong đời sống bởi vì Kinh Thánh là lẽ thật trên thực tế. Khi chống lại các tiên tri giả vào thời Giê-rê-mi, vấn đề ở đây là sự thật đối nghịch với sự giả dối. Các tiên tri giả “nhân danh Ta mà nói tiên tri giả dối” (Giê 23:25), “nhưng hãy để kẻ có lời Ta nói lời Ta trong lẽ thật” (23:28; xem thêm 1 Vua. 17:24).

Trong Tân Ước, phúc âm được cho là có đặc điểm của lẽ thật. Đó là “lời lẽ thật” (Ê-phê-sô 1:13; Cô-lô-se 1:5). Kinh Thánh Cựu Ước là “hiện thân của sự tri thức và lẽ thật” (Rô-ma 2:20). Quan trọng nhất là Chúa Giê-su khẳng định rằng “Lời của Ngài là lẽ thật” (Giăng 17:17) Theo  Thiselton, “Lời của Đức Chúa Trời có giá trị, có hiệu quả, không hề sai, thực sự phù hợp với thực tế. Tất cả những điều này là chính xác vì nó là lời mặc khải của Đức Chúa Trời.”

Ngoài những tuyên bố rõ ràng về tính trung thực của Kinh Thánh, thì những tuyên bố khác trong Kinh Thánh đề cập đến sự hoàn hảo của Kinh Thánh. Như trước giả Thi thiên đã tuyên bố, “Lời của CHÚA là lời trong sạch, Dường như bạc đã thét trong nồi dót bằng gốm, luyện đến bảy lần” (Thi 12:6). Tiếng Hê-bơ-rơ dịch là “trong sạch” được dùng ở nơi khác để mô tả một kim loại, chẳng hạn như vàng, không lẫn tạp chất (Xuất 25:11, 17, 24, 29). Nó cũng được dùng để chỉ tấm lòng trong sạch (Thi 51:10; Ê-xê-chi-ên 36:25) hoặc sự trong sạch theo nghi lễ (Lê. 10:10, 14; 13:13, 17; Phục. 14:11, 20; Mal. 1:11). Để nhấn mạnh sự trong sạch của Lời Đức Chúa Trời, Đa-vít viết rằng nó giống như bạc được “tinh luyện bảy lần” (Thi 12:6). Số bảy có lẽ để bày tỏ “một cách mạnh mẽ của khái niệm về sự trong sạch tuyệt đối, hoàn toàn không bị tạp chất lẫn vào. Nó là một con số hoàn hảo.”

Đa-vít cũng viết, “Ðức Chúa Trời, các đường lối Ngài là trọn vẹn; Lời của Ðức Giê-hô-va đã được luyện cho sạch; Ngài là cái khiên cho những kẻ nào nương náu mình nơi Ngài.” (18:30). Tiếng Hê-bơ-rơ dịch là “thử luyện” thường được sử dụng để tinh luyện, nấu chảy, thử nghiệm để chứng minh là kim loại. Lời Đức Chúa Trời đã được thử nghiệm và cho thấy là hoàn toàn trong sạch và hoàn toàn đáng tin cậy. Như câu gợi ý, Lời Đức Chúa Trời phù hợp với hành động của Ngài. “Đường lối” của Ngài là “không chỗ trách được” nghĩa là “hoàn hảo”. Lời của Ngài đã được “thử luyện” nghĩa là “không có tì vết.” Châm ngôn 30:5 nói, “Mọi lời của Đức Chúa Trời đều được thét luyện – nghĩa là, hoàn hảo.” Trước sự tinh sạch của Lời Đức Chúa Trời, A-gu-rơ cảnh báo, “Chớ thêm chi vào các lời Ngài. E Ngài quở trách ngươi, và ngươi bị cầm nói dối chăng” (Châm. 30:6). Sự tương phản với lời nói dối cho thấy rằng sự trong sạch của Lời đã được Đức Chúa Trời thử nghiệm và thử luyện không chỉ đề cập đến việc người tin Chúa thấy Lời ấy đáng tin cậy trong cuộc sống, mà còn nói rằng đó là lời sự thật trái ngược với sự giả dối.

Trong Châm-ngôn 8:8, sự khôn ngoan được nhân cách hóa, “Mọi lời nói của miệng tôi đều ở trong sự công chính; chẳng có điều gì quanh co hay gian trá trong đó.” Trong Châm. 12:17, “Kẻ nào nói thật, rao truyền sự công bình; Song kẻ làm chứng gian, phô sự giả dối” và Thi Thiên 52:3, “Ngươi chuộng điều dữ hơn là điều lành. Thích sự nói dối hơn là nói sự công bình.” Những câu này cho thấy rằng lời nói “công bình” là bao gồm lời nói thật (trung thực).

Điều thú vị là Kinh Thánh không bao giờ giới hạn tuyên bố về tính trung thực của Kinh Thánh đối với một số giáo lý (chẳng hạn như những giáo lý liên quan trực tiếp đến sự cứu rỗi).    Khái niệm về lẽ thật được đặt nền tảng ở trong Đức Chúa Trời, nên ý nghĩa của “lẽ thật” không bao hàm sự bất toàn. Những gì không đáng tin cậy hoặc không phù hợp với thực tế thì không bao giờ là một phần của lẽ thật. Bởi vì Đức Chúa Trời là chân thật, sự trung thực trong sự mặc khải của Ngài trong các hành động và lời nói thì không bao giờ là giả dối. Đức Thánh Linh trở nên hiện hữu, cũng được gọi là Thần lẽ thật (Giăng 14:17; 15:26; 16:13; 1 Giăng 4:6). Vì Kinh Thánh được viết bởi những người được “Đức Thánh Linh cảm động” (2 Phi-e-rơ 1:21) nên những gì họ viết là Lời của Đức Chúa Trời, nên khó có thể kết luận điều gì khác ngoài việc Kinh Thánh là vô ngộ trong mỗi trang sách.

 

Ý NGHĨA CỦA SỰ VÔ NGỘ TRONG KINH THÁNH

Trong quá khứ, thuật ngữ truyền thống được sử dụng để mô tả tính trung thực của Kinh Thánh là vô ngộ (không có sai lầm). Hầu hết những ai đề cập đến tính trung thực của Kinh Thánh đều đề cập đến đặc điểm vô ngộ của quyển sách này.

Định Nghĩa về Sự Vô Ngộ

Theo ngôn ngữ riêng của Kinh Thánh, sự vô ngộ được định nghĩa tốt nhất là “tính trung thực”. Có nghĩa là các nguyên bản của Kinh Thánh đều đúng trong mọi điều đã trình bày. David Dockery định nghĩa sự vô ngộ theo cách này: “Kinh Thánh (trong các nguyên bản) được giải nghĩa một cách chính xác theo cách mà nền văn hóa và phương tiện giao tiếp đã được phát triển vào thời điểm được viết ra của nó là hoàn toàn đúng (và do đó không thể sai lầm) trong tất cả những gì nó khẳng định, ở mức độ chính xác mà người viết mong đợi, trong mọi vấn đề liên quan đến Đức Chúa Trời và sự sáng tạo của Ngài.”

Bởi vì Kinh Thánh là lẽ thật, không chỉ đáng tin cậy, nhưng cũng phù hợp với thực tế.   Ví dụ, lời khuyến khích “Ngợi khen Chúa” ngụ ý sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, Ngài xứng đáng được ngợi khen, và mối quan hệ nhất định giữa Ngài và dân sự khiến cho việc ngợi khen là điều đúng đắn. Bởi vì tất cả Kinh Thánh đều là Lời của Đức Chúa Trời, các lời của Ngài đều vô ngộ, bao gồm các mạng lịnh, những lời hứa, các điều cảnh báo, và nhiều điều khác có thể được tìm thấy.

Một Số Tiêu Chuẩn Cần Thiết của Sự Vô Ngộ

Để tránh hiểu lầm về tính vô ngộ, chúng ta cần đặt ra một số câu hỏi khi xem xét các câu trong Kinh Thánh. Đầu tiên, trước giả đã mô tả câu nói đó là thật, nghĩa là trước giả chỉ đơn giản là thuật lại những gì ai đó đã nói nhưng có thể đó là một lời nói không đúng sự thật.  Sa-tan tuyên bố với Ê-va, “Hai ngươi chẳng chết đâu” (Sáng 3:4) là một lời nói dối – nói không đúng sự thật. Và Kinh Thánh ghi lại chính xác những lời phát biểu của những người bạn của Gióp, mặc dù họ đã sai khi buộc tội Gióp về một số tội nghiêm trọng. Kinh Thánh vô ngộ ở chỗ là thuật lại cách trung thực và chính xác những gì đã được nói hoặc những gì đã xảy ra.

Thứ hai, trước giả dự định nói bằng ngôn ngữ bình dân hay bằng ngôn ngữ khoa học? Chúng ta nói về mặt trời mọc và lặn, nhưng về mặt khoa học chúng ta biết rằng trái đất chuyển động chứ không phải mặt trời.

Thứ ba, có phải trước giả đã nói tròn con số không? Nếu con số là một ước lượng hợp lý, thì không có sự sai sự thật nào liên quan. Trong nhiều tình huống—dân số của các thành phố, quy mô đám đông, khoảng cách hàng dặm—người ta sử dụng số tròn, nhưng chúng tôi không nói rằng những tuyên bố đó là sai. Nguyên tắc tương tự cũng áp dụng cho trích dẫn cho các trường hợp khác. Chúng có thể là những câu trích dẫn chính xác từng từ, hoặc chúng có thể là những câu diễn giải cung cấp ý chính của ý nghĩa ban đầu mà không bao gồm sai sót.

Thứ tư, trước giả có ý định nói theo nghĩa đen hay thông qua nghĩa minh họa? Một số người nói rằng các trước giả Kinh Thánh đã sai lầm khi nói về “bốn góc đất” (Ê-sai 11:12) hoặc “các đập trên trời” (Sáng 7:11). Nói như thế là sai về mặt khoa học. Tuy nhiên, khi từ ngữ như vậy mà được hiểu theo nghĩa bóng, thì không có sai sót nào liên quan.

Một số người phản đối tín lý về sự vô ngộ bằng cách kêu gọi sự chú ý đến một số cấu trúc ngữ pháp trong tiếng Do Thái hoặc tiếng Hy Lạp không tuân theo các mẫu câu thông thường. Tuy nhiên, ngữ pháp không phải là vấn đề của lẽ thật mà là sự phù hợp với quy ước ngôn ngữ của con người, vốn có thể thay đổi và dao động theo thời gian. Trong mọi trường hợp, cho dù người đó nói và viết với khả năng văn phạm tốt thì không liên quan gì đến tính trung thực của một tuyên bố. Hơn nữa, những lý do chính đáng thường có thể được tìm thấy trong những trường hợp mà trước giả thay đổi cách diễn đạt theo ngữ pháp thông thường. Trong một số trường hợp, nó là kết quả của việc chuyển các cấu trúc ngữ pháp Do Thái sang ngôn ngữ Hy Lạp, thì những cấu trúc đó không phù hợp với ngữ pháp Hy Lạp chuẩn.

Do đó, sự vô ngộ có nghĩa là khi xem xét đầy đủ các tuyên bố của Kinh Thánh theo ý nghĩa và mục đích sử dụng của chúng, thì Kinh Thánh hoàn toàn đáng tin cậy trong tất cả những gì được trình bày.  Sự dạy dỗ chính yếu của Kinh Thánh liên quan đến chương trình cứu chuộc vĩ đại của Đức Chúa Trời thông qua Chúa Giê-su Christ. Nhưng khi cung ứng sự cứu rỗi này, thì Đức Chúa Trời đã đi vào thế giới để đối phó với con người trong bối cảnh lịch sử và địa lý. Do đó, sự ghi chép về sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời chạm đến các lĩnh vực kiến thức khác cũng như các lẽ thật thuộc linh. Toàn bộ Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời được soi dẫn, nên không thể sai lầm. Điều này không có nghĩa là các trước giả biết nhiều về lịch sử và khoa học hơn những người ngày nay, cũng không có nghĩa là họ là những chuyên gia trong mọi lĩnh vực kiến thức. Thay vào đó, điều đó có nghĩa là Đức Chúa Trời đã bảo vệ những điều đó để không gây hiểu lầm cho chúng ta trong bất kỳ tuyên bố nào.

TẦM QUAN TRỌNG VỀ SỰ VÔ NGỘ CỦA KINH THÁNH

Kể từ thời đại Khai sáng vào thế kỷ thứ mười tám, câu hỏi về tính vô ngộ của Kinh Thánh đã được tranh luận giữa các Cơ đốc nhân. Nhiều cuộc tranh luận đã diễn ra trong những thập kỷ qua. Tính vô ngộ hay sự trung thực của Kinh Thánh có thực sự quan trọng đối với đức tin Cơ đốc? Tất nhiên, tin vào tính vô ngộ thì không đảm bảo rằng người đó sẽ giải nghĩa Kinh Thánh một cách chính xác, bằng chứng thực tế là một số giáo phái chẳng hạn như Chứng nhân Giê-hô-va đã khẳng định tính vô ngộ, nhưng cách họ giải nghĩa Kinh Thánh thì không đúng. Tuy nhiên, sự vô ngộ cung cấp một cơ sở hợp lý cần thiết cho thẩm quyền tuyệt đối của cả Kinh Thánh.

Sự vô ngộ có nghĩa là tất cả Kinh Thánh đều có thẩm quyền. Nếu Kinh Thánh có sai sót thì thẩm quyền của nó bị hạn chế. Tất nhiên, nhiều người có thể nói rằng Kinh Thánh chỉ có thẩm quyền trong những lời dạy liên quan đến sự cứu rỗi. Tuy nhiên, khi nói điều này, thì người đó giới hạn thẩm quyền của Kinh Thánh.

Những lời của J. I. Packer về tầm quan trọng của sự vô ngộ liên quan đến việc trình bày Kinh Thánh là điều rất đáng được suy nghĩ. Khi khẳng định tính vô ngộ của Kinh Thánh, Packer lưu ý, chúng ta không được:

1) Phủ nhận, coi thường bất cứ điều gì mà các trước giả Kinh Thánh ghi chép.

2) Xem nhẹ bất kỳ những ngụ ý thực tế nào đối với việc thờ phượng và phụng sự mà sự dạy dỗ của Kinh Thánh mang lại.

3) Cắt bỏ bất kỳ vấn đề nào về sự hài hòa của Kinh Thánh, bằng cách cho rằng các trước giả được soi dẫn không nhất thiết phải nhất quán với chính họ hoặc với nhau.

Bằng cách khẳng định tính vô ngộ của Kinh Thánh, chúng ta tự đặt mình dưới thẩm quyền của tất cả những lời dạy trong Kinh Thánh. Khi nói rằng Kinh Thánh có những sai sót, thì sẽ làm hạn chế thẩm quyền của nó và dẫn đến những phiên bản Cơ đốc giáo bị thay đổi hay bóp méo.

 

Một số người học Kinh Thánh nói rằng sự vô ngộ chỉ liên quan đến các vấn đề về đức tin và việc thực hành, còn những chủ đề khác chúng ta không biết chắc.

Một khi sai sót được thừa nhận ngay cả trong lĩnh vực rất hạn chế, thì xu hướng này cho rằng nếu sai sót nhiều hơn cũng sẽ được thừa nhận. Điều này không có nghĩa là tất cả những ai phủ nhận tính trung thực của Kinh Thánh thì đều hạn chế thẩm quyền của Kinh Thánh. Tuy nhiên, nó chỉ ra rằng việc khẳng định ngay cả một số sai sót trong Kinh Thánh cũng khiến cho về nguyên tắc, rất khó để ngăn những người khác tìm ra thêm.

 

Vô Ngộ Có Nghĩa Kinh Thánh Là Thẩm Quyền Tối Hậu

Kinh Thánh không chỉ vô ngộ mà Kinh Thánh có thẩm quyền tối hậu. Khi chấp nhận những sai sót trong Kinh Thánh thì ngay lập tức câu hỏi được đặt ra, Ai là người quyết định điều gì là đúng và điều gì sai trong Kinh Thánh? Chẳng phải nhà phê bình Kinh Thánh nói rằng một câu Kinh Thánh nào đó là sai thì người đó đang tự đặt mình vào sai vị trí như là người có thẩm quyền đối với Kinh Thánh sao? Khi phủ nhận tính vô ngộ của Kinh Thánh sẽ dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng. Những lời của Nicole xứng đáng được chúng ta chú ý: Điều tối quan trọng trong cuộc thảo luận này là sự công nhận uy quyền của Đức Chúa Trời trong các lời ghi chép. Chúng ta có vâng phục tiếng nói của Đức Chúa Trời là Đấng đã phán dạy một cách rõ ràng? Hay là, chúng ta sẽ kiên quyết sàng lọc thông điệp của Kinh Thánh, chỉ chấp nhận những gì có thể chấp nhận và từ chối những gì không phù hợp với tiêu chí của chúng ta?

KẾT LUẬN

Kinh Thánh vô ngộ theo như những nghiên cứu trên. Không nơi nào trong Kinh Thánh chỉ ra rằng những giáo huấn của nó chỉ liên quan đến một số phần hoặc một số chủ đề nhất định. Do đó, việc tuân theo những lời dạy của Kinh Thánh đòi hỏi sự công nhận về tính vô ngộ của Kinh Thánh. Hơn nữa, tín lý này duy trì một cách hợp lý về thẩm quyền tối hậu của tất cả 66 sách trong Kinh Thánh. Chỉ có lẽ thật mới có thẩm quyền, và bởi vì Kinh Thánh hoàn toàn là chân thật nên mạng lịnh của Kinh Thánh là thẩm quyền tối thượng.

 

 

  1. Kinh Thánh Có Tự Mâu Thuẫn Không?

 

NGƯỜI TA CÓ THỂ NGHĨ rằng vì Kinh Thánh là lẽ thật, nên tất cả nội dung của nó sẽ dễ dàng hòa hợp với nhau một cách hoàn hảo. Tuy nhiên, người học Kinh Thánh cẩn thận chắc chắn sẽ gặp phải những vấn đề trong việc nghiên cứu Kinh Thánh dường như không phù hợp với sự soi dẫn thiên thượng. Một phần nào đó của Kinh Thánh có vẻ khó hòa hợp với phần khác, và một số dữ liệu trong Kinh Thánh có vẻ không phù hợp với học thuật thế tục. Nếu Kinh Thánh là những gì họ cho là—Lời Đức Chúa Trời được soi dẫn, thì chúng ta giải thích những vấn đề rõ ràng này như thế nào và chúng ta nên phản ứng ra sao?

 

NGUYÊN NHÂN CỦA CÁC VẤN ĐỀ TRONG KINH THÁNH

Khi xem xét bản chất của Kinh Thánh, không khó để hiểu tại sao chúng ta có thể gặp một số vấn đề. Theo trước giả sách Hê-bơ-rơ, sự mặc khải của Đức Chúa Trời theo cách: “Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách, rồi đến những ngày sau rốt nầy, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài” (Hê-bơ-rơ 1:1-2). Việc viết Kinh Thánh kéo dài nhiều thế kỷ, trong thời gian đó thì Đức Chúa Trời phán với dân sự Ngài theo bối cảnh lịch sử và nền văn hoá đa dạng của họ. Mặc dù có những bước tiến lớn trong ngành nghiên cứu khảo cổ học và lịch sử nhầm thu hẹp khoảng cách lịch sử và văn hóa hiện hữu giữa chúng ta và các thời kỳ trong Kinh Thánh. Tuy nhiên kiến thức của chúng ta về thế giới cổ đại vẫn chưa hoàn chỉnh. Do đó, chúng ta có thể gặp phải một số dữ liệu trong Kinh Thánh làm cho chúng ta vẫn khó hiểu và khó hài hòa để có thể hoàn toàn hài lòng.

Đôi khi có cảm giác rằng những vấn đề này có khởi đầu gần đây, nó bắt nguồn từ việc sử dụng phương pháp luận khoa học hiện đại hoặc các khám phá khoa học và lịch sử. Tuy nhiên, các học giả tin vào Kinh Thánh đã nhận thức được những vấn đề này trong nhiều thế kỷ và tìm cách giải quyết những vấn đề đó theo sự soi dẫn của Kinh Thánh. Với thực tế này, sẽ rất hữu ích nếu xem xét ngắn gọn động lực đằng sau thì phần lớn xu hướng hiện đại nhằm mục đích là phủ nhận tính vô ngộ của Kinh Thánh.

 

Các Giả Định Của Lý Thuyết Phủ Nhận Các Sự Kiện Siêu Nhiên

Các Giả Định Của Lý Thuyết Phủ Nhận Các Sự Kiện Siêu Nhiên

Việc đề cao lý trí của con người như là tiêu chuẩn cao nhất của chân lý trong thời đại Khai sáng vào thế kỷ mười tám đã dẫn đến sự nở rộ phương pháp nghiên cứu phê bình lịch sử Kinh Thánh vào thế kỷ mười chín. Phương pháp này cho rằng tất cả các sự kiện lịch sử và tự nhiên diễn ra về nguyên tắc là có thể so sánh được bằng phép loại suy, và kinh nghiệm hiện tại của con người về thực tế có thể cung cấp các tiêu chí khách quan để kết luận điều gì có thể xảy ra hoặc không thể xảy ra trong quá khứ. Nguyên tắc này sau đó đã được sửa đổi ở một số phương diện. Ví dụ, người ta thừa nhận rằng tất cả các sự kiện lịch sử theo một nghĩa nào đó là duy nhất và do đó không thể hoàn toàn tương tự với các sự kiện trước đó. Hơn nữa, có thể tìm thấy ý nghĩa trong một sự kiện không thể kiểm chứng một cách khách quan, chẳng hạn như các giá trị cao nhất trong đời sống, ví dụ như sự công bình và tình yêu thương.

 

Tuy nhiên, khi giữ nguyên tắc cơ bản rằng chỉ duy lý trí của con người mới có thể xác định điều gì là thật và đúng, thì sẽ dẫn đến nhiều cáo buộc sai lầm trong Kinh Thánh cho đến ngày nay. Như Richard Purtill giải thích, “Nếu các câu chuyện kể trong Kinh Thánh mà không có các câu chuyện về các sự kiện phép lạ hoặc không đề cập đến Đức Chúa Trời, các thiên sứ… thì lịch sử Kinh Thánh có lẽ sẽ được coi là vững chắc hơn nhiều so với phần lớn lịch sử, như là của Hy Lạp cổ và La Mã. Nhưng vì các câu chuyện trong Kinh Thánh có đề cập đến phép lạ và có liên quan đến Đức Chúa Trời, thiên sứ và ma quỷ… rồi những vấn đề quan tâm khác hơn là chỉ những nhân vật lịch sử đi vào bức tranh này…. Những người theo chủ nghĩa hiện đại bị thuyết phục là phép lạ không thể xảy ra.” Howard Vos tóm tắt vấn đề một cách thẳng thừng: “Chủ nghĩa hoài nghi thái quá của nhiều nhà thần học tự do không bắt nguồn từ việc đánh giá cẩn thận các dữ liệu sẵn có, mà là từ khuynh hướng của con người lý trí chống lại các sự kiện siêu nhiên.”

Niềm tin cho rằng lý trí của con người là phương tiện để xác định chân lý không những chỉ ảnh hưởng đến lịch sử, mà còn ảnh hưởng đến các vấn đề đạo đức và tôn giáo. Mặc dù được khẳng định một cách khá thẳng thừng, nhưng nguyên tắc cơ bản của một học giả thế kỷ mười chín vẫn được nhiều người ngày nay áp dụng: “Nếu chúng ta tìm thấy ngay cả trong Kinh Thánh bất cứ điều gì khiến chúng ta nhầm lẫn giữa nhận thức đúng và sai, thì điều này đối với chúng ta sẽ không quan trọng hơn là đặc tính của Đức Chúa Trời. Nếu sau khi suy nghĩ thấu đáo và  tập trung cầu nguyện mà điều này vẫn còn mơ hồ, ta không được đầu hàng trước nó, vì nó không đáp ứng nhu cầu của sự mặc khải mà Ngài đã ban cho chúng ta bằng chính tâm linh và lương tâm của chúng ta, là điều vốn dĩ làm chứng về Ngài.”

Bởi vì một số quy định của Luật pháp Môi-se được ghi trong Xuất Ê-díp-tô Ký 21-23 cho thấy sự phản ánh hiện trạng trong xã hội Y-sơ-ra-ên lúc bấy giờ (ví dụ, chế độ nô lệ) và cả “lòng nhân từ và sự công bình của Đức Chúa Trời”, Paul Achtemeier kết luận rằng đoạn Kinh Thánh này xuất phát từ hai nguồn, một nguồn tự nhiên (từ đời sống của người Do Thái) và sự mặc khải khác (từ Đức Chúa Trời). Các nhà truyền giáo luôn hiểu rằng phân đoạn này là sự mặc khải vô ngộ về Đức Chúa Trời yêu thương, Đấng đã khôn ngoan hòa hợp các quy định của Ngài với dân sự của Ngài tại thời điểm đó trong lịch sử. Nhưng Achtemeier bác bỏ điều này và thay vào đó là đề xuất ý kiến của riêng mình về việc mặc khải của Đức Chúa Trời sẽ như thế nào.

Tất cả điều này cho thấy sự thật rằng quan điểm tôn giáo của chúng ta trên thực tế ảnh hưởng đến cách chúng ta quan niệm về Kinh Thánh như thế nào. Tuy nhiên, các nhà phê bình luôn tìm cách phủ nhận thực tế này. Ví dụ, John Barton đã khẳng định rằng “các quy tắc cơ bản để phê bình Kinh Thánh hiệu quả chỉ phụ thuộc vào lý luận đúng đắn…. Quan điểm tôn giáo của các nhà phê bình hoàn toàn không liên quan đến công việc đánh giá, phê bình của họ.” Tuy nhiên, rất khó để phủ nhận những lời sau đây của nhà truyền giáo J. I. Packer. “Khi bạn bắt gặp một quan điểm  về Kinh Thánh, thì bạn phải giải quyết nhiều điều hơn là chỉ một quan điểm. Những gì bạn thấy là một quan điểm tổng quát về Đức Chúa Trời và thế giới, tức là một nền thần học tổng quát, vừa là một bản thể luận, là tuyên bố những gì có, và một nhận thức luận, là cho biết làm thế nào chúng ta biết những gì có…. Mọi góc cạnh của Kinh Thánh, qua phân tích chứng minh để đúc kết lại một quan điểm tổng quát về Đức Chúa Trời và con người.”

Đúng vậy, có những vấn đề khó hiểu thực sự trong Kinh Thánh mà những học viên đặt niềm tin vào Kinh Thánh không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, nhiều sự công kích hiện đại chống lại tính trung thực của Kinh Thánh không phải xuất phát từ dữ liệu chứng minh rằng những lời tuyên bố trong Kinh Thánh là mâu thuẫn hoặc trái với thực tế, mà là từ những giả định về triết học và thần học của những người nghiên cứu. Mặc dù có thể đưa ra nhiều lời giải thích khác nhau cho những giả định cơ bản ảnh hưởng đến thái độ của chúng ta đối với Kinh Thánh, Chúa Giê-su gợi ý rằng ước muốn cơ bản trong lòng chúng ta mới là điều đóng vai trò then chốt. “Nếu ai khứng làm theo ý muốn của Ðức Chúa Trời, thì sẽ biết đạo lý ta có phải là bởi Ðức Chúa Trời, hay là ta nói theo ý ta” (Giăng 7:17). Chúa Giê-su nói rằng việc nhận thức lời dạy của Ngài là đúng hay sai không thể được quyết định bởi cái gọi là cuộc tranh luận hợp lý khách quan, mà tùy thuộc vào sự lựa chọn đạo đức. D. A. Carson nói về việc nhận biết ý muốn của Đức Chúa Trời sẽ áp dụng cho toàn bộ sự mặc khải thiên thượng của Đức Chúa Trời. “Sự kết ước đức tin được nhìn thấy trước ​​ở đây, sự lựa chọn đạo đức này, là cơ bản đúng đắn, và không thể đưa ra bất kỳ thái độ nào khiến chúng ta trở nên như những người đoán xét đường lối của Đức Chúa Trời…. Con người hữu hạn và sa ngã không thể tự đặt mình trên một nền tảng chắc chắn nào đó bên ngoài lẽ thật và do đó có được lợi thế để từ đó họ có thể đánh giá nó. Sự mặc khải thiêng liêng chỉ có thể được đánh giá, như cái nó vốn có, từ bên trong.”

Trong chừng mực nào đó mà chúng ta không tán thành những lời dạy của Kinh Thánh và không tuân theo những lời dạy đó, thì ở mức độ đó, chúng ta chắc chắn sẽ tìm thấy lý do để phủ nhận rằng Kinh Thánh là sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Chúng ta chắc chắn phải tìm cách dung hòa suy nghĩ của mình với cách chúng ta chọn để sống. Chúng ta nên nhớ nguyên tắc này khi suy nghĩ về những trường hợp khó hiểu trong Kinh Thánh: Lý do tại sao chúng ta tìm thấy rất nhiều chỗ tối trong Kinh Thánh, là vì có quá nhiều chỗ tối trong tâm hồn chúng ta.

 

Nguyên Nhân Xác Thực Của Các Vấn Đề Trong Kinh Thánh

Như đã lưu ý, nhiều vấn đề khó hiểu trong Kinh Thánh nảy sinh vì Kinh Thánh là một tài liệu cổ, được viết trong bối cảnh của các nền văn hóa khác với nền văn hóa của chúng ta. Ví dụ, các phương pháp tính toán khác nhau có thể đã được sử dụng. Điều này đặc biệt đúng đối với diễn biến trình tự của các niên đại. Cách tính trọng lượng có thể thay đổi theo thời gian, gây khó khăn trong việc hài hòa sự giải trình này với sự giải trình khác. Chúng ta có thể chưa hiểu đầy đủ ý nghĩa của một số từ, thành ngữ, cấu trúc ngữ pháp hoặc các khía cạnh khác của các ngôn ngữ và phong cách viết trong Kinh Thánh cổ đại.

Vì vậy, chúng ta không nên ngạc nhiên rằng có một số vấn đề tồn tại nhất định. Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã hành động thông qua những con người thật để viết ra Kinh Thánh. Ngài không loại bỏ nhân cách của họ hay đưa họ ra khỏi hoàn cảnh lịch sử để rồi đặt họ lên một hình thức bình diện đặc biệt nào đó, nơi mà họ đều suy nghĩ và thể hiện bản thân giống nhau. Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu mọi thứ không ngay lập tức xuất hiện trong sự thống nhất hoàn toàn. Trên thực tế, thống nhất như vậy có thể được coi là bằng chứng chống lại tính xác thực của Kinh Thánh, cho thấy rằng những trước giả đã có sự thông đồng và giả mạo.

 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ NAN GIẢI TRONG KINH THÁNH

Việc thảo luận về tất cả các vấn đề hiển nhiên trong Kinh Thánh nằm ngoài phạm vi của sách này. Có thể tham khảo một số công trình giải quyết hầu hết những sự khó hiểu, đặc biệt là những vấn đề khó hiểu thường được nêu lên để chống lại học thuyết về sự vô ngộ của Kinh Thánh. Một trong những cuốn sách đáng lưu ý nhất là Bách khoa Toàn thư về những vấn đề khó hiểu trong Kinh Thánh của Gleason Archer. Đề cập đến những vấn đề khó hiểu cũng được tìm thấy trong nhiều bài bình luận từ những người nghiên cứu. Một cái nhìn ngắn gọn về một số ví dụ và các câu trả lời được đưa ra sau đây cũng rất hữu ích.

 

Những Vấn Đề Về Lịch Sử

Một số vấn đề khó hiểu thuộc lịch sử nảy sinh từ thông tin bên ngoài Kinh Thánh, và những vấn đề khó hiểu khác bắt nguồn từ những mâu thuẫn nội bộ được khẳng đinh. Những cáo buộc từ bên ngoài Kinh Thánh thường xuất phát từ những người theo học thuyết chống lại các sự kiện siêu nhiên. Ví dụ, giả sử về sự tiến hóa của con người và nền văn hóa, một số tác giả khẳng định rằng năm cuốn sách đầu tiên của Kinh Thánh (Ngũ Kinh) không thể có từ thời Môi-se vì khi đó hầu hết mọi người đều mù chữ và Môi-se không biết viết. Nhưng sau đó Bộ luật Hammurabi được phát hiện, và vì nó được viết vào khoảng năm 1728 trước Công nguyên, nên những phản đối về quyền tác giả của Môi-se đối với bộ Ngũ kinh đã bị bãi bỏ.

Những phản đối tương tự về độ tin cậy tính lịch sử của Kinh Thánh đã được nghiên cứu khảo cổ học đánh bại. Theo nhà khảo cổ học William F. Albright, “Cho đến gần đây, đó là kiểu cách giữa các nhà sử học Kinh Thánh khi luận giải các chuỗi sự kiện về chế độ tộc trưởng trong sách Sáng thế ký như thể những câu chuyện đó là tác phẩm của những nhà viết sử Israel hoặc những câu chuyện hư cấu bằng trí tưởng tượng… Những khám phá khảo cổ học kể từ năm 1925 đã thay đổi tất cả điều này. Ngoài một số người bảo thủ trong số các học giả lớn tuổi, hiếm có nhà sử học Kinh Thánh nào không bị ấn tượng bởi sự tích lũy nhanh chóng các thông tin, dữ liệu hỗ trợ cho truyền thống gia trưởng.”

Sự tồn tại của người Hê-tít, được đề cập nhiều lần trong Kinh Thánh, đã được luận giải với thái độ nghi ngờ lớn cho đến khi thủ đô của họ được khai quật vào năm 1906 tại một nơi cách Ankara chín mươi dặm. Quy mô của thành Ni-ni-ve, “một thành rất lớn, đi mất ba ngày đường” (Giô-na 3:3) đã bị Voltaire chế giễu như một lỗi sai về địa lý. Nhưng khảo cổ học sau đó đã xác nhận đây là thông tin đúng trong Kinh Thánh.

Những lời phản đối lặp đi lặp lại, thường thường dựa trên những giả định sai lầm đã bị lật tẩy bởi những bằng chứng rõ ràng của ngành khảo cổ học. Một trong những nhà khảo cổ học được kính trọng nhất trong nửa cuối thế kỷ hai mươi, là học giả người Do Thái Nelson Glueck, đã quả quyết tuyên bố những phát hiện của ông liên quan đến độ tin cậy lịch sử của Kinh Thánh: “Thực tế là không có khám phá khảo cổ nào đã từng phủ nhận các dữ liệu trong Kinh Thánh. Nhưng chúng đưa ra các chứng cớ rõ ràng cho những thông tin từ Kinh Thánh.” Một số vấn đề của lịch sử cần thêm thông tin. Tuy nhiên không có bằng chứng nào chống lại sự vô ngộ của Kinh Thánh.

Cũng có thể giải thích hợp lý khi tất cả thông tin được nhận biết liên quan đến những mâu thuẫn lịch sử được cho là trong Kinh Thánh. Sự khác biệt trong các lời giải trình của Phúc Âm về cùng một sự việc là nguồn gốc của các vấn đề đối với một số người. Một trong những mối quan tâm phổ biến nhất là sự chối Chúa của Phi-e-rơ và tiếng gà gáy. Theo lời kể của Mác, “đêm nay, trước khi gà gáy hai lượt, ngươi sẽ chối ta ba lần” (14:30,72) trong khi Ma-thi-ơ và Lu-ca chỉ tường thuật rằng trước khi gà gáy, thì Phi-e-rơ sẽ chối Chúa ba lần (Ma-thi-ơ 26:34, 74-75; Lu-ca 22:34, 60–61).

Tuy nhiên, không có mâu thuẫn nào tồn tại ở đây. Ma-thi-ơ và Lu-ca không nói tiếng gà  gáy một lần ngược lại với Mác là hai lần. Họ chỉ đơn giản là đề cập đến tiếng gà gáy. Khi chúng ta nhớ rằng “gà gáy” là một thành ngữ chỉ về buổi sáng sớm, các giải trình này có thể được hài hòa một cách dễ dàng. Theo Mác 13:35, “chiều tối, nửa đêm, lúc gà gáy, hay là sớm mai” là bốn canh giờ trong đêm của người La Mã. Nhưng tiếng gà gáy có thể sớm hơn, từ nửa đêm trở đi. Ma-thi-ơ và Lu-ca đã cho chúng ta điểm chính về lời tiên đoán của Chúa Giê-su rằng Phi-e-rơ sẽ chối Chúa ba lần trước sáng sớm, được báo hiệu bằng tiếng gà gáy. Mặt khác, Mác thuật lại những lời Chúa Giê-su nói chi tiết hơn. Vì vậy, cả hai lời tường thuật đều đúng.

Một vấn đề tương tự thường được nêu ra liên quan đến số lượng các thiên sứ tại ngôi mộ của Chúa Giê-su. Các nhà phê bình chỉ ra rằng Ma-thi-ơ và Mác chỉ đề cập đến một thiên sứ tại mộ Chúa Giê-su (Ma-thi-ơ 28:2-5: Mác 16:5), trong khi Lu-ca và Giăng đề cập đến hai thiên sứ (Lu-ca 24:4; Giăng 20:12). Một lần nữa, không có mâu thuẫn nào ở đây, bởi vì sự hiện diện của hai thiên sứ chắc chắn không mâu thuẫn với thực tế là một thiên sứ đã có mặt. Hai giải trình có thể dễ dàng được coi là bổ sung cho nhau.

Các vấn đề về sự thay đổi trong các giải trình, chẳng hạn như những vấn đề vừa nêu ra, nói chung có thể được giải quyết nếu chúng ta ghi nhớ nguyên tắc rằng sự khác biệt có thể có nhưng mà không mâu thuẫn. Người viết có thể đã được Đức Thánh Linh hướng dẫn để đưa ra một điểm nhấn khác hoặc một phần khác của câu chuyện.

Vấn đề cũng có thể được giải quyết khi chúng ta nhận ra rằng hai sự trình bày có thể không nói về điều gì đó theo cùng một nghĩa.

Một ví dụ cho điều này liên quan đến việc liệu Giăng Báp-tít có phải là Ê-li hay không. Khi được hỏi liệu ông có phải là Ê-li không, Giăng Báp-tít trả lời: “Tôi không phải” (Giăng 1:21). Tuy nhiên, Chúa Giê-su đã tuyên bố rõ ràng rằng Giăng Báp-tít là Ê-li (Ma-thi-ơ 11:14). Tình huống khó xử này được giải quyết khi chúng ta nhận ra rằng Chúa Giê-su không ám chỉ Giăng Báp-tít và Ê-li theo cùng một ý nghĩa. Người Do Thái, nhớ rằng Ê-li đã được đem lên trời trong một cỗ xe ngựa lửa trong khi còn sống (2 Các vua 2:11), họ mong đợi cùng một Ê-li đó sẽ trở lại để ứng nghiệm lời tiên tri của Ma-la-chi (Ma-la-chi 4:5). Giăng không phải là Ê-li theo nghĩa này, và vì vậy Giăng đã đúng khi trả lời là không phải. Một phương diện khác, liên quan đến sự ra đời của Giăng, thiên sứ đã tuyên bố rằng Giăng sẽ đến “trong linh hồn và quyền năng của Ê-li” để ứng nghiệm lời tiên đoán của Ma-la-chi. Hầu biết rằng Giăng đã ứng nghiệm một cách khái quát lời tiên đoán của Ma-la-chi về Ê-li như là một người báo trước về ngày Chúa đến, nên Chúa Giê-su có thể xác định Giăng là Ê-li.

Khi đối mặt với sự khác biệt rõ ràng, chúng ta cũng phải hỏi xem Kinh Thánh đang nói về cùng một sự kiện hay một sự kiện tương tự nhưng cách nhìn khác nhau. Vì các môn đồ vẫn đặt câu hỏi rằng họ có thể kiếm đủ thức ăn ở đâu để cho bốn ngàn người ăn (Ma-thi-ơ 15:32-33) sau khi họ đã chứng kiến ​​phép lạ cho năm ngàn người ăn, nên nhiều nhà phê bình coi câu chuyện của bốn ngàn người là không có gì khác hơn là một “sự lặp lại”, hoặc sự nhắc lại của báo cáo trước đó về việc cho năm nghìn người ăn (14:15-21), mà theo họ, dẫn đến một sự mâu thuẫn rõ ràng. Tuy nhiên, không có gì ngăn cản việc hiểu rằng Ma-thi-ơ đang tường thuật hai sự việc có phần giống nhau, nhưng lại khác nhau. Trong báo cáo đầu tiên, có năm cái bánh và hai con cá, và năm ngàn người được cho ăn. Trong khi báo cáo thứ hai, thì có bảy cái bánh và một vài con cá nhỏ, và bốn ngàn người được cho ăn. Mối quan tâm của các môn đồ là thức ăn sẽ đến từ đâu sau khi Chúa Giê-su cho năm nghìn người ăn một cách kỳ diệu. Họ vẫn cảm thấy khó khăn để hiểu về các việc quyền năng của Chúa Giê-su.

Cũng cần phải nhận ra rằng những trước giả Kinh Thánh thường sử dụng các phương pháp tính toán khác với các phương pháp được sử dụng ngày nay. Điều này đặc biệt đúng đối với ngày tháng. Có một số bằng chứng cho thấy năm mới lần đầu tiên được tính là bắt đầu từ mùa thu và sau đó được đổi thành mùa xuân. Tuy nhiên, năm mới của Do Thái giáo thì bắt đầu với Lễ vượt qua vào mùa xuân. Chúng ta cũng làm điều tương tự khi sử dụng năm tài chính trong thu chi hiện nay.

Người cổ đại cũng sử dụng các phương pháp khác nhau để tính niên hiệu trị vì của các vị vua. Theo một hệ thống, bất kỳ khoảng thời gian nào của năm dương lịch đều được coi là triều đại của một năm. Ví dụ, sử dụng lịch của chúng ta, nếu một vị vua lên ngôi vào tháng 12 của một năm, thì vị vua ấy đã hoàn thành năm đầu tiên của mình vào cuối tháng 12 và bắt đầu năm thứ hai vào ngày 1 tháng một. Theo một hệ thống khác, thì năm cai trị đầu tiên sẽ được tính bắt đầu từ tháng Giêng mà không kể đến tháng nào của năm trước nhà vua đã trị vì.

Các nhà ghi chép cổ đại của vùng Cận Đông cũng không lập danh sách theo thứ tự niên đại về những người cai trị của họ như chúng ta ngày nay. Họ chỉ đơn giản liệt kê các triều đại của từng vị vua liên tiếp mà không đồng bộ hóa chúng với nhau. Các triều đại của một số vua Y-sơ-ra-ên chồng chéo lên nhau. Khi những quan điểm cốt lõi này được công nhận, các vấn đề khó hiểu về niên đại được cho là sẽ biến mất.

Các trước giả Kinh Thánh đôi khi di chuyển các trình tự thời gian trong việc ghi  các sự kiện lịch sử; họ thực hiện mục đích này nhằm phát triển các chủ đề cụ thể. Tuy nhiên, thực tế niên đại là mối quan tâm thứ yếu đối với họ nhưng không có nghĩa là họ không quan tâm đến tính chính xác. Như Craig Blomberg nói, “Một phân tích cẩn thận cho thấy rằng không có hai sách Phúc âm nào mâu thuẫn với nhau về niên đại cả.” Hơn nữa, tính chính xác của Kinh Thánh ngày càng được các học giả gần đây kiểm chứng.

Những vấn đề khó hiểu khác trong Kinh Thánh là do sai sót của những người sao chép. Như đã thảo luận ở phần sau, các bản chép tay từ các bản Kinh Thánh hiện tại của chúng ta được dịch ra rất gần với các tác phẩm gốc, nhưng chúng vẫn là bản sao. Không có máy in ấn và các phương tiện sao chép hiện đại khác. Các thầy thông giáo đã sao chép Kinh Thánh nhiều lần bằng tay. Trừ khi chúng ta đặt ra khả năng tuyệt vời của những người sao chép tương tự như nguồn cảm hứng của các trước giả, con người không thể tạo ra dù chỉ một bản sao hoàn hảo. Ngay cả với các kỹ năng kỹ thuật về chương trình kiểm tra lỗi chính tả của máy tính và các công cụ hỗ trợ khác, bao gồm cả những người hiệu đính lành nghề, thì các lỗi vẫn có thể xảy ra. Người ta chỉ nghĩ đến việc đọc các tài liệu viết tay, nhưng một số tài liệu đã bị sờn và bị ố vàng do sử dụng, và việc sao chép chúng một cách hoàn hảo lại nhận ra sự bất khả thi để có các bản sao hoàn hảo.

Việc xem xét cẩn thận các bản sao đầu tiên của Kinh Thánh cho thấy bằng chứng về những sai lầm điển hình đã mắc phải khi sao chép một tài liệu. Việc bỏ sót các chữ cái hoặc từ cần thiết (lối viết lược bớt âm tiết trùng nhau) có thể dễ dàng xảy ra. Các từ bị bỏ sót khi mắt người sao chép trượt xuống từ dòng này sang dòng khác. Việc chuyển đổi vị trí của các từ cũng có thể dễ dàng xảy ra, như có thể xảy ra trong 2 Sa-mu-ên 8:17, “Xa-đốc, con trai A-hi-túp, và A-hi-mê-léc, con trai A-bia-tha, làm thầy tế lễ” trong đó A-hi-mê-léc được cho là con trai của A-bia-tha trong khi 1 Sa-mu-ên 22:20 nói ngược lại, “một trong các con trai của A-hi-mê-léc, cháu của A-hi-túp, tên là A-bia-tha.” A-bia-tha ở câu này là con trai của A-hi-mê-léc.

Chính hình thức viết bằng tay làm tăng thêm sự khó hiểu trong việc tạo ra các bản sao hoàn hảo. Ví dụ, một số chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Do Thái có bề ngoài khá giống nhau. Trong chữ viết tay, có thể dễ nhầm lẫn một số chữ cái này, cũng giống như chữ “r” và “n” đôi khi rất khó phân biệt trong chữ viết tay của một số nhà văn viết tiếng Anh. Mặc dù các con số được viết bằng chữ trong văn bản tiếng Do Thái, nhưng có bằng chứng về hệ thống các dấu hiệu bằng con số ban đầu trong thời kỳ Cựu Ước. Các nét dọc được sử dụng để biểu thị các chữ số và các nét ngang để biểu thị hàng chục, được viết một nét bên trên chữ kia để cho bội số của mười. Trong một hệ thập phân như vậy, có thể dễ dàng thấy những sai lầm vô ý có thể được thực hiện như thế nào ngay cả khi chúng ta có thể dễ dàng bỏ đi hoặc thêm một số không vào một số lớn. Sau đó, thì các chữ cái trong bảng chữ cái cũng được sử dụng cho các con số, do đó khiến các con số có thể bị sao chép một cách sai trật vì chữ cái này bị nhầm lẫn với chữ cái khác trong một tài liệu bị ố vàng hay hư hỏng.

Một ví dụ rõ ràng được tìm thấy trong các con số được ghi trong 2 Các Vua 24:8 và 2 Sử Ký 36:9. Theo lời kể của các vua, Giê-hô-gia-kin trở thành vua khi mới mười tám tuổi và trị vì ba tháng trước khi bị lưu đày. Tuy nhiên, câu này trong sách Sử ký nói rằng ông ta chỉ mới tám tuổi khi ông ta bắt đầu trị vì, và ông ta đã trị vì ba tháng mười ngày. Đây rõ ràng là một mâu thuẫn do lỗi của người sao chép. Vì số mười tám được viết bằng tiếng Do Thái là “tám” và “mười”, có vẻ như rõ ràng là “mười” đã bị đặt sai vị trí. Chính xác là nó đã được kết hợp với tám trong số mười tám trong sách Các vua—tạo ra số mười tám—nhưng nó đã bị bỏ qua trong sách Sử ký. Trên thực tế, một số bản viết tay tiếng Hy Lạp và tiếng Sy-ri của 2 Sử ký 36:9 ghi lại rằng Giê-rô-bô-am mới là mười tám tuổi, như trong 2 Các Vua 24:8.

Trong một số trường hợp, việc sao chép được thực hiện bởi người ghi chép bằng cách là có người khác đọc to bản văn gốc. Vấn đề là một số từ nghe giống nhau khi phát âm bằng lời nói, nhưng có cách viết và nghĩa khác nhau trong tiếng Do Thái và tiếng Hy Lạp và điều này có thể dễ dàng giải thích vì một số lỗi khi sao chép.

Hầu hết các sự khác biệt được nói đến trong Kinh Thánh thì liên quan đến những cái tên, ngày tháng hoặc con số. Đây là những điều dễ dẫn đến sự sai lạc nhất vì chúng không thể được xác định từ bối cảnh. Đó là, “tên, ngày tháng và con số cụ thể là những mục không thể được dự đoán về mặt ngữ pháp trong một câu, hoặc được nhớ bởi lý do của trật tự từ hoặc ý nghĩa chung.” Ví dụ, nếu chúng ta đang sao chép một câu có tên thị trưởng của một thành phố, chúng ta có thể dễ dàng viết “Joe” thành “John” nếu chúng ta không biết về ông ta một cách cá riêng tư. Cả hai đều phù hợp với câu. Mặt khác, nếu chúng ta đang sao chép một câu về nữ hoàng, chúng ta sẽ không viết “Joe” hoặc “John” bởi vì chúng ta sẽ cảm nhận được ngay điều gì đó phi lô-gíc và sẽ kiểm tra lại những gì chúng ta đang viết. Điều này cũng đúng với các con số và ngày tháng. Chúng ta có thể dễ dàng viết năm 1046 thay vì 1064 cho một sự kiện mà bản thân chúng ta không hề biết đến. Nhiều sai sót trong việc truyền tải các tài liệu Cựu Ước nằm trong những lĩnh vực này vì không có ý nghĩa cụ thể đối với người sao chép. Mặc dù vậy, so với hầu hết các tác phẩm cổ đại có độ dài đáng kể khác, thì Kinh Thánh chứa đựng tương đối ít câu hỏi liên quan ngay cả trong những lĩnh vực này.

 

Những Vấn Đề Về Khoa Học

Hầu hết những vấn đề được gọi là khoa học trong Kinh Thánh đều bắt nguồn từ cách tiếp cận thực tế là loại trừ những sự kiện siêu nhiên. Phép lạ bị bác bỏ cho rằng như là chuyện thần thoại vì chúng mâu thuẫn với các quy luật tự nhiên. Tuy nhiên, khi sự tồn tại của Đức Chúa Trời được chấp nhận, chúng ta không có lý do chính đáng nào để phủ nhận sự can thiệp siêu nhiên của Ngài.

Vì sự tiến hóa chưa bao giờ được chứng minh một cách khoa học, nên không có cơ sở nào để buộc tội Kinh Thánh sai lầm khi tuyên bố về sự sáng tạo. Các nhà khoa học tin cậy Kinh Thánh và ngày càng có nhiều người khẳng định rằng thuyết tiến hóa chỉ là một lý thuyết chưa được chứng minh. Vài năm trước Gerald A. Kerkut, đã viết tác phảm Những Tác Động của Sự Tiến Hóa (Elmsford, NY: Pergamon, 1960). Trong đó, ông đưa ra bảy nguyên tắc cơ bản của thuyết tiến hóa. Theo Kerkut, không điều nào trong số bảy điều này đã từng được chứng minh. Gần đây, với sự hiểu biết ngày càng tăng về thiết kế tuyệt vời của các dạng sống và sự phụ thuộc lẫn nhau được hiệu chỉnh, tính hợp lý của thuyết tiến hóa càng bị đặt nhiều nghi vấn.

Một số tuyên bố mang tính biệt lập đôi khi được nêu lên như là ví dụ cho thấy Kinh Thánh thiếu kiến thức chính xác về khoa học. Một trong những trường hợp kinh điển là lời Chúa Giê-su tuyên bố rằng hạt cải “nhỏ hơn tất cả các loại hạt khác” (Ma-thi-ơ 13:32). Vì các nhà thực vật học biết rằng hạt phong lan nhỏ hơn, họ nói rằng Chúa Giê-su đã nhầm. Tuy nhiên, trong số những hạt giống mà người Do Thái gieo trong vườn hoặc ruộng của họ, hạt cải là hạt nhỏ nhất. Theo Gleason Archer, “Chưa ai chứng minh được rằng người Palestine cổ đại đã trồng bất cứ thứ gì có hạt nhỏ hơn hạt cải đen”. Vì vậy, nó trở thành tục ngữ khi nói nó là hạt giống nhỏ nhất (17:20; Lu-ca 17:6), và tuyên bố của Chúa Giê-su phải được hiểu trong khung cảnh này. Tuyên bố của Ngài chỉ có thể bị buộc tội nếu Ngài có ý định đưa ra một tuyên bố khoa học bao hàm tất cả các mầm sống của mọi tạo vật.

Một số người cũng thấy một lỗi của lời tuyên bố của trong Lê-vi Ký 11:6 rằng con thỏ “nhai lại”. Có thể có một số giải thích. Đúng như vậy, thỏ không nhai thức ăn bằng cách nuốt thức ăn mà không nhai kỹ và sau đó sẽ nôn ra để nhai kỹ hơn. Tuy nhiên, chuyển động quai hàm của nó tương tự như chuyển động của các loài động vật nhai lại. Cũng có thể thuật ngữ tiếng Do Thái được dịch là “nhai lại” không có nghĩa chính xác với ý nghĩa của chúng ta thường hiểu. Lạc đà và  thỏ cũng được cho là loài nhai lại, nhưng về mặt kỹ thuật thì chúng không làm như vậy. Cuối cùng, một số nhà sinh vật đã giải thích rằng loài thỏ tham gia một quá trình tiêu hóa kỳ lạ. Đôi khi chúng đi ra phân rồi sau đó ăn lại lần nữa. Một số loại thực phẩm khó tiêu hóa được vi khuẩn tác động trong lần đầu tiên đi qua ruột và sau đó có thể được tiêu hóa tốt hơn ở lần thứ hai. Như vậy thỏ đang “nhai lại”.

Khi các câu nói trong Kinh Thánh được hiểu với ý nghĩa dự định, thì không một câu nào trong số đó được chứng minh là sai. Điều này càng tuyệt vời hơn khi chúng ta xem xét về nhiều lỗi kỹ thuật xuất hiện trong các tác phẩm của con người cổ đại.

 

Các Vấn Đề Về Tín Lý và Đạo Đức

Trong hầu hết các trường hợp, các câu hỏi về những tuyên bố đối với tín lý và đạo đức trong Kinh Thánh sẽ dễ dàng được giải quyết khi chúng ta hiểu biết cách đầy đủ những gì Kinh Thánh thực sự muốn nói. Tuy nhiên, trong những trường hợp khác, vấn đề khó hiểu nảy sinh khi có người chỉ trích Kinh Thánh chỉ đơn giản là không đồng ý với vấn đề đạo đức của Kinh Thánh.  Có thể ghi nhận những điều này chỉ là những vấn đề đối với sự soi dẫn nếu chúng ta cho rằng quan điểm của người phản đối là đúng.

Sự xúi giục về việc kiểm tra dân số của Đa-vít thường được coi là một mâu thuẫn thần học. Trong 2 Sa-mu-ên 24:1, “Cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va lại nổi phừng cùng dân Y-sơ-ra-ên. Ngài giục lòng Đa-vít nghịch cùng chúng, mà rằng: Hãy đi tu bộ dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.” Chúng ta đọc thấy Đức Chúa Trời đã xúi giục Đa-vít kiểm tra dân số Y-sơ-ra-ên và Giu-đa. Tuy nhiên, trong 1 Sử-ký 21:1, “Sa-tan dấy lên muốn làm hại cho Y-sơ-ra-ên, bèn giục Đa-vít lấy số Y-sơ-ra-ên.”  Ở đây Sa-tan được cho là đã xúi giục Đa-vít kiểm tra dân số Y-sơ-ra-ên. Một số người nói rằng đây là dấu hiệu của hai môn thần học khác nhau, một là Đức Chúa Trời kiểm soát thế giới và hai là Sa-tan kiểm soát. Một nhà phê bình khác tin rằng người chép sử đã sửa lại lời tuyên bố trước đó của Sa-mu-ên. Rõ ràng là ông không tin rằng Đức Chúa Trời đã xúi giục Đa-vít thực hiện một cuộc điều tra dân số để bày tỏ sự tức giận của Ngài đối với Y-sơ-ra-ên.

Tuy nhiên, câu trả lời cho chuyện này không khó, khi chúng ta hiểu về mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và Sa-tan. Đức Chúa Trời thường cho phép Sa-tan thực hiện những việc làm xấu xa của nó vì một mục đích lớn hơn. Vì vậy, Đức Chúa Trời trong trường hợp này được trình bày như là nguyên nhân cuối cùng khiến Sa-tan thúc giục Đa-vít thực hiện hành động này. Các tình huống song song được tìm thấy trong việc Đức Chúa Trời cho phép Sa-tan tấn công Gióp (Gióp 1:12; 2:6) và trong việc Ngài sai ác linh đến gây rắc rối cho Sau-lơ (1 Sa-mu-ên 16:14). Điều cần nhớ là đối với các trước giả Kinh Thánh, không có gì nằm ngoài quyền tể trị của Đức Chúa Trời.

Để tìm kiếm giải pháp cho những vấn đề như vậy, điều quan trọng là chúng ta phải hiểu biết đầy đủ về sự dạy dỗ trong Kinh Thánh về một chủ đề nhất định. Một câu Kinh Thánh thường đưa ra một mặt của vấn đề, và một câu khác nhìn nó từ một khía cạnh khác. Trong khi hai bên có vẻ mâu thuẫn, nhưng trên thực tế, chúng là một phần của toàn bộ sự thật.

Chúng ta cũng phải tìm cách để hiểu các từ trong ngữ cảnh riêng của chúng. Vấn đề khó hiểu được cho là giữa Phao-lô và Gia-cơ về việc biện luận có thể dễ dàng giải quyết khi chúng ta xem xét cách họ sử dụng những từ ngữ tương tự nhau. Phao-lô tuyên bố rằng chúng ta được xưng công bình bởi đức tin mà không cần việc làm (Rô-ma 4:5; Ê-phê-sô 2:8-9), nhưng Gia-cơ tuyên bố rằng sự xưng công bình đến bởi đức tin và việc làm (Gia-cơ 2:24). Tuy nhiên, nếu chúng ta xem xét việc sử dụng các từ “đức tin” và “việc làm”, chúng ta thấy rằng sự biện luận của Gia-cơ và Phao-lô về các từ này không có nghĩa hoàn toàn giống nhau.

Gia-cơ đã sử dụng từ “đức tin” theo hai nghĩa. Theo một nghĩa nào đó, nó có nghĩa là loại niềm tin đồng ý mà ngay cả ma quỷ cũng có (2:19). Ông nói, đức tin hay niềm tin như vậy là không đủ khả năng để được cứu rỗi. Thay vào đó, nó phải là một đức tin đang sống và đưa ra bằng chứng trong cuộc sống về các việc làm. “Việc làm” đối với Gia-cơ là việc thực hành đức tin cứu rỗi.

Mặt khác, đức tin mà Phao-lô muốn nói là một niềm tin thực sự của vấn đề trong hành động. Ông nói về một đức tin hành động thông qua tình yêu thương (Ga-la-ti 5:6). Khi phản đối “việc làm” để được cứu rỗi, Phao-lô muốn nói đến những việc làm có tính chất hợp pháp mà mọi người có thể đạt được.

Vì vậy, khi chúng ta xem xét ý nghĩa của những từ này trong ngữ cảnh của chúng, cả Phao-lô và Gia-cơ đều tin như vậy. Mỗi người đều nhấn mạnh một khía cạnh nhất định của lẽ thật. Phao-lô tin rằng các cá nhân chỉ được cứu bởi đức tin, một đức tin sống và hành động. Gia-cơ cũng tin rằng mọi người được cứu bởi đức tin, đức tin này còn hơn cả sự đồng tình về mặt lý trí – một đức tin có việc làm.

Một số nhà phê bình nói rằng Cựu Ước cho phép chế độ đa thê, trong khi Tân Ước thì không. Trong khi Cựu Ước trình bày rằng một số dân sự của Đức Chúa Trời bao gồm cả những người lãnh đạo có nhiều hơn một người vợ, nhưng Kinh Thánh không bao giờ dạy rằng đây là ý định của Đức Chúa Trời đối với hôn nhân. Trên thực tế, Kinh Thánh cung cấp nhiều bằng chứng cho thấy đây không phải là ý muốn của Đức Chúa Trời.

Một vấn đề khác liên quan đến mạng lệnh của Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên là phải tiêu diệt kẻ thù khi đã chinh phục Đất Hứa (Phục. 20:16-18). Và rất nhiều Thi thiên ghi lại những lời cầu nguyện rằng Đức Chúa Trời sẽ tiêu diệt kẻ thù của họ (ví dụ, Thi. 55, 59, 79, 109, 137). Những đoạn văn này dường như đang bày tỏ cho những hành động và thái độ trái với đạo đức, và chúng dường như mâu thuẫn với những câu nói rằng những người tin Chúa phải yêu kẻ thù của họ (Lu-ca 6:35–36).

Một số yếu tố có thể được nhận thấy về những vấn đề được cho là vô đạo đức này. Trong suốt Kinh Thánh, Đức Chúa Trời không chỉ được xem là Đức Chúa Trời của tình yêu thương vô hạn, mà còn là Đức Chúa Trời của sự phán xét công bình. Chắc chắn không có sự thay đổi nào giữa Cựu Ước và Tân Ước khi chúng ta xem xét thực tế của sự phán xét trong tương lai đã được báo trước một cách rõ ràng trong Tân Ước (Khải. 19:11-21). Trên thực tế, Chúa Giê-su nói về sự hủy diệt đời đời dành cho những người từ chối Đức Chúa Trời hơn bất kỳ trước giả Tân Ước nào.

Những tiếng kêu cứu đòi sự báo thù của Đức Chúa Trời, mà những người viết Thi thiên nêu lên để chống lại kẻ thù là bằng chứng về việc dân sự nhận thức sự công bình và lẽ thật của Đức Chúa Trời. Họ chỉ ra thời điểm mà tội lỗi sẽ bị hạ gục và sự công bình sẽ chiến thắng.

Mạng lịnh của Đức Chúa Trời là giết người Ca-na-an sẽ dễ hiểu hơn khi chúng ta nhận ra mức độ sự sa đọa của họ. Đức Chúa Trời chống lại họ khi tội lỗi của họ đạt đến một mức độ cao không thể phục hồi (Sáng. 15:16; Lêvi. 18:24–30). Và rồi, vì họ nghiện tất cả các hình thức tội lỗi gớm ghiếc đã tiêm nhiễm vào xã hội, Đức Chúa Trời đã đưa ra phán xét trên họ thông qua dân sự của Ngài. William Arndt mô tả trường hợp này là đúng.

Các bộ lạc Ca-na-an thể hiện những thói xấu xa vô đạo đức đã làm cho cái chén tội lỗi của họ gia tăng đến tràn trề. Khi hình phạt đến, nó giáng xuống tất cả cư dân, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em. Lỗi không phải là của Đức Chúa Trời; họ đã tự biến mình trở thành những người chà đạp dưới chân các luật công bằng và chính trực. Hãy hình dung thế này: khi những người đàn ông đưa bản thân và gia đình họ lên một con tàu, rồi chèo thuyền ra biển để có một chuyến đi chơi vui vẻ, và biến con tàu đó trở thành một nơi đầy dẫy sự gớm ghiếc và trụy lạc, và sau đó tất cả đều chết trong một cơn bão rất mạnh bất ngờ ập xuống họ, ai là người đáng trách? Bạn sẽ buộc tội Đức Chúa Trời vì đã không phân biệt đối xử giữa người lớn và trẻ em? Một khía cạnh đáng sợ của tội lỗi là sự khốn nạn mà nó tạo ra giống như một cơn xoáy nước, mà sức hút của nó sẽ hút mọi vật thể gần đó xuống đáy sâu. Đó là phụ nữ Ca-na-an phóng túng và là công cụ khiến dân Y-sơ-ra-ên rời bỏ con đường chân lý và sự trong sạch, hay là đối với những đứa trẻ thà chết từ khi còn nhỏ hơn là khi lớn lên sẽ trở thành như những kẻ sùng bái thần tượng và trụy lạc?

Khi chúng ta xem xét cách đầy đủ bản chất đạo đức của Đức Chúa Trời như đã được dạy trong Kinh Thánh, thì những phân đoạn này không còn gây ra vấn đề khó khăn gì nữa. Người Ca-na-an đối diện với thực tế nghiêm khắc của sự phán xét; những điều họ làm chỉ có thể được gọi là vô đạo đức đến nỗi Đức Chúa Trời không thể chấp nhận.

 

BẢN VĂN GỐC VÔ NGỘ KHÔNG CÒN?

Một phản đối quan điểm về Kinh Thánh không thể sai lầm là chúng ta không sở hữu các bản gốc của Kinh Thánh? Các bản chép tay bằng tiếng Do Thái và tiếng Hy Lạp của Kinh Thánh mà chúng ta sở hữu không phải là bản sao hoàn hảo của bản gốc, vì vậy chúng ta không có một văn bản hoàn toàn vô ngộ để nhận xét. Một số người cho rằng không thể tranh cãi về tính không sai lầm của Kinh Thánh khi mà chúng ta đơn giản là không có cuốn Kinh Thánh gốc như vậy.

Mặc dù lúc đầu suy luận này có vẻ hợp lý, nhưng suy nghĩ sâu hơn thì thấy rằng nó đã bỏ qua các sự kiện quan trọng. Thứ nhất, niềm tin của chúng ta vào sự soi dẫn không thể sai lầm không phụ thuộc vào nhu cầu tạo ra bản văn gốc của Kinh Thánh. Thay vào đó thì niềm tin của chúng ta dựa vào lẽ thật mà Đấng Christ và các trước giả Kinh Thánh viết.

Thứ hai, niềm tin vào sự vô ngộ của Kinh Thánh vẫn có đối với chúng ta ngay cả khi bản Kinh Thánh gốc ban đầu đã không còn. Thước bàn và thước cuộn của chúng ta không chính xác tuyệt đối; chúng là những giá trị gần đúng với các tiêu chuẩn tổng thể được duy trì bởi Cục Tiêu chuẩn Quốc gia ở Washington, D.C. Chúng ta có thể không nhận biết rằng có một tiêu chuẩn như vậy tồn tại; tuy nhiên, thước bàn và thước cuộn của chúng ta có giá trị bởi vì chúng dựa trên một tiêu chuẩn tuyệt đối. Tương tự như vậy, những cuốn Kinh Thánh hiện tại của chúng ta—ngay cả với những sai sót nhỏ—vẫn có giá trị vì có một tiêu chuẩn tuyệt đối đằng sau chúng.

Niềm tin vào sự vô ngộ của các bản chép tay nguyên thủy của Kinh Thánh là sự kiểm soát cuối cùng trong việc chúng ta tìm kiếm một hướng dẫn tuyệt đối đáng tin cậy về lẽ thật. Nếu chúng ta tin rằng Kinh Thánh nguyên bản là không thể sai lầm, thì chúng ta chỉ có thể tự do thay đổi các bản dịch Kinh Thánh ở những nơi mà khoa học nghiên cứu nguyên bản khiến chúng ta tin rằng sự thay đổi đó đưa chúng ta đến gần hơn với các bản văn gốc. Những người không tin rằng các nguyên bản là vô ngộ thì cảm giác rằng họ có thể bác bỏ bất kỳ điều gì trong Kinh Thánh mà họ cho là sai. Việc tin rằng các bản chép tay gốc của Kinh Thánh là vô ngộ sẽ ảnh hưởng đến thái độ của chúng ta đối với Kinh Thánh và việc chúng ta sử dụng Kinh Thánh.

Chúng ta cũng phải nhớ rằng Kinh Thánh hiện tại của chúng ta gần với nguyên bản như thế nào. Chúng ta đã nói về những khác biệt nhỏ nhất định trong các bản sao cổ mà chúng ta sở hữu. Nhưng số lượng lớn các bản sao đang tồn tại và độ tin cậy chung của những người sao chép đã giúp các học giả có thể xác định chắc chắn việc đọc bản văn gốc ở hầu hết mọi nơi.

Douglas Stuart đã tóm tắt tình hình liên quan đến những từ gốc của Kinh Thánh. “các nhà nghiên cứu lập luận rằng 99 phần trăm các từ gốc trong Tân Ước có thể khôi phục được với mức độ chính xác rất cao. Trong trường hợp của Cựu Ước, con số này có thể là 95 phần trăm. Khi những từ có thể khôi phục được với mức độ chính xác rất cao được thêm vào, chúng ta có thể tự tin rằng chúng ta có thể đọc, suy ngẫm và hành động dựa trên những gì thực tế tương đương với bản gốc.”

Một số người có thể hỏi, “Tại sao Đức Chúa Trời trong sự quan phòng của Ngài lại không lưu giữ các bản sao gốc để dân sự Ngài sở hữu chúng trong suốt lịch sử?” Tất nhiên, câu trả lời cho câu hỏi này là chỉ có Đức Chúa Trời biết. Tuy nhiên, có hai suy nghĩ, rất hữu ích. Nếu các bản sao gốc tiếp tục tồn tại, dân sự của Đức Chúa Trời có thể đã tôn vinh chúng như những di vật và thờ phượng chúng như họ đã từng làm con rắn bằng đồng mà cuối cùng Ê-xê-chia đã phá hủy (2 Vua. 18:4). Ngoài ra, nghi ngờ về việc liệu một bản sao cụ thể có thực sự là từ bản gốc không sẽ chắc chắn nảy sinh và không bao giờ có thể được giải quyết, khiến cho việc chắc chắn là không thể. Một người thông minh thậm chí có thể thay đổi bản văn. Vì vậy, sở hữu các tác phẩm gốc có thể là một nguồn tranh cãi không hồi kết hơn là một phước lành.

 

SỰ SUY XÉT SAU CÙNG

Khi xem xét những vấn đề khó hiểu ở trong Kinh Thánh, chúng ta nên ghi nhớ:

 

Các Vấn Đề Nhỏ

Khi chúng ta xem xét Kinh Thánh – được viết cách đây rất lâu bởi hơn bốn mươi trước giả trong khoảng thời gian mười sáu thế kỷ – khả năng sai sót và sai lệch dường như là chắc chắn. Những sai sót trong việc tường thuật lịch sử, trong việc giải thích các hiện tượng, trong các học thuyết tâm linh, sự cường điệu…, tất cả đều có thể dễ dàng được hình dung trong một tác phẩm như Kinh Thánh. So với vô số sai sót trong tác phẩm của các tác giả cổ đại, thì Kinh Thánh không gặp khó khăn khi chứng minh bản thân nó là đáng tin cậy. Nhận xét sau đây của Saphir được trích trong Eric Sauer rất đáng xem xét. “Môi-se đã được học biết tất cả sự khôn ngoan của người Ai Cập. Điều gì đã bảo toàn ông khi viết Ngũ kinh, ông không chấp nhận niên đại của người Ai Cập cổ đại mà sau này Manetho chắc chắn đã ghi lại trong các tác phẩm của mình và được cho là bắt đầu từ 30.000 năm trước Đấng Christ? Điều gì đã ảnh hưởng đến Đa-ni-ên, người giỏi về khoa học tự nhiên bịt tai trước những câu chuyện ngụ ngôn quái dị của người Canh-đê về sự sáng tạo ra thế giới? Phao-lô chắc chắn đã học về khoa học trong thời đại của mình. Tại sao chúng ta không tìm thấy điều gì trong các bài phát biểu hoặc các bức thư của ông giống như việc Augustine bác bỏ học thuyết về các sự tương phản, phủ nhận quan điểm của Ambrose cho rằng mặt trời tự hút nước để nó có thể tự làm mát và làm mới khỏi sức nóng phi thường của nó?”

 

Nhiều Khó Khăn Đã Được Loại Bỏ

Một thực tế thứ hai cần nhớ là khi hiểu biết của chúng ta về thế giới cổ đại ngày càng tăng, thì số lượng các vấn đề trong Kinh Thánh đã giảm xuống. Như đã đề cập ở trên, nhiều vấn đề của Kinh Thánh được nêu ra nhầm chống lại tính trung thực của nó đã đi theo một hướng khác. Thực tế này sẽ khiến bất kỳ ai do dự khi khẳng định một sai sót đã được chứng minh ngày nay trừ khi người ấy chuẩn bị tuyên bố rằng anh ta có dữ liệu đầy đủ liên quan đến mọi thứ có liên quan đến một vấn đề cụ thể và cách giải thích của anh ta về dữ liệu đó là không thể sai. Chúng ta nên xem xét kỹ các vấn đề chưa được giải quyết, nhận ra rằng khi tất cả dữ liệu được thông hiểu, thì bản văn Kinh Thánh sẽ được coi là trung thực.

 

Không Cần Thiết Để Giải Quyết Tất Cả Các Vấn Đề Trong Kinh Thánh

Những vấn đề trong Kinh Thánh đã và sẽ không còn nghi ngờ gì nữa sẽ tiếp tục được giảm bớt nhờ sự gia tăng kiến thức nên khiến tín nhân hài lòng với việc không thể giải quyết được tất cả các vấn đề ngày nay. Nó cũng khuyến khích chúng ta không nên cố gắng đưa ra các hình thức gượng giải để giải thích về sự vô ngộ của Kinh Thánh. Lời khuyên của Benjamin Warfield rất hữu ích, “khả năng của mỗi cá nhân chúng ta trong các diễn giải thích hợp, khả năng hiểu biết của cá nhân không phải là thước đo của chân lý. Nếu chúng ta không thể hòa hợp mà bị căng thẳng, thì chúng ta nên hãy để yên đó sự không hài hòa.” Giáo lý về tính vô ngộ của Kinh Thánh không phụ thuộc vào khả năng chứng minh điều đó của chúng ta, mà dựa vào sự dạy dỗ của chính nó về nguồn soi dẫn đầy trọn của Đức Chúa Trời. Lập trường của Packer đối với vấn đề này là đáng khen ngợi đối với tất cả những người tin. “Không phải nghi ngờ gì về việc Kinh Thánh nói đúng, nhưng chính xác thì chúng ta nên nói gì về những nhân vật và sự kiện được đề cập đến trong Kinh Thánh.  Tôi không tin rằng sự tôn vinh Đức Chúa Trời đòi hỏi tôi phải có mọi câu trả lời.”

 

KẾT LUẬN

Như chúng ta đã thấy trong các chương trước, Kinh Thánh xác nhận nó là sản phẩm từ sự hà hơi của Đức Chúa Trời (2 Tim. 3:16) và do đó toàn bộ Kinh Thánh là lẽ thật. Những tuyên bố như vậy, cũng như bằng chứng tràn ngập về nguồn gốc siêu nhiên của Kinh Thánh, đã khiến hầu hết các tín nhân trong suốt lịch sử của hội thánh tin cậy vào sự vô ngộ tuyệt đối của Kinh Thánh.  Khi gặp những sự khó hiểu mà họ không thể giải thích được, thái độ của họ giống như của Augustine được bày tỏ trong một bức thư gửi Jerome, “và nếu trong những bài viết này, tôi cảm thấy bối rối bởi bất cứ điều gì có vẻ trái ngược sự thật đối với tôi, tôi không ngần ngại cho rằng hoặc bản sao chép bị lỗi, hoặc người dịch không hiểu được ý nghĩa của những gì đã viết, hoặc bản thân tôi đã không hiểu được nó.”

Thái độ của Augustine bày tỏ là một thái độ tin cậy nên sẽ tác động đến sự tiếp cận của chúng ta đối với Kinh Thánh. Dựa vào tất cả các bằng chứng, chúng ta nên sẵn lòng tin tưởng vào tính trung thực của Kinh Thánh mặc dù chúng ta không thể giải thích mọi thứ. Như William Arndt lưu ý, sự tin tưởng như vậy là phù hợp, vì mối quan hệ của chúng ta với tư cách là những con người hữu hạn, là những tội nhân trước mặt Cha thiên thượng. “Một đứa trẻ lễ phép, ngoan ngoãn, đáng yêu sẽ làm gì khi nghe người cha đưa ra một tuyên bố? Thay vì chỉ trích và lên án lời nói của người cha là sai, thì đứa trẻ sẽ yêu cầu người cha giải thích. Nếu chúng ta tìm thấy những vấp váp trở ngại trong Kinh Thánh, thì chúng ta hãy giữ thái độ của một đứa trẻ đáng yêu như vậy.” Tôi có thể nói thêm rằng ngay cả khi người cha vì lý do chính đáng nào đó quyết định không đưa ra lời giải thích vào lúc đó, thì sự tin tưởng của đứa con vẫn luôn vâng phục.

Việc xem xét một cách thẳng thắn tất cả những gì Kinh Thánh dạy sẽ khiến chúng ta tin vào tính vô ngộ của Kinh Thánh.

 

 

  1. Hội Thánh Tin Điều Gì Về Kinh Thánh?

 

 

 

 

CÁC TÍN HỮU NGÀY NAY đứng trong truyền thống lâu đời của đức tin. Lẽ thật của phúc âm mà hội thánh được xây dựng là thuộc về chúng ta hôm nay bởi vì  nhiều tín hữu đã nhanh chóng nắm giữ một phúc âm được mô tả là ”đức tin đã truyền cho các thánh đồ một lần đủ cả” (Giu-đe 3). Như chúng ta đã thấy trong các chương trước, thì trong suốt thời kỳ Kinh Thánh, dân sự của Đức Chúa Trời tin rằng Kinh Thánh là sự mặc khải của Đức Chúa Trời, do Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã phán qua ngòi bút của các trước giả. Kể từ thời Tân Ước, hội thánh có tiếp tục chấp nhận Kinh Thánh theo cách tương tự không?

 

Nhiều người bác bỏ tính trung thực của Kinh Thánh. Họ cho rằng tín lý “không thể sai lầm” của Kinh Thánh được những nhà truyền giáo phúc âm giảng dạy thì không phải là quan điểm của Cơ đốc giáo.”1 Người ta lập luận rằng ý tưởng về sự không thể sai lầm này bắt nguồn từ nhiều áp lực khác nhau của giáo hội sau Cuộc cải chánh. Sự xung đột với tòa thánh Rô-ma về việc liệu giáo hội hay Kinh Thánh là thẩm quyền tối hậu cho tìn nhân. Sự xuất hiện của khoa học và thời đại của chủ nghĩa duy lý gắn liền với thời đại khai sáng được cho là đã khiến nhiều nhà thần học chính thống tán thành tính “không thể sai lầm” của Kinh Thánh.

 

Thời hiện đại, “sự kiên định mạnh mẽ về tính “không thể sai lầm” của Kinh Thánh trong lĩnh vực khoa học và dữ kiện lịch sử” thì được cho là có liên quan đến “lối tư duy hiện đại” và “có sự khác biệt lớn so với lối tư duy của người Hê-bơ-rơ cổ đại.”2 Theo những người phản đối sự không thể sai lầm của Kinh Thánh cho rằng khi các giáo phụ của Hội thánh khẳng định sự “không thể sai lầm” thì họ chỉ nói về lẽ thật thuộc linh liên quan đến sự cứu rỗi chứ không nói về các chi tiết lịch sử, khoa học và địa lý. Theo lời của một người ủng hộ quan điểm này, “Các giáo phụ đã … tin rằng Kinh Thánh thì không thể sai lầm… và Kinh Thánh là cái kho lưu trữ điều “không thể sai lầm” về sự mặc khải.”Theo cách hiểu này, khi Đức Chúa Trời bày tỏ lẽ thật về sự cứu rỗi thì Ngài đã chấp nhận những quan điểm đương thời của các trước giả về các vấn đề khác. Kinh Thánh là vô ngộ nhưng các bản sao chép của con người thì có thể sai lầm ở một số chương sách.

 

 

 

 

HỘI THÁNH BAN ĐẦU

 

 

Câu hỏi về thẩm quyền và tính “không thể sai lầm” của Kinh Thánh đã không nhận được sự giải thích rõ ràng có hệ thống trong hội thánh ban đầu. Lý do đơn giản là không có sự tranh cãi về những vấn đề này. Hơn một thế kỷ trước, James Bannerman đã giải thích về “Niềm tin vào Hội thánh ban đầu”, và vào tính “không thể sai lầm của Kinh Thánh”. Niềm tin này là hiển nhiên cho tín nhân, không cần phải lập luận hay chứng minh. “Không có tranh cãi hay lý thuyết nào được đòi hỏi để thỏa mãn đức tin của các Cơ đốc nhân.”4 Geoffrey Bromiley, một Sử gia của hội thánh đã bày tỏ sự đồng tình với điều này. Ông cho biết, “Chúng tôi chấp nhận sự soi dẫn và thẩm quyền của Kinh Thánh như một điều hiển nhiên”5.

 

Quan điểm của Hội thánh ban đầu về sự soi dẫn của Thánh Linh

Rõ ràng là các giáo phụ của hội thánh đầu tiên đều cùng quan điểm là toàn bộ Kinh Thánh đều được Đức Thánh Linh soi dẫn. Vào cuối thế kỷ thứ nhất, Clement ở Rô-ma đã viết thư cho các tín hữu tại Cô-rinh-tô có liên quan đến bức thư Cô-rinh-tô đầu tiên của Phao-lô: “Để chắc chắn rằng dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh, Phao-lô đã viết cho các tín hữu về chính mình, và Sê-pha, và A-bô-lô.” Một lần nữa, Phao-lô viết, “Các anh em đã học Kinh Thánh là sách chứa đựng lẽ thật và được Đức Thánh Linh soi dẫn.” Clement giới thiệu các phần của Thi thiên, nói rằng, “Đây là cách mà Chúa Giê-su Christ nói với chúng ta thông qua Đức Thánh Linh.”6 Vào đầu thế kỷ thứ hai, Polycarp là giám mục của Hội thánh tại Smyrna, đã gọi Kinh Thánh là “Lời phán của Chúa.”7

 

Tương tự, nhà hùng biện Justin Martyr ở thế kỷ thứ hai đã khẳng định niềm tin của mình vào sự soi dẫn của Kinh Thánh. “Các nhà tiên tri được soi dẫn để chuyển tải Lời thần thượng.”8.  Các tiên tri đã nói trước điều gì sẽ xảy ra, họ “được Thần linh thiên thượng phán dạy”10

 

Irenaeus (khoảng 140-202), người được gọi là “vĩ đại nhất trong tất cả các tác giả và học giả Cơ đốc của thế kỷ thứ hai,”11 đã khẳng định mạnh mẽ về nguồn soi dẫn và thẩm quyền của Kinh Thánh. Irenaeus gọi “Kinh Thánh là của Chúa.” “Nếu chúng ta không thể nhận thức rõ những lời giải thích về mọi điều trong Kinh Thánh…. chúng ta nên để những điều thuộc về bản chất nguyên thủy đó cho Đức Chúa Trời, là Đấng đã tạo ra chúng ta. Đồng thời cũng được đảm bảo một cách đúng đắn nhất rằng Kinh Thánh thực sự hoàn hảo. Vì những lời đó được phán ra bởi Lời của Đức Chúa Trời và bởi Thánh Linh của Ngài.”12

 

Cùng một niềm tin mạnh mẽ vào sự soi dẫn của Kinh Thánh, điều này được tiếp tục ở thế kỷ thứ ba như đã thấy trong lời chứng của hai học giả vĩ đại người Alexandria. Clement ở thành Alexandria (khoảng năm 150-211) đã tuyên bố, “Tiên tri Giê-rê-mi, người được ban cho sự khôn ngoan tột đỉnh, hay đúng hơn là do Đức Thánh Linh ngự trong Giê-rê-mi để bày tỏ Đức Chúa Trời.”13 Một lần nữa, ông viết, “Vì chúng ta có các nguồn như là nguồn từ lời dạy dỗ và từ Chúa, cả hai đều bởi các tiên tri, bởi các sách Phúc âm và bởi các sứ đồ được ban phước.”14 Origen (khoảng 185-254) thì tuyên bố và đã nói cho các hội thánh vào thời của mình rằng, “Chính Thánh Linh đã soi dẫn từng mỗi  thánh đồ, dù là tiên tri hay sứ đồ; và không có một Thánh Linh nào ở trong những con người của thời kỳ cổ đại, và một Thánh Linh nào khác trong những người được soi dẫn khi Đấng Christ giáng sinh. Điều này đã được dạy cách rất rõ ràng trong khắp các hội thánh. Ông cũng viết, “Bản thân Kinh Thánh là thần thượng, tức là đã được Thần linh của Đức Chúa Trời soi dẫn…. Kinh Thánh được viết ra bởi Thánh linh của Đức Chúa Trời.”15

 

Theo nhà thần học Gregory ở thành Nyssa (khoảng năm 335-394), cho rằng: “Tất cả những điều Kinh Thánh nói đều là lời phán của Thánh Linh.”16 Vị giám mục ở Bắc Phi là Augustine (khoảng năm 354-430), ông thường được biết đến là nhà thần học vĩ đại nhất của hội thánh đầu tiên, đã xác chứng rõ ràng về niềm tin của mình là vào nguồn gốc thiên thượng của Kinh Thánh. Ông nói, thẩm quyền tác giả của sách Sáng thế ký là Đức Chúa Trời và Môi-se được lực chọn để viết ra. “Tôi sẽ không đề cập đến những ai nghĩ rằng Môi-se có thể đã nói điều gì đó không đúng sự thật. Nhưng trong Chúa, những người mà tôi muốn được kết hợp…. là những người quan tâm lẽ thật của Chúa…. Cùng với họ, tôi sẽ tiếp cận những lời trong Kinh Thánh để tìm kiếm trong đó ý muốn của Chúa, thông qua tôi tớ Ngài và thông qua ngòi bút của họ mà Chúa đã truyền đạt những điều đó cho chúng tôi.”17 Khi trả lời những người chỉ trích Cơ đốc giáo vì cho rằng Kinh Thánh không có bất kỳ tác phẩm nào từ chính tay của Chúa Giê-su viết ra, thì Augustine nói đến sứ điệp của Chúa Giê-su thông qua các sứ đồ. “Khi những môn đồ đó đã viết về những vấn đề mà Ngài đã tuyên bố và phán dạy họ, thì không thể nói rằng Chúa đã không viết gì về chính Ngài. Vì sự thật là các môn đồ như là các chi thể của Ngài (trong thân thể Ngài) chỉ hoàn tất những gì đã trở nên quen thuộc từ các lời phán dạy của Chúa Giê-su được nhắc lại nhiều lần. Vì tất cả những gì Ngài muốn truyền đạt cho chúng ta, những chủ đề chúng ta quan tâm về các hành động và lời nói của chính Ngài, thì Ngài đã truyền lệnh cho các môn đồ viết xuống. Ngài đã sử dụng các môn đồ như thể họ là chính tay của Ngài vậy.”18

Bằng chứng tương tự cho niềm tin vào sự soi dẫn thiêng liêng của Kinh Thánh có thể được trích dẫn từ các nhà lãnh đạo khác của Hội thánh đầu tiên, bao gồm Tertullian (khoảng 155-220), Hippolytus (mất năm 236), Cyprian (195-258) và Jerome (khoảng năm 374-419).19 Như Geoffrey Bromiley đã nói, “Các giáo phụ này đã chấp nhận sự soi dẫn thiêng liêng của Kinh Thánh, dù là Cựu Ước hay Tân Ước.”20

Khi giải thích khái niệm về sự soi dẫn, các giáo phụ ban đầu nhấn mạnh đến quyền thiêng liêng của tác giả của Kinh Thánh. Chẳng hạn như nhà hùng biện Cơ đốc giáo là Athenagoras đã nói về Thần linh hà hơi thông qua các trước giả con người, cũng như ngay khi một nghệ sĩ sử dụng ống sáo để thổi ra tiếng sáo.21 Đây là phép ẩn dụ về các nhạc cụ thì cũng được sử dụng bởi những người khác. Justin Martyr đã ví Thần linh thiêng liêng như một “miếng gảy đàn đến từ  thiên đàng và sử dụng những người công chính như một nhạc cụ là đàn hạc hoặc đàn lia.”22 Tuyên bố của Augustine được trích nói rằng Đấng Christ đã sử dụng các sứ đồ như “bàn tay của chính mình”. Điều này cũng có thể được hiểu là các trước giả có vai trò thụ động trong quá trình được soi dẫn. Vào thế kỷ thứ sáu, Gregory the Great đã tổng kết các loại tư tưởng này bằng cách khẳng định rằng, “Câu hỏi về quyền tác giả của con người không quan trọng lắm. Nếu chúng ta biết ai là tác giả đích thực của mỗi tác phẩm và chúng ta hiểu những gì Ngài nói với chúng ta, thì tại sao chúng ta phải tò mò tìm hiểu “ngòi bút” nào đã viết những lời thiêng liêng trên giấy? ”24

Mặc dù có sự thống nhất chung từ các giáo phụ của hội thánh ban đầu, khi nhấn mạnh đến nguồn gốc thiêng liêng của Kinh Thánh. Họ đã không dành vị trí thích đáng cho các trước giả con người, nhưng rõ ràng là họ không loại trừ sự tham gia chân chính của con người. Ngay cả những người nhấn mạnh quyền thiêng liêng của tác giả và thẩm quyền của Kinh Thánh với những tuyên bố được trích dẫn cũng không có ý ám chỉ rằng các trước giả con người hoàn toàn thụ động.

Theo J. N. D. Kelly, là người có ảnh hưởng trong Cơ Đốc Giáo thì truyền thống chính thống của hội thánh ban đầu “nói chung… đã cẩn thận tránh bị dính líu đến vai trò của những người viết Kinh Thánh.”25 Bằng chứng là ông chỉ ra lời giải thích của Hippolytus rằng “khi Lời Chúa cảm động các tiên tri thì có tác dụng là làm rõ khải tượng của họ và chỉ dẫn sự hiểu biết của họ.26 Tương tự, Origen gợi ý rằng “chức năng của Thánh Linh là khiến các trước giả Kinh Thánh hiểu ra sự thật rõ ràng hơn nhưng không làm mất đi ý chí tự do của họ trong bất kỳ trường hợp nào.”27 Chrysostom (khoảng năm 347-407) và Cyril ở Alexandria đồng ý rằng, “có sự đóng góp cá nhân của Môi-se, Giăng và Phao-lô trong các trang Kinh Thánh” và Jerome (khoảng 374-419) đã chỉ ra sự khác biệt về phong cách và bối cảnh văn hóa chung mà các trước giả khác nhau thể hiện trong các tác phẩm của họ.28 Augustine thừa nhận rằng các trước giả Phúc Âm đã sử dụng ký ức của chính họ để viết ra tác phẩm. Tuy nhiên, ký ức của họ đã được Thánh Linh cảm thúc và gìn giữ tránh khỏi những sai lầm.29 Ngay cả Gregory có vẻ cũng từ chối bất kỳ ý nghĩa nào được nói ra từ các trước giả con người mà có liên quan đến Sách Gióp. Trước giả của cuốn sách này không được biết đến và do đó không thể có bất kỳ mối liên hệ cụ thể nào trong việc giải thích cuốn sách này. Tuy nhiên, nói chung là trong khi ghi nhận sự đóng góp của các trước giả về việc viết ra Kinh Thánh thì các giáo phụ ban đầu đã không nghiên cứu cách sâu sắc về bản chất tác động của Thánh Linh đối với họ. Họ chỉ nhấn mạnh đơn giản về Đức Chúa Trời với tư cách là tác giả chính của Kinh Thánh.

 

Câu Hỏi Về Tính Không Thể Sai Lầm Của Kinh Thánh (sự vô ngộ của Kinh Thánh) Trong Hội Thánh Ban Đầu

Các giáo phụ của hội thánh đầu tiên có tin rằng Kinh Thánh luôn đúng trong mọi phương diện, kể cả lịch sử và khoa học không? Mặc dù họ không bàn luận chi tiết về chủ đề của sự vô ngộ (không thể sai lầm) của Kinh Thánh, đó là hệ quả tự nhiên của niềm tin chắc chắn rằng Đức Chúa Trời là tác giả của Kinh Thánh. Mặc dù không phải là người biện hộ cho sự vô ngộ của Kinh Thánh, nhưng Bruce Vawter tuyên bố. “Sẽ là vô nghĩa nếu đặt câu hỏi về sự vô ngộ của Kinh Thánh. Đối với các Giáo phụ và các Ra-bi nói chung, việc chép lại Kinh Thánh mà bị sai bất kỳ lỗi nào là không thể tưởng tượng được; nếu là lời của Đức Chúa Trời thì lời đó phải là chân thật, bất kể nó được biết đến là sự mầu nhiệm về sự mặc khải thiêng liêng hoặc giới thiệu về dữ liệu về khoa học tự nhiên, hoặc cho dù nó bắt nguồn từ sự quan sát của con người ghi chép lại sự kiện của lịch sử.”30

Lời tuyên bố trong các tác phẩm của các giáo phụ ban đầu minh chứng rõ ràng cho kết luận của Vawter, Clement ở Rô-ma (khoảng 30-95) đã viết trong thư gửi tín hữu ở Cô-rinh-tô, “Các bạn đã học biết Kinh Thánh chứa đựng lẽ thật và được Đức Thánh Linh soi dẫn. Các bạn nhận ra rằng trong đó không có gì sai hoặc gây hiểu lầm.”31 Irenaeus tuyên bố rằng “không ai có ý thức bình thường mà có thể cho rằng những người phản đối Phúc âm Lu-ca là đáng tin cậy.”32 Hơn nữa, cũng theo Irenaeus, chúng ta nên “được đảm bảo một cách đúng đắn nhất rằng Kinh Thánh thực sự hoàn hảo, vì chúng đã được phán ra bởi Lời  của Đức Chúa Trời và Thánh Linh Ngài.”33 Justin Martyr đã mạnh dạn khẳng định trong đối thoại của mình với Trypho, “Tôi hoàn toàn tin chắc rằng Kinh Thánh không có mâu thuẫn nội bộ.” Dù có trưng dẫn một trường hợp nào đó có vẻ mâu thuẫn, ông nói thêm, “Tôi sẽ phải thừa nhận rằng tôi không hiểu điều đã được ghi chép nảy, và sẽ cố gắng thuyết phục những người suy nghĩ rằng Kinh Thánh mâu thuẫn có cùng quan điểm với tôi.”34

 Athanasius (khoảng năm 293–373) khẳng định tính vô ngộ về mọi khía cạnh của Kinh Thánh khi ông viết, “Tuy nhiên, chúng tôi là những người mở rộng độ chính xác của Thánh Linh đến từng nét chữ và ý nghĩa, sẽ không bao giờ chấp nhận sự xác nhận ngầm rằng Kinh Thánh có nhiều sai sót.”36 Chrysostom cũng viết về sự thần cảm của tất cả các chi tiết trong Kinh Thánh. Một số người cho rằng những nhân vật được tìm thấy trong Kinh Thánh chỉ là “một mớ hỗn độn là hoặc một chuỗi các tên, chẳng có ích lợi gì gì trong đó”, Chrysostom trả lời, “Đừng thốt ra điều ngớ ngẩn như vậy. Đức Chúa Trời phán, và bạn trơ tráo nói, không có gì ích lợi trong những lời nói đó, chỉ vì bạn không tìm thấy mà thôi.”37 Một lần nữa, ông viết, “Với Kinh Thánh thì không giống như vậy. Vàng thì không nói dối là nó được trộn lẫn với đất; vàng chính là vàng.”38 Chrysostom rõ ràng là không đồng tình với ý kiến ​​của nhiều người ngày nay rằng sự vô ngộ của Kinh Thánh chỉ giới hạn trong lẽ thật thuộc linh, còn những vấn đề khác thì không.

Augustine cũng đã xác nhận cho tính trung thực của toàn bộ Kinh Thánh. Đề cập đến sáu mươi sáu sách kinh điển, ông nói, “Trong số các sách này, tôi tin xác quyết rằng các trước giả hoàn toàn không có sai sót.”39 Ở chỗ khác, ông viết, “Vì vậy, mọi điều được viết trong Kinh Thánh phải được tin tưởng tuyệt đối.”40 Niềm tin của Augustine vào sự vô ngộ của Kinh Thánh đã ảnh hưởng đến những tuyên bố trong Kinh Thánh có liên quan đến khoa học. “Dù thế nào đi nữa, các nhà khoa học có thể dễ dàng chứng minh Kinh Thánh đúng về bản chất vật lý.”

Một số người phản đối sự vô ngộ trong Kinh Thánh đã cố gắng miêu tả lập trường của Augustine như là hành động cố ý nói dối.

Tuy nhiên, sau khi tuyên bố rằng, các trước giả Kinh Thánh “hoàn toàn không có sai lầm”, Augustine tiếp tục:

Đối với tất cả các tác phẩm phi Kinh Thánh khác, khi đọc chúng, dù có sự vượt trội của các tác giả này đối với bản thân tôi về sự thiêng liêng và kiến thức đến đâu, thì tôi cũng không chấp nhận lời dạy dựa trên cơ sở lý luận của họ là đúng hoàn toàn.

Để khẳng định rằng Kinh Thánh là vô ngộ, vì có thể nói an toàn rằng các trước giả  không viết với mục đích cố ý để đánh lừa. Họ không viết những lời lừa dối.

Điều đặc biệt này về các giải trình khác nhau của các trước giả Phúc âm, Augustine viết rằng Đức Thánh Linh “cho phép người này biên soạn câu chuyện của mình theo cách này, và người khác thì theo cách khác.”47 Trên thực tế, mục đích các tuyên bố của Augustine là sự bác bỏ những người tìm cách làm mất uy tín của Cơ đốc giáo bằng cách chỉ ra những điểm mâu thuẫn trong Kinh Thánh.

 

Các tác phẩm c của Augustine cung cấp bằng chứng rõ ràng về niềm tin vững chắc của ông vào tính tuyệt đối không thể sai lầm của Kinh Thánh.53 Ngay cả Hans Küng, một học giả Công giáo La Mã, cũng thừa nhận rằng Augustine cho “con người chỉ là công cụ của Đức Thánh Linh; duy chỉ Thánh Linh quyết định nội dung và hình thức của các bản văn trong Kinh Thánh. Kết quả là toàn bộ Kinh Thánh không có mâu thuẫn, sai lầm. Ảnh hưởng của Augustine liên quan đến sự soi dẫn và sự vô ngộ của Kinh Thánh đã thịnh hành trong suốt thời kỳ Trung cổ và ngay cả trong thời hiện đại.”54 Do đó, học thuyết của Augustine về sự thần cảm của Kinh Thánh, bao gồm cả sự vô ngộ của Kinh Thánh trong mọi vấn đề, là nền tảng cho niềm tin chung của các giáo phụ thời kỳ đầu của hội thánh.

 

HỘI THÁNH THỜI KỲ TRUNG CỔ

Hội thánh thời kỳ trung cổ có hai quan điểm về Kinh Thánh:  thứ nhất là có một cái nhìn cao cả (nhìn thấy những điều thuộc về thiên thượng như Ê-sai nhìn thấy khải tượng cao sang về Chúa trong Ê-sai chương 6) về sự thần cảm của Kinh Thánh, và thứ hai là có cái nhìn giảm bớt đi quyền năng của Kinh Thánh trong đời sống. Đã có một sự nỗ lực đáng kể để xác định thẩm quyền của Kinh Thánh trong mối tương quan với các thẩm quyền khác trong giáo hội. Đặc biệt là trong giai đoạn sau của thời kỳ này (từ thế kỷ thứ mười một đến thế kỷ thứ mười bốn), sự ảnh hưởng của triết học với sự nhấn mạnh vào lý trí đã dẫn đến một cách tiếp cận học thuật đối với việc nghiên cứu học thuyết Cơ đốc với những hình thức phức tạp và sự khác biệt tinh vi của nó. Do đó, vị trí của Kinh Thánh bị suy giảm có thể được nhìn thấy trong một số nhận xét điển hình của Martin Luther về một số nhân vật hàng đầu của thời kỳ này. Khi nhận xét về Peter Lombard, là nhà thần học được chú ý ở thế kỷ thứ mười hai, Luther viết rằng ông “xứng đáng với tư cách là một nhà thần học; không ai sánh bằng ông ấy. Ông đã nghiên cứu về Augustine, Ambrose, Gregory, và tất cả các hội đồng học thuật. Ông là một người vĩ đại.”55 Đối với Luther thì Thomas Aquinas (1224–1274)   là một “người nói chuyện phiếm” vì những liên hệ nhất quán của ông với Aristotle, triết gia Hy Lạp (384-322 TCN). Aristotle   được Aquinas trân trọng gọi là “Nhà triết học”. Cảm giác của Luther đối với sự pha trộn giữa triết học và lẽ thật của Kinh Thánh ở Aquinas thể hiện rõ qua việc ông mô tả Aristotle là “‘kẻ ngoại giáo” (ngoài những danh xưng khác)56

Mặc dù không chú trọng đến Kinh Thánh trong đời sống của hội thánh suốt thời kỳ này, nhưng các tuyên bố của các nhà lãnh đạo giáo hội chứng tỏ rằng họ có một tầm nhìn đúng đắn về sự thần cảm của Kinh Thánh là “lời của Đức Thánh Linh”, theo Giáo hoàng Leo the Great của thế kỷ thứ năm.57 Vào thế kỷ tiếp theo, Gregory the Great (540-604) cũng đã đánh giá về Kinh Thánh, “Hãy tin xác quyết rằng Đức Thánh Linh là tác giả của Kinh Thánh. Bởi vì, Ngài đã truyền cảm hứng cho những điều này và tất cả đều được viết ra…. Kinh Thánh là lời của Đức Thánh Linh.”58

Anselm, tổng giám mục của Giáo hội Anh (1093-1109) nói, “Vì tôi chắc chắn rằng nếu tôi nói bất cứ điều gì mâu thuẫn với Kinh Thánh một cách rõ ràng, thì đó là sai.”59 Ngay cả với Thomas Aquinas, trong thế giới hiện đại được ca tụng là “hoàng tử học thuật”. Ông cũng là một nhà thần học, viết nhiều bình luận về các phần của Kinh Thánh. Tác phẩm thần học mang tính học thuật của ông là Thần học Tổng hợp. Theo lời của một học giả, mặc dù tác phẩm đó chứa rất ít trích dẫn từ Kinh Thánh, nhưng nó được xây dựng “trên tảng đá của Lời thiên thượng”. Đối với sự hiểu biết của mình về sự thần cảm của Kinh Thánh, Thomas Aquinas khẳng định rằng, “Tất cả những gì được nói đến trong Kinh Thánh đều là lời phán của Đức Chúa Trời.”60 Ông tin vào thẩm quyền tuyệt đối của Kinh Thánh. Niềm tin đó được thể hiện qua những lời này của ông: “Chúng ta phải tuân giữ những gì đã được ghi chép trong Kinh Thánh như là một nguyên tắc đức tin tuyệt vời để chúng ta không thêm gì vào đó, không làm giảm giá trị và không thay đổi điều gì thông qua việc giải kinh tồi tệ.”61

John Wycliffe (1320-1384), sử gia và là người tiền thân của Cuộc Cải chánh, tin tưởng mạnh mẽ vào thẩm quyền tối hậu của Kinh Thánh trong mọi vấn đề. Đối với Wycliffe, ông “cực kỳ khinh bỉ những nhà thần học coi thường Kinh Thánh. Nếu bất kỳ người nào như vậy tìm thấy những mâu thuẫn hoặc sai sót trong Kinh Thánh, thì sự thiếu hiểu biết của họ chính là lỗi chứ không phải do bản văn Kinh Thánh có lỗi…. Kinh Thánh không chỉ chứa đựng tất cả giáo lý Cơ đốc, nhưng nói chung là tất cả lẽ thật. Đó là một “bộ sách bách khoa toàn thư thiên thượng,” một bản tóm tắt sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.”62

Tính năng động của Lời Đức Chúa Trời trong các hội thánh chắc chắn đã bị lu mờ ở nhiều nơi suốt trong thời kỳ Trung cổ. Rất ít người thực sự đọc Kinh Thánh bởi vì hầu hết mọi người không có thể biết đọc hoặc biết viết. Tuy nhiên, dân chúng và các học giả đã tin hoàn toàn vào sự vô ngộ của Kinh Thánh vì nó là lời được thần cảm. Một học giả đã nói về thời kỳ trung cổ, “Trong suốt những thế kỷ này, không ai nghi ngờ về toàn bộ Kinh Thánh là lời của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời chính là tác giả của Kinh Thánh, cũng như những người ghi chép đã viết dưới sự thần cảm của Thánh Linh Đức Chúa Trời, và do đó, những quyển sách này hoàn toàn không có sai sót và mâu thuẫn, ngay cả khi trường hợp này dường như xuất hiện đâu đó.”63

 

CÁC NHÀ CẢI CHÁNH

Lời kêu gọi quan trọng của các Nhà Cải chánh là khẳng định mạnh mẽ rằng chỉ có Kinh Thánh là thẩm quyền tuyệt đối của chúng ta. Điều này đương nhiên kéo theo sự nhấn mạnh mới về Kinh Thánh. Đối với những Nhà Cải chánh “Kinh Thánh không chỉ đơn thuần là một cuốn sách nguồn gốc về sự dạy dỗ của Cơ Đốc giáo được các học giả, giáo hội sử dụng. Nó là cuốn sách dẫn chúng ta đến với Đấng Christ.”64 Các nhân tố con người của Kinh Thánh cũng được các Nhà Cải cách đánh giá cao hơn những người tiền nhiệm của họ. Trên hết, những Nhà Cải chánh khi chống lại thẩm quyền giáo hội đã nhấn mạnh đến vai trò của Đức Thánh Linh trong việc giúp các tín nhân giải thích Kinh Thánh một cách chính xác.65

Martin Luther tin rằng sự soi dẫn của Kinh Thánh liên quan đến sự vô ngộ của ngôn từ dường như rõ ràng từ những tuyên bố sau đây: “Nhưng quả thật, mọi người đều biết rằng đôi khi các giáo phụ đã sai lầm như con người thường mắc phải; do đó, tôi sẵn sàng tin tưởng họ chỉ khi họ chứng minh quan điểm của mình đến từ Kinh Thánh, mà Kinh Thánh thì không bao giờ sai lầm.”66 “Lời của Đức Chúa Trời là hoàn hảo: nó quý giá và thánh khiết: chính nó là lẽ thật. Không có sự giả dối trong đó.”67 “Không chỉ những ngôn từ mà cả những cách diễn đạt được Đức Thánh Linh hướng dẫn đều là thiêng liêng.”68 “Không thể nào Kinh Thánh tự mâu thuẫn với chính nó; nó chỉ tỏ ra như vậy đối với những kẻ đạo đức giả, vô tri và cố chấp.”69 “Một chữ cái, hay dù chỉ là một cụm từ nhỏ trong Kinh Thánh, cũng có ý nghĩa đối với chúng ta hơn cả trời và đất. Vì vậy, chúng ta không thể cho phép thay đổi dù chỉ là chi tiết nhỏ nhất.”70 “Do đó, chúng ta phải luôn bằng lòng với văn tự của Kinh Thánh, và bám vào chúng cách hoàn toàn. Kinh Thánh chắc chắn, không bao giờ có thể lừa dối hoặc khiến cho chúng ta mắc sai lầm.”71

John Calvin (1509–1564) cũng bày tỏ niềm tin mạnh mẽ vào sự soi dẫn và tính trung thực của từng lời trong Kinh Thánh. “Do đó, Kinh Thánh có đủ thẩm quyền đối với các tín nhân chỉ khi con người coi nó như là ra từ thiên đàng, như thể đã được nghe những lời hằng sống của Đức Chúa Trời vậy.”72 Các sứ đồ là “những người ghi chép rõ ràng và xác thực bởi sự thần cảm, và do đó, các tác phẩm của họ được coi là lời của Đức Chúa Trời.”73 Nhận xét về lời của sứ đồ Phao-lô,  “tất cả Kinh Thánh đều bởi Đức Chúa Trời soi dẫn” (2 Ti-mô-thê 3:16), Calvin viết rằng, “Đây là ý nghĩa của mệnh đề đầu tiên, rằng chúng ta chịu ơn Kinh Thánh  như thể chúng ta mắc nợ Đức Chúa Trời, vì nó có nguồn gốc duy nhất từ Đức Chúa Trời và không có điều gì bắt nguồn từ loài người pha trộn với nó.”74 Calvin không phủ nhận sự tham gia của quyền tác giả của con người; ông chỉ đơn giản là chỉ ra nguồn gốc thiêng liêng của Kinh Thánh mà thôi.

Những lời tôn kính của người viết Thi thiên 119:140, “Lời Chúa rất là tinh sạch, nên kẻ tôi tớ Chúa yêu mến lời ấy”, Calvin nói, “Và trước giả khẳng định rằng lòng yêu mến của mình đối với lời Đức Chúa Trời không phải là sự hấp tấp, hay mù quáng và thiếu suy xét, mà là thực sự yêu mến lời ấy, bởi vì lời đó giống như vàng hoặc bạc đã được tinh luyện, lời đó tinh khiết và không có một tí cặn bẩn nào. Khi lời đó được so sánh với vàng đã tinh luyện, thì lời đó tỏa sáng tinh khiết khỏi mọi điều nhơ bẩn.”75

Cả Luther và Calvin đều thừa nhận rằng Đức Chúa Trời đã cung ứng chính Ngài cho con người trong việc truyền đạt Lời của Ngài. Nhưng giống như các giáo phụ đã nói về “sự cung ứng” của Đức Chúa Trời, Luther và Calvin chỉ đơn giản đề cập đến tính nhân văn của các tác phẩm, tương tự như sự hiện đến của Con Đức Chúa Trời và sự cư ngụ của Ngài giữa chúng ta. Trái ngược với sự hùng biện của một số tác phẩm cổ đại đã nhận được sự chú ý mới vào thời kỳ Phục hưng, Luther đã viết rằng “Kinh Thánh bề ngoài thì có vẻ không hào nhoáng, không thu hút sự chú ý, thiếu vẻ đẹp trọn vẹn và sự hấp dẫn.”76 Luther nói thêm, “bởi vì Kinh Thánh không có chút gì hào quang hay sự quyến rũ nào. Tuy nhiên, đức tin thì đến từ lời thiêng liêng này, nhờ sức mạnh bên trong của nó mà không cần đến bất kỳ vẻ đáng yêu bên ngoài nào.”78 Tương tự như vậy, những bình luận nổi tiếng của Luther về việc liệu một số tác phẩm nhất định có nên được coi là một phần của Kinh Thánh hay không, thì không có liên quan đến niềm tin của ông vào tính vô ngộ của Kinh Thánh. Tất cả các bản văn của Kinh Thánh là những lời được soi dẫn thiên thượng.

Bởi vì Luther và Calvin nhấn mạnh Đấng Christ hằng sống và sự cứu rỗi của Ngài là chủ đề của Kinh Thánh và dạy rằng sự bảo đảm về tính trung thực và thẩm quyền của Kinh Thánh chỉ đến thông qua lời chứng của Đức Thánh Linh bên trong lòng.  Luther đã nói, “Tin và đọc Kinh Thánh có nghĩa là chúng ta nghe Lời từ miệng của Đấng Christ. Khi điều đó xảy ra với bạn, thì bạn nhận biết rằng đây không chỉ là lời nói của con người, mà thực sự là Lời của Đức Chúa Trời.”79 Tương tự như vậy, việc Calvin nhấn mạnh vào lời chứng của Thánh Linh về lẽ thật của Lời không làm giảm niềm tin của ông vào sự thần cảm của Kinh Thánh. Như Woodbridge nói, “Calvin kết hợp thẩm quyền của Đấng Christ là Lời hằng sống, với lời chứng của Thánh Linh. Ông nêu bật vai trò của Chúa Thánh Linh trong việc xác nhận thẩm quyền của Kinh Thánh đối với chúng ta. Kinh Thánh có thẩm quyền vì Đức Chúa Trời, là nguồn của lẽ thật, là tác giả chính của Kinh Thánh.”80

 

SAU CUỘC CẢI CHÁNH VÀ HỘI THÁNH HIỆN ĐẠI

 

Niềm tin vào sự soi dẫn và sự sự vô ngộ của Kinh Thánh do các Nhà Cải chánh và những người lãnh đạo Công giáo La Mã nắm giữ được duy trì sau Cải chánh. Tuy nhiên, những điều kiện lịch sử mới đã bắt đầu tác động đến cách thể hiện học thuyết này, đặc biệt là trong giáo hội Tin lành và sau đó là giáo hội Công giáo. Những phát triển này bao gồm năm điều sau:

  1. Cuộc tranh luận về vấn đề thẩm quyền giữa người Tin lành và người Công giáo, trong đó người Công giáo yêu cầu người Tin lành chỉ ra thế nào mà các bản sao bị lỗi của Kinh Thánh có thể thực hiện chức năng của nó mà không cần đến thẩm quyền của Giáo hội La Mã.
  2. Chủ nghĩa duy lý, vốn tuyên bố rằng chân lý phải được xây dựng trên nền tảng của lý trí.
  3. Thông qua các phong trào chủ nghĩa duy lý, kẻ thù địch đã tấn công vào nền tảng của Kinh Thánh, bao gồm Chủ nghĩa xã hội vào thế kỷ 17 và Chủ nghĩa thần giáo vào cuối thế kỷ 17 và 18.
  4. Những phát triển mới trong khoa học, đã đặt câu hỏi về nhiều khía cạnh của lịch sử Kinh Thánh (ví dụ, ngày Sáng tạo, trận Đại Hồng thủy, nguồn gốc của loài người từ thời Nô-ê).
  5. Sự sẵn sàng ngày càng tăng của những người trong các hội thánh để làm giảm độ tin cậy vào Kinh Thánh bằng cách chấp nhận quan điểm của khoa học và lý trí.

Trước những áp lực này, các nhà giảng dạy chính thống Tin lành ngày càng cảm thấy bị ép buộc phải bảo vệ tính chân thật của Kinh Thánh, nhưng đôi khi họ sử dụng những lập luận không được thuyết phục. Một số người nhấn mạnh đến quyền tác giả thiêng liêng của Kinh Thánh đến mức họ cổ súy cho thuyết “đọc cho viết” về sự thần cảm.

Bất chấp những cuộc tấn công này, sự hiểu biết truyền thống về sự soi dẫn và tính vô ngộ của Kinh Thánh vẫn được duy trì trong suốt thời kỳ hậu Cải chánh và thời hiện đại tiếp theo. Chẳng hạn như, Samuel Rutherford là một trong những người lập khung nền cho Lời xưng tội Westminster (1645-1646), đã viết rằng, “Khi viết ra mỗi câu nói ngắn gọn, tiêu đề hoặc từ ngữ trong Kinh Thánh, thì những trước giả Kinh Thánh ngay lập tức được soi dẫn, như chi tiết của vấn đề, cách diễn đạt, cụm từ, và tất cả các chi tiết liên quan.”83

Các nhà lãnh đạo Tin lành ở thế kỷ 18 cũng tuyên xưng niềm tin lịch sử liên quan đến Kinh Thánh. John Wesley (1703-1791) đã tuyên bố, “Nếu có bất kỳ sai lầm nào trong Kinh Thánh.  Nếu có một sự giả dối trong cuốn sách đó, thì nó không đến từ Đức Chúa Trời chân thật”84 Jonathan Edwards (1703-1798), được nhiều người công nhận là nhà thần học vĩ đại nhất nước Mỹ và được kính trọng vì khả năng hiểu biết. Ông “hoàn toàn chấp nhận truyền thống do những Nhà Cải chánh thiết lập về tính ưu việt và thẩm quyền của Kinh Thánh, và ông có thể tiếp cận các sách trong Kinh Thánh với sự tin chắc về tính vô ngộ và chân lý của chúng.”85

Lời thú tội của New Hampshire năm 1833 tóm tắt niềm tin tương tự giữa những người theo giáo phái Baptists. Các nhân vật như Princetonians, Archibald Alexander, Charles Hodge, A.A Hodge nổi tiếng của thế kỷ 19, và trên hết là Benjamin B. Warfield (có chức vụ kéo dài đến đầu thế kỷ 20), luôn kiên định đối với sự vô ngộ của Kinh Thánh. Những người Tin lành ngày nay vẫn tiếp tục bảo vệ học thuyết này. Vào cuối thập niên 1970 và 1980, một Hội đồng Cơ đốc Quốc tế được triệu tập, và hội đồng mạnh mẽ ủng hộ tính vô ngộ của Kinh Thánh.

 

KẾT LUẬN

Câu hỏi về bản chất của Kinh Thánh và liệu nó có đúng hay không cuối cùng sẽ phụ thuộc vào chính lời chứng của Kinh Thánh bên trong chúng ta. Nhưng cách Đức Thánh Linh đã dẫn dắt dân sự của Ngài lắng nghe và vâng theo lời đó trong sự công bố của họ là rất quan trọng.  W. Robert Godfrey đã tuyên bố rõ ràng, “Phê bình Kinh Thánh tạo thành tâm điểm của chiến tuyến cho những người đấu tranh bảo vệ tính vô ngộ của Kinh Thánh. Sức mạnh của tâm điểm đó cuối cùng sẽ quyết định kết quả của cuộc chiến đấu để nhận biết bản chất của Kinh Thánh. Tuy nhiên, trong cuộc xung đột này, lịch sử về thái độ của hội thánh đối với Kinh Thánh đã trở thành thành lũy quan trọng của chiến tuyến.”86

Một số người cố gắng làm cho sự vô ngộ của Kinh Thánh trở thành là một học thuyết mới được những người theo chủ nghĩa chính thống tạo ra. Các học giả theo chủ nghĩa tự do cũng thừa nhận tính trung thực của Kinh Thánh. Kirsopp Lake, một học giả Kinh Thánh của Đại học Harvard vào đầu thế kỷ 20, không đồng tình với tính chính xác của Kinh Thánh. Tuy nhiên, ông đã viết như sau:

Có bao nhiêu người trong các hội thánh Cơ Đốc giáo vào thế kỷ thứ 18 nghi ngờ sự soi dẫn không thể sai lầm của toàn bộ Kinh Thánh? Có lẽ là một số ít, rất ít. Không có người nào theo chủ nghĩa chính thống có thể sai. Nhưng chính chúng ta là những người đã rời xa truyền thống, chứ không phải ai khác, và tôi lấy làm tiếc cho số phận của bất kỳ ai cố gắng dựa vào quyền lực để tranh luận với người theo chủ nghĩa chính thống. Kinh Thánh và căn bản thần học của hội thánh thì đứng về phía chính thống.87

Các giáo phụ đã để lại cho chúng ta một niềm tin trung thành và can đảm về bản chất của Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời được soi dẫn cách siêu nhiên. Các ghi chép về thái độ và sự thực hành của họ liên quan đến Kinh Thánh cũng chứa đựng nhiều điều để các tín nhân ngày nay noi theo. Họ nhìn vào Kinh Thánh một cách đúng đắn để nhận thấy Đấng Christ, rồi nhận ra rằng chính Ngài và sự cứu rỗi của Ngài là trọng tâm của Kinh Thánh.

Các bậc tiền bối cũng dạy về sự cần thiết tuyệt đối của công việc Thánh Linh để Kinh Thánh trở thành lời ban sự sống cho chúng ta. Không có điều gì có thể làm mất hiệu lực của tín lý  này. Lời sinh ra quyền năng ban sự sống chỉ khi nó được tiếp nhận thông qua tác động của Đức Thánh Linh. Tương tự, sự bảo đảm cuối cùng về tính chân thật của Lời không dựa vào lý trí của con người mà dựa vào lời chứng của Đức Thánh Linh ở trong lòng mỗi tín nhân.

Những người tin Chúa ngày nay chú ý đến những gì mà các bậc tiền bối của chúng ta đã tin về bản chất Kinh Thánh là lời vô ngộ của Đức Chúa Trời. Như lời chứng sau đây của Billy Graham minh họa: “Sức mạnh và hiệu quả của hội thánh trên thế giới phụ thuộc vào thái độ của chúng ta đối với Kinh Thánh. Vào tháng 8 năm 1949, tôi ngập tràn nghi ngờ về mọi thứ đến nỗi khi tôi đang đứng giảng và phát biểu, thì tôi tự hỏi rằng: Tôi tự hỏi liệu đó có phải là sự thật không. Tôi tự hỏi liệu mình có thể thực sự nói điều đó một cách chân thành hay không. Sau đó, tôi đem theo Kinh Thánh lên vùng núi cao ở Sierra Nevada của California để suy ngẫm. Tôi mở nó ra và quỳ xuống: Thưa Cha, Con không thể hiểu nhiều điều trong cuốn sách này. Con không thể hiểu mọi vấn đề trên phương diện lý trí được; nhưng con chấp nhận nó bởi đức tin. Đây là Lời có thẩm quyền, được soi dẫn bởi Đức Chúa Trời hằng sống. Một tháng sau ở Los Angeles, tôi nhận ra rằng cuốn sách này đã trở thành thanh gươm trong tay tôi. Nơi mà lý luận của con người thất bại, thì Lời Đức Chúa Trời đã thực hiện công việc đó.”

 

 

13

KINH THÁNH GỒM NHỮNG SÁCH NÀO?

 

LÀM THẾ NÀO ĐỂ CHÚNG TA BIẾT những sách nào thuộc về Kinh Thánh? Kinh Thánh của chúng ta có bao gồm một số sách mà không nên có trong đó không? Có phải một số sách bị loại ra đáng lẽ phải được đưa vào không?

 

Kinh Thánh của Tin lành có sáu mươi sáu sách, trong khi Kinh Thánh của Công giáo La Mã và Chính thống giáo Đông phương có thêm một số sách, thường được gọi là Thứ kinh. Tôbia, một trong những sách được gọi là Thứ kinh, nói rằng, “Việc bố thí cứu cho một người khỏi chết và tẩy sạch mọi tội lỗi” (Tôbia 12: 9). Một sách khác, Huấn ca, còn được gọi là Sirach, nói, “Ách và dây cương mới ghì được cổ lừa, cực hình và những cuộc tra khảo mới gò được đứa ở bất lương” (Huấn ca 33:26). Những tuyên bố này có được Đức Thánh Linh soi dẫn không? Chúng thuộc hay không thuộc về Kinh Thánh? Kinh Thánh của chúng ta có thiếu điều gì không nếu không bao gồm các sách Thứ kinh?

Làm thế nào mà con dân Đức Chúa Trời lại coi các tác phẩm trong Kinh Thánh là Sách Thánh trong khi nhiều tác phẩm khác thì không? Tiêu chí nào được sử dụng để quyết định nên đưa sách nào vào? Ai có thẩm quyền để chấp nhận một số sách nhất định mà không phải tất cả các sách? Đây là những vấn đề về “tính kinh điển” được xem xét trong chương này.

 

Ý TƯỞNG VỀ KINH ĐIỂN

 

Ý nghĩa của thuật ngữ canon

 

Thuật ngữ Canon (kinh điển) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp kanon, ban đầu có nghĩa là “một thanh đo thẳng”1 và sau đó có nghĩa là “một tiêu chuẩn hoặc thước đo.” Vì vậy, nó mang ý tưởng về một quy chuẩn có thẩm quyền. Ví dụ, các tiêu chuẩn có thẩm quyền trong đạo đức, nghệ thuật hoặc ngữ pháp được gọi là canon. Phao-lô dùng thuật ngữ này để chỉ về các nguyên tắc đạo đức,  “theo mẫu mực nầy” (Ga-la-ti 6:16).

Trong thời kỳ đầu của Hội thánh hậu Sứ đồ, thuật ngữ canon được áp dụng cho “bản tóm tắt sự dạy dỗ Cơ đốc, là bản được cho là sao chép lại những gì mà chính các sứ đồ đã dạy.”2 Được gọi là ‘quy tắc của đức tin’ hoặc “quy tắc của lẽ thật”, bản tóm tắt này dựa trên Kinh Thánh, vì vậy nó là “biểu mẫu cho việc giải thích Kinh Thánh của Giáo hội vào thế kỷ thứ hai và thứ ba.”3

 

Bởi vì thanh đo có thể được đánh dấu theo đơn vị chiều dài như thước kẻ và thước đo hiện tại của chúng ta, canon cũng có nghĩa là một chuỗi hoặc danh sách. Theo nghĩa này, canon đã được áp dụng vào Kinh Thánh như một danh sách gồm các sách được con dân Đức Chúa Trời công nhận là thuộc về Kinh Thánh. Những sách được công nhận trong Kinh Thánh được gọi là “kinh điển” và một bộ gồm những sách đó gọi là “kinh điển của Kinh Thánh.” Athanasius, giám mục vào thế kỷ thứ tư ở Alexandria, có lẽ là người đầu tiên áp dụng thuật ngữ này cho Kinh Thánh trong một bức thư được lưu hành vào năm 367. Như một sự mặc khải thiên thượng, kinh điển Kinh Thánh là “quy tắc đức tin” hoặc là thẩm quyền tối hậu để đánh giá tất cả các giáo lý và sự thực hành của Cơ đốc giáo.

 

Khái niệm về Kinh điển hóa

 

Một số người từ chối sự thần cảm của Kinh Thánh và xem Kinh Thánh chủ yếu là các tác phẩm của con người, trong đó bày tỏ đức tin của họ như là nhân chứng cho sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Cũng chính những người này nói rằng việc xác định sách nào thuộc về Kinh Thánh cũng chỉ là nỗ lực của con người, giống như bất kỳ quyết định nào trong giáo hội ngày nay. Do đó, một số tác phẩm kém hữu ích về trải nghiệm tôn giáo của con người đã bị bỏ qua. Tuy nhiên, họ nói, Đức Chúa Trời đã sử dụng các sách trong Kinh Thánh để bày tỏ chính Ngài cho chúng ta.4

 

Mặt khác, người Công giáo La mã nói rằng Giáo hội La mã đã ban tặng địa vị kinh điển cho các sách trong Kinh Thánh. Họ cho rằng Giáo hội La Mã đại diện cho uy quyền tuyệt đối của Đấng Christ và do đó có quyền xác định phạm vi của kinh điển.

 

Theo những người Tin lành, thì chính Đức Chúa Trời đã ban thẩm quyền cho các tác phẩm bởi sự soi dẫn của Đức Thánh Linh. Mặc dù độc đáo về nội dung, nhưng cấu trúc và nội dung của Kinh Thánh giống với các tài liệu cổ khác nhau nói về một nhà cai trị uy quyền phán với thần dân của mình bằng chỉ thị có thẩm quyền mang tính quy chuẩn hoặc kinh điển. Do đó, kinh điển Kinh Thánh được hiểu rõ nhất như là các tài liệu giao ước do Đức Chúa Trời ban nhằm bày tỏ các chỉ dẫn về tất cả các khía cạnh của cuộc sống, trước là cho tuyển dân của Ngài sống dưới “giao ước cũ” trong thời Cựu ước (hay “giao ước cũ”, xem 2 Côr. 3:14), và sau là cho những ai sống trong “giao ước mới” kể từ khi Đấng Christ giáng sinh.5 Do đó, khi truyền đạt những lời giao ước kinh điển của Ngài, những trước giả Kinh Thánh được soi dẫn đã tôn cao Đức Chúa Trời tối cao.

 

Để thực hiện chức năng như một kinh điển cho cộng đồng giao ước, các tác phẩm cũng phải được mọi người công nhận. Vì vậy, Đức Chúa Trời làm việc một cách toàn vẹn trong dân sự của Ngài để công nhận những tác phẩm này đến từ Ngài và từ đó các tác phẩm này cuối cùng có  thẩm quyền. Mặc dù không dễ để giải thích được vì bản chất thiêng liêng bên trong, nhưng việc làm này trong con dân Đức Chúa Trời có thể hình dung được khi người ta nhận ra rằng đây chính là Lời có cùng thẩm quyền mạnh mẽ đã tạo nên một cộng đồng dân Chúa ngay từ ban đầu.

Theo quan điểm này, thì không có một Giáo hội nghị nào có thể cấp thẩm quyền cho Kinh Thánh , vì nó đã là Lời thẩm quyền được soi dẫn của Đức Chúa Trời. Tất cả những gì chúng ta có thể làm là công nhận nó như vậy. Như J. I. Packer nói, “Giáo hội không cho chúng ta kinh điển Tân Ước nhiều hơn Ngài Isaac Newton cho chúng ta lực hấp dẫn. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta lực hấp dẫn bởi công trình sáng tạo của Ngài, và tương tự, Ngài ban cho chúng ta kinh điển Tân Ước bằng cách soi dẫn những sách riêng lẻ rồi tổng hợp tạo nên kinh điển Tân Ước.”6

 

Quan điểm này nhấn mạnh rằng không có thẩm quyền nào vượt lên trên chính Đức Chúa Trời. Chẳng hạn, làm thế nào một Giáo hội có thể nói rằng một tác phẩm cụ thể nào đó là Lời Đức Chúa Trời nếu nó không dựa trên cơ sở của lời có thẩm quyền từ Đức Chúa Trời? Nhưng tất nhiên, một tác phẩm được cho là từ Đức Chúa Trời sẽ phải được thừa nhận trước khi nó có thể được sử dụng như một kinh điển. Vì vậy, chúng ta kết luận rằng sự mặc khải có thẩm quyền từ Đức Chúa Trời được tỏ ra trong Lời thành văn của Ngài, hoặc là chúng ta không còn cách nào  để phân biệt Lời Ngài với những quyển sách khác.

Như sứ đồ Phao-lô đã dạy, Đức Thánh Linh bày tỏ lẽ thật thuộc linh và chỉ những ai tiếp nhận sự dạy dỗ của Ngài mới nhận ra điều đó (1 Côr. 2: 10-16). Chúa Giê-su dạy rằng chỉ những ai “sẵn lòng làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời… mới biết đạo lý ta có phải là bởi Đức Chúa Trời, hay là ta nói theo ý ta” (Giăng 7:17). Ngài lại nói, “Chiên ta nghe tiếng ta, ta quen nó, và nó theo ta” (10:27). Đức Chúa Trời đã chỉ cho con người về chính Ngài, mà không lệ thuộc bất kỳ thẩm quyền nào từ con người.

Lời tuyên bố của Giáo hội Công giáo La Mã về tính vô ngộ của Kinh Thánh bao gồm luôn cả Thứ kinh gây ra những tranh cãi lớn trong cuộc Cải chánh. Những nhận xét của Calvin được đưa ra để phản đối lời tuyên bố đó vẫn còn hữu ích cho chúng ta ngày nay.

Một sai lầm nguy hiểm nhất được phổ biến  là Kinh Thánh  chỉ có giá trị khi nó được giáo hội thừa nhận. Như thể lẽ thật đời đời và bất khả xâm phạm của Đức Chúa Trời phụ thuộc vào quyết định của con người! Người ta đã chế nhạo Đức Thánh Linh khi hỏi: Ai có thể bảo đảm với chúng ta rằng Kinh Thánh  đã được ban xuống toàn bộ và nguyên vẹn cho đến tận ngày nay? Ai có thể thuyết phục chúng ta nhận một sách nào đó trong sự tôn kính nhưng lại loại trừ một sách khác, trừ khi giáo hội quy định một quy tắc chắc chắn cho tất cả những vấn đề này? Họ nói rằng Kinh Thánh  có được sự tôn kính và những sách nào được xác định là thuộc về Kinh Thánh  đều phụ thuộc vào sự quyết định của giáo hội.

Nhưng những người chủ trương như vậy đã bị Phao-lô phản đối. Ông làm chứng rằng Hội thánh “được dựng lên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri” (Ê-phê-sô 2:20). Nếu sự dạy dỗ của các đấng tiên tri và các sứ đồ là nền tảng, thì điều này phải có thẩm quyền trước khi hội thánh tồn tại. Nếu ngay từ đầu, Hội thánh Cơ đốc được thành lập dựa trên các lời của các đấng tiên tri và lời rao giảng của các sứ đồ, dù các sự dạy dỗ này được tìm thấy ở bất cứ đâu, thì việc chấp nhận nó chắc chắn phải có trước Hội thánh. Do đó, hoàn toàn sai lầm khi cho rằng thẩm quyền quyết định Kinh Thánh  nằm ở giáo hội và cho rằng các sách của Kinh Thánh  phụ thuộc vào sự chấp thuận của giáo hội.

Và chắc chắn Kinh Thánh  xứng đáng để chúng ta tin cậy, nó đạt được điều này nhờ lời chứng của Đức Thánh Linh bên trong chúng ta. Do đó, qua sự soi sáng bởi quyền năng của Ngài, chúng ta không thể dựa vào chính chúng ta cũng như sự quyết định của bất kỳ ai khác để cho rằng Kinh Thánh  là từ Đức Chúa Trời; nhưng vượt lên trên sự quyết định của con người, chúng ta khẳng định với một sự chắc chắn rằng Kinh Thánh  được ban cho chúng ta từ chính miệng của Đức Chúa Trời qua công việc của loài người.7

Quá trình lịch sử thực tế của việc thu thập các sách kinh điển đã làm sáng tỏ điều này.  Packer giải thích về kinh điển Tân Ước. “Đã có một người đề nghị với các Cơ đốc nhân của những thế kỷ đầu tiên là quá trình công nhận các sách kinh điển thì giáo hội đã tạo ra một kinh điển cho chính mình.”8

Tóm lại, trong việc công nhận qui ước về kinh điển, dân sự của Đức Chúa Trời đã nhận biết Lời Chúa được ban cho để làm chuẩn mực cho đức tin và đời sống của họ. Mục sư Louis Gaussen, người nổi tiếng với quan điểm về sự linh ứng của Kinh Thánh , đã minh họa sự hình thành kinh điển bằng bức ảnh một người phụ nữ đi dạo quanh khu vườn với người chủ vườn. Khi họ đi dạo dọc theo con đường, ngừời chủ ấy tặng cô  hết bông hoa này đến bông hoa khác cho đến khi gom được cả một bó hoa. Bó hoa là có thật và được ngắm nhìn cách vui thích ngay khi cô ấy nhận được những bông hoa đầu tiên. Theo cách tương tự, kinh điển đã tồn tại trong vòng dân sự của Đức Chúa Trời ngay từ khi Ngài ban những bản văn đầu tiên được soi dẫn. Đức Chúa Trời đã ban cho dân sự của Ngài những sách mà Ngài muốn đưa vào trong Kinh Thánh.9

 

KINH ĐIỂN CỰU ƯỚC

 

Khi sách Ma-la-chi, là cuốn sách kinh điển cuối cùng của Cựu ước, được viết ra (có lẽ vào khoảng năm 432 T.C), thì lời tiên tri kinh điển trong thời kỳ hậu lưu đày không còn nữa. Chúng ta không biết bao lâu sau khi sách Ma-la-chi được viết ra thì kinh điển Cựu ước được công nhận, mặc dù nó đã có từ trước thời kỳ Tân ước.10

Tuy nhiên, một số tác giả nói rằng sự công nhận kinh điển Cựu ước xảy ra muộn hơn nhiều. Ví dụ, Ngũ kinh được cho là tổng hợp của nhiều bản truyền thống khác nhau được viết muộn hơn nhiều so với thời Môi-se. Theo quan điểm này, sách Đa-ni-ên được một tác giả vô danh viết vào khoảng năm 165 T.C. Do đó, quan điểm này đặt ra ba giai đoạn trong quá trình hình thành kinh điển: Ngũ kinh được kết thúc vào khoảng năm 400 T.C, các sách Tiên tri vào khoảng năm 200 T.C, và các sách Văn thơ vào cuối thế kỷ thứ nhất sau Chúa.

 

Tuy nhiên, bằng chứng lịch sử cho quá trình kinh điển ủng hộ cho cách hiểu truyền thống. Hơn nữa, người ta ngày càng công nhận rằng cuộc thảo luận về kinh điển tại Hội nghị Jamnia vào năm 90 S.C, “không có gì khác hơn là xem xét lại các tranh luận về hai trong số các sách Văn thơ là Truyền đạo và Nhã-ca — giống như Luther sau này xem xét các tranh luận về sách Gia-cơ.”11 Vấn đề không phải là có nên thêm một số sách nhất định vào kinh điển hay không, mà là liệu có nên giữ lại một số sách nhất định hay không. Các thành viên của hội nghị không có cuộc thảo luận nghiêm túc nào về việc thêm sách mới hoặc loại trừ bất kỳ sách nào đã được công nhận trước đó. Một học giả kết luận rằng Hội nghị Jamnia “không đem lại ảnh hưởng gì đến các cuộc thảo luận của người Do Thái về Kinh điển.”12

 

Lịch sử hình thành Kinh điển Cựu ước

 

Kinh Thánh  không cung cấp cho chúng ta một lịch sử đầy đủ về việc chấp nhận từng sách trong Cựu ước và một danh sách gồm các sách tạo thành kinh điển Kinh Thánh. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên vì các tác phẩm đã được con dân Chúa công nhận khi chúng được thu nhận. Không cần người lãnh đạo hoặc hội đồng nào làm cho chúng thành kinh điển. Như Dunbar nói, “Không có bằng chứng lịch sử nào chứng minh cho quy chuẩn kinh điển của các sách trong Kinh Thánh (tức là quy chuẩn sách đó thuộc về Kinh Thánh).13 Tuy nhiên, chúng ta cần tìm những ví dụ về việc tiếp nhận các tác phẩm kinh điển để minh họa  về sự hình thành kinh điển.

Việc hình thành kinh điển bắt đầu từ các sách của Môi-se, được chứng minh trong Xuất Ê-díp-tô Ký 24: 3-4: “Môi-se bèn đến thuật lại cho dân sự mọi lời phán của Đức Giê-hô-va và các luật lệ, thì chúng đồng thinh đáp rằng: Chúng tôi sẽ làm mọi lời Đức Giê-hô-va phán dạy. Môi-se chép hết mọi lời của Đức Giê-hô-va.” Sau đó, chúng ta được cho biết rằng “Khi Môi-se chép những lời luật pháp nầy trong một cuốn sách xong rồi, thì ra lịnh cho người Lê-vi khiêng hòm giao ước của Đức Giê-hô-va mà rằng: Hãy lấy cuốn sách luật pháp nầy, để bên hòm giao ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi. Nó sẽ ở đó làm chứng nghịch cùng ngươi” (Phục truyền 31: 24-26).

Sách của Môi-se được xem là quy chuẩn của đức tin và thực hành dành cho dân Y-sơ-ra-ên. Nó phải được đọc cho họ vào những thời điểm đã định để họ “cẩn thận làm theo các lời của luật pháp này” (31:10-12). Giô-suê được bảo, “hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong” (Giô-suê 1:8; xem thêm 11:15). Vua Y-sơ-ra-ên phải có một bản sao Luật pháp riêng để “bản ấy phải ở bên vua trọn đời, vua phải đọc ở trong, để tập biết kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, cẩn thận làm theo các lời của luật pháp nầy, và hết thảy điều răn nầy” (Phục-truyền 17:18-19). Trong suốt lịch sử của Y-sơ-ra-ên, vận mệnh của các vị vua và quốc gia được quyết định bằng chính  thái độ của họ đối với sự mặc khải về ý muốn của Đức Chúa Trời được viết trong sách Luật pháp (ví dụ, 1 Các Vua 2:3; 3:14; 2 Các Vua 17:7 -13; 21: 7-9; 23: 2-3; 2 Sử ký 33: 8; Đa-ni-ên 9:11).

Môi-se nói rằng trong tương lai sẽ có các đấng tiên tri dấy lên để nói Lời Đức Chúa Trời giữa vòng dân sự (Phục truyền 18: 15-22). Việc những người trong Cựu ước công nhận một danh sách các tác giả tiên tri như vậy được thấy trong việc họ chấp nhận các bản văn thánh. Những lời của Giô-suê đã được viết “trong sách luật pháp của Đức Chúa Trời” (Giô-suê 24:26). Sa-mu-ên cũng “tuyên giảng luật pháp của nước tại trước mặt dân sự, chép trong một cuốn sách mà người để trước mặt Đức Giê-hô-va”, hành động thứ hai (chép vào trong sách) cho thấy quyền hạn của các trước giả đối với dân sự Đức Chúa Trời. Những trước giả của sách Các Vua và Sử Ký đã biết nhiều tác phẩm tiên tri bao gồm toàn bộ lịch sử của Y-sơ-ra-ên từ Đa-vít đến thời lưu đày (1 Sử-ký 29:29; 2 Sử-ký 9; 29). Hết tiên tri này đến tiên tri khác đã đem lời Đức Chúa Trời đến với dân Y-sơ-ra-ên, và phần lớn những gì họ viết dưới sự soi dẫn của Đức Thánh Linh đã được thêm vào các tác phẩm kinh điển. Ê-sai gọi những lời của mình là “lời chứng” và “luật lệ” có thẩm quyền về sự mặc khải của Đức Chúa Trời (Ê-sai 8:16).14 Tương tự như vậy, Giê-rê-mi hướng dẫn việc chép lại mọi lời Đức Chúa Trời phán với ông (Giê-rê-mi 36). Đa-ni-ên, một người trẻ tuổi cùng thời với Giê-rê-mi, không chỉ công nhận lời của Giê-rê-mi là “lời của Đức Chúa Trời”, mà còn tìm thấy lời của ông “trong các sách tiên tri” và “sách luật pháp của Môi-se” (Đa-ni-ên 9:2, 6, 11). Tham chiếu về “các sách” thường được xem là tham chiếu đầu tiên về bộ kinh điển gồm các sách thánh.

Bằng chứng về một kinh điển được công nhận cũng được thấy trong việc một số trước giả sử dụng các tác phẩm trước đó. Các sách của Môi-se được đề cập trong suốt Cựu Ước (Giô-suê 1: 7; 1 Các Vua 2: 3; Mal. 4: 4). Lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên từ Sáng thế ký đến Các Vua được ghi lại trong Sử ký (1 Sử 1: 1-2: 15). Những câu châm ngôn và bài hát của Sa-lô-môn được đề cập trong 1 Các Vua 4:32, và Đa-ni-ên đề cập đến Giê-rê-mi (Đa-ni-ên 9: 2). Đã nhiều hơn một lần, các nhà tiên tri đã cảnh báo dân Y-sơ-ra-ên bằng cách ám chỉ tổ phụ của họ, là những người đã không nghe lời của các tiên tri trước đó (Ô-sê 6:5; Xa-cha-ri, 1:4-5: 7:12).

Khi chức vụ các tiên tri trong Cựu Ước kết thúc, thì các tác phẩm kinh điển cũng dừng lại.

 

Tiêu chuẩn cho tính Kinh điển của Cựu ước

Câu hỏi tại sao một số sách nhất định được công nhận là kinh điển trong khi những sách khác thì không đã nhận được những câu trả lời khác nhau, phần lớn tùy thuộc vào những gì người ta tin về bản chất của Kinh Thánh. Như đã đề cập trước đó, một số người nói rằng việc hình thành qui ước kinh điển là một nỗ lực của con người, dựa trên ý tưởng rằng Kinh Thánh chỉ là sự thể hiện đức tin của con người.

Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy, các tác phẩm trong Kinh Thánh được con dân Đức Chúa Trời chấp nhận là có thẩm quyền với niềm tin rằng các tác phẩm này được Ngài soi dẫn và là lời của Đức Chúa Trời. Những người đồng tình với quan điểm này lưu ý bốn yếu tố sau trong việc xác định những sách nào thuộc về Cựu Ước.20

Trước giả tiên tri. Nhiều sách trong Cựu Ước tuyên bố rõ ràng về các trước giả là tiên tri. Nhiều trước giả sau này được xác định là nhà tiên tri (ví dụ, A-ghê 1: 3; Xa-cha-ri 1: 1). Mặc dù không phải tất cả các sách được cho là được viết bởi các nhà tiên tri, nhưng những tiên tri sau này đã đề cập đến Đức Chúa Trời Đấng phán với dân sự của Ngài thông qua các đấng tiên tri trước đó (Xa-cha-ri 1: 4; 7:12). Điều này có thể nói lên rằng tất cả các tác phẩm được công nhận trước đó được xem là đến từ các đấng tiên tri.

Quan trọng hơn, ở một số chỗ, Tân Ước đã đề cập đến một phần hoặc tất cả các sách trong Cựu Ước là lời tiên tri. Sách Hê-bơ-rơ tuyên bố, “Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách” (Hê. 1:1). Phi-e-rơ đề cập đến “lời của các đấng tiên tri” (2 Phi. 1:19) là nói về các đấng tiên tri trong Cựu Ước. Khi Chúa Giê-su bị bắt, Ngài đã nói, “Nhưng mọi điều ấy phải xảy đến, hầu cho những lời các đấng tiên tri đã chép được ứng nghiệm” (Mat. 26:56). Sau khi Ngài sống lại, Ngài đã quở trách các môn đồ vì không tin “lời các đấng tiên tri đã nói” (Lu-ca 24:25). Sự đề cập của Phi-e-rơ về “lời tiên tri trong Kinh Thánh” là “bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời” (2 Phi. 1: 20-21), cho biết rằng cả Kinh Thánh được Đức Chúa Trời soi dẫn (2 Ti. 3:16) cũng có thể được gọi là lời tiên tri.

 

Lời chứng của Đức Thánh Linh. Ngoài bản chất vốn có của một tác phẩm kinh điển là lời được soi dẫn bởi Đức Chúa Trời, còn có sự công nhận của dân sự Đức Chúa Trời về một tác phẩm được cho là kinh điển. Nói cách khác, sự hình thành kinh điển liên quan đến cả sự mặc khải thiên thượng và sự công nhận của con người. Làm thế nào mà con người có thể nhận ra rằng một người nào đó là tiên tri thực sự của Đức Chúa Trời để tác phẩm của họ được cho là Lời có thẩm quyền từ Đức Chúa Trời? Mặc dù một số người, giống như Môi-se, đã được ban cho năng quyền thiên thượng để thực hiện các việc siêu nhiên, câu trả lời cuối cùng là Đức Thánh Linh đã làm chứng cho lẽ thật của sự mặc khải bởi chính Ngài trong lòng của những người sẵn lòng tiếp nhận nó. Như đã nói trước đó, Chúa Giê-su đã phán trong lời dạy của mình, “Nếu ai khứng làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời, thì sẽ biết đạo lý ta có phải là bởi Đức Chúa Trời, hay là ta nói theo ý ta” (Giăng 7:17).

Sự chăm sóc thiên thượng. Một yếu tố khác trong sự hình thành kinh điển là sự quan phòng của Đức Chúa Trời. Việc bảo tồn các tác phẩm Kinh Thánh trong suốt nhiều thế kỷ giữa một quốc gia thường không vâng lời và bị lưu đày cũng như bị kẻ thù bức hại là lời chứng cho sự bảo vệ thành tín của Đức Chúa Trời. Ngoài ra còn có sự bảo tồn các lời tiên tri nhất định trong số những lời được thần cảm khác đã được nói ra và có thể được viết xuống. Giống như chúng ta không có tất cả những lời mà Chúa Giê-su đã nói, cũng vậy các tiên tri chắc chắn cũng đã từng nói những thông điệp được thần cảm mà không được viết xuống hoặc, nếu được viết xuống, cũng không được bao gồm trong số các tác phẩm kinh điển. Nhưng Đức Chúa Trời đã bảo tồn chính xác những gì Ngài xem là hữu ích cho con dân Ngài mà không cần thêm bất kỳ điều gì khác vào.

Sự xác nhận của Đấng Christ. Việc xác nhận cuối cùng về tính kinh điển của các tác phẩm trong Cựu Ước là lời chứng của Đấng Christ. Như đã lưu ý trong Chương 8, Chúa Giê-su liên tục làm chứng về thẩm quyền của Kinh Thánh (ví dụ: Giăng 10:35) và trích dẫn chúng trong lời dạy của Ngài (Mat. 21:42; 26:54; Giăng 5:39). Khi nói về Kinh Thánh hoặc “luật pháp và các lời tiên tri” hoặc “luật pháp”, chắc chắn là Chúa Giê-su đang đề cập đến bộ sưu tập các tác phẩm thánh nổi tiếng được công nhận là kinh điển giữa vòng những người Do Thái trong thời đó. Các sứ đồ trong thời Tân Ước, là những người được Chúa Giê-su giao phó sứ mệnh đem lời mặc khải có thẩm quyền đến nhiều nơi, cũng đã công nhận Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời.

 

Phạm vi Kinh điển Cựu ước                                                                   

 

Lời chứng của người Do Thái. Trong Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ, Cựu Ước gồm có hai mươi bốn sách được chia thành ba phần:

(1) Torah (sách luật pháp), bao gồm năm sách của Môi-se (Sáng-thế Ký, Xuất Ê-díp-tô Ký, Lê-vi Ký, Dân-số Ký, Phục-truyền Luật-lệ Ký);

(2) Các sách tiên tri, được chia thành bốn “Tiền Tiên tri” (Giô-suê, Các Quan Xét, Sa-mu-ên, Các Vua) và bốn “ Hậu Tiên tri” (Ê-sai, Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên, và sách của Mười hai Tiên tri, đây là các Tiểu Tiên tri, được đặt tên như vậy vì độ dài của sách tương đối ngắn);

(3) Các sách Văn thơ (Thi-thiên, Châm-ngôn, Gióp, Nhã-ca, Ru-tơ, Ca-thương, Truyền-đạo, Ê-xơ-tê, Đa-ni-ên, và E-xơ-ra – Nê-hê-mi (được xem như một sách).

Viết vào thế kỷ thứ nhất sau Chúa, Josephus đề cập đến việc Kinh Thánh được chia thành ba phần có tổng cộng hai mươi hai sách là những sách được soi dẫn. Đây cũng giống như Kinh Thánh gồm hai mươi bốn sách, trong đó Các Quan xét và Ru-tơ được tính là một sách và Giê-rê-mi và Ca-thương được tính là một sách.

Một trong những tài liệu tham khảo sớm nhất trong truyền thống Do Thái về việc Kinh Thánh gồm 24 sách được chia thành ba phần là trong tài liệu Baba Bathra 14b-15a, là một đoạn trong Talmud có niên đại từ 70-200 S.C. Việc liệt kê các sách trong mỗi phần của ba phần này được tuân theo các bản chép tay của người Do Thái sau này và Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ hiện nay, mặc dù thứ tự các sách trong phần các sách Tiên tri và các sách Văn thơ có phần khác nhau. Sự thay đổi thứ tự này xảy ra vì các sách được viết trên các cuộn giấy riêng biệt và không buộc lại với nhau. Tuy nhiên, thứ tự của năm sách đầu tiên được cố định, do trình tự thời gian của chúng.

Không rõ chính xác khi nào Kinh Thánh gồm ba phần được chia này trở thành tiêu chuẩn. Mặc dù Tân Ước đề cập đến, như chúng ta đã thấy, tất cả Cựu Ước là được viết bởi “các đấng tiên tri”, nó cũng thường đề cập đến Kinh Thánh gồm hai phần, “Luật pháp hoặc các lời tiên tri” (Mat. 5:17; 7:12; Rô-ma 3:21) hoặc “Môi-se và các đấng tiên tri” (Lu-ca 16:29). Tuy nhiên, việc Chúa Giê-su đề cập đến “Luật pháp Môi-se, các sách Tiên tri và Thi thiên” trong Lu-ca 24:44, có thể chỉ ra điều gì đó về Kinh Thánh gồm ba phần, trong đó Thi thiên là tác phẩm nổi bật nhất trong “Các sách Văn thơ”. Huấn ca, một tác phẩm thứ kinh vào thế kỷ thứ hai trước Chúa, đề cập đến “sách Luật pháp, các sách Tiên tri và các sách khác của tổ phụ chúng ta,” có lẽ là một sự đề cập đến Kinh Thánh gồm ba phần.

Do đó, bằng chứng từ truyền thống Do Thái chỉ ra một kinh điển gồm hai mươi bốn sách Cựu Ước, giống hệt với bộ kinh điển của Tin lành gồm ba mươi chín sách. Trong ba mươi chín sách, Sách của “Mười hai vị tiên tri” được gọi là sách  Tiểu Tiên tri và bốn sách của Sa-mu-ên, Các Vua, Sử Ký và E-xơ-ra – Nê-hê-mi trở thành tám sách.

Lời chứng của Cơ đốc nhân. Tân Ước cũng đưa ra cùng một sự xác nhận cho kinh điển Cựu Ước. Khi họ lặp đi lặp lại thuật ngữ “Kinh Thánh” —thuật ngữ này thường dùng để chỉ một về một đoạn Kinh Thánh nhất định nhưng cũng được dùng cho toàn bộ Cựu ước (Giăng 2:22; Công vụ 18:24; 2 Ti-mô-thê 3:16; 2 Phi-e-rơ 1: 20) —hoặc “Kinh Thánh” (ở dạng số nhiều) (Công vụ 17: 2, 11; Rô-ma 1: 2; 15: 4), mà các tác giả của Hội thánh đầu tiên, bắt đầu từ những người Do Thái, đề cập một cách rõ ràng đến các tác phẩm thánh được tuyển dân công nhận.

Tân ước bao gồm khoảng 250 câu trích dẫn và trên 900 câu ám chỉ đến Cựu ước.21 Các học giả có những ước tính khác nhau, tùy thuộc vào việc liệu một số lời tuyên bố nào đó được trích dẫn trực tiếp hay được diễn giải lại. Trong những tham chiếu đó, mọi phần Kinh Thánh trong Cựu ước đều được nói đến. Roger Nicole cho rằng Tân Ước có 278 “câu trích dẫn cụ thể, và những ám chỉ trực tiếp” đến từ Cựu Ước. Trong số đó, ông nói 94 câu là từ sách Luật pháp, 99 câu từ các sách Tiên tri và 85 câu từ các sách Văn thơ.22 Chỉ có Các Quan Xét, Ru-tơ, Nhã-ca, Truyền-đạo, Ê-xơ-tê, E-xơ-ra – Nê-hê-mi, Sử Ký, Áp-đia, Na-hum và Sô-phô-ni không được trích dẫn trong Tân Ước. Ba sách Tiên tri (Áp-đia, Na-hum và Sô-phô-ni), tất nhiên, là một phần của một sách trong Kinh điển của người Do Thái. Việc một số sách không được trích dẫn rõ ràng không có nghĩa là chúng không được coi là một phần của Kinh điển. Trên thực tế, khi chúng ta xem xét danh sách các đoạn Kinh Thánh gợi nhớ đến Cựu Ước, được gợi ý bởi một số học giả, tất cả ba mươi chín sách trong Cựu Ước đều được nhắc đến.23

Trong một số trường hợp, thật rất khó để tìm ra một câu trích dẫn từ một đoạn Kinh Thánh cụ thể trong Cựu ước. Ví dụ, mặc dù được giới thiệu là “Kinh Thánh” đã chép, nhưng lời tuyên bố của Chúa Giê-su, “Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình” (Giăng 7:38), không thể được tìm thấy một cách rõ ràng trong Cựu Ước. Tuy nhiên, ẩn dụ về nước phước lành thiên thượng được hứa ban qua sự đỗ đầy Thánh Linh được tìm thấy trong một số đoạn văn, bao gồm Ê-sai 44:3. Do đó, một số trích dẫn có thể là sự kết hợp của những lời dạy trong một số đoạn Kinh Thánh Cựu ước.

Một số người cho rằng các tác giả Tân Ước cũng trích dẫn các tác phẩm thứ kinh được cho là có thẩm quyền. Ví dụ, Giu-đe 14-15 đề cập đến lời tiên tri của Hê-nóc, lời tiên tri này thường được trích dẫn từ tác phẩm ngụy tạo 1 Hê-nóc 1:9. Tuy nhiên, cả Giu-đe và tác giả sách I Hê-nóc đều có thể lấy từ lời truyền khẩu. Tuy nhiên, ngay cả khi Giu-đe đã trích dẫn từ I Hê-nóc, điều này không có nghĩa là sách Hê-nóc là kinh điển. Sứ đồ Phao-lô đã trích dẫn các tác giả thế tục trong Công vụ 17:28 và Tít 1:12, nhưng điều đó không có nghĩa là các tác phẩm của những người đó được xem như một phần của Kinh Thánh.

Tiếp theo thời đại Tân Ước, Hội thánh đầu tiên “tự giới hạn mình trong những sách kinh điển truyền thống của người Do Thái, như chúng ta thấy trong danh sách của Melito,  Origen, Athanasius, Cyril và của những người khác.”24 Tuy nhiên, như được đề cập trong phần sau, một số nhà lãnh đạo cũng bị lôi cuốn từ các tác phẩm phi kinh điển của người Do Thái, đôi khi trích dẫn chúng như là “Kinh Thánh”. Các nhà Cải cách, theo sau Athanasius (khoảng 293-373) và những người khác, đã tái khẳng định cách mạnh mẽ các sách kinh điển truyền thống của người Do Thái là những tác phẩm kinh điển duy nhất của Cựu ước.25

Câu hỏi về Ngụy tạo và Ngụy kinh. “Ngụy tạo,” có nghĩa là “những lời sai lầm”, là tên được đặt cho một nhóm lớn các tác phẩm của người Do Thái được viết từ ​​năm 200 T.C đến năm 200 S.C. Một số các tác phẩm này tuyên bố là được  A-đam, Hê-nóc, Môi-se và E-xơ-ra viết. Phần nhiều trong số những tác phẩm này là lịch sử huyền thoại, giấc mơ và khải tượng, được viết để khích lệ đức tin của người Do Thái trong thời kỳ chịu khổ. Tuy nhiên, những nội dung sai lầm của những tác phẩm này, cùng với tính chất huyền ảo của một số câu chuyện và giáo lý sai đã khiến người Do Thái không thể chấp nhận những tác phẩm này như một phần của kinh điển Kinh Thánh.

Mối quan tâm của chúng ta chủ yếu là về các sách ngụy kinh (còn gọi là thứ kinh), mà cả Giáo hội Công giáo La mã và Chính thống giáo Đông phương đều cho là kinh điển. Mặc dù thuật ngữ “Apocrypha” xuất phát từ một từ Hy Lạp có nghĩa là “huyền bí”, nó được áp dụng cho những tác phẩm mà người Tin lành coi là phi kinh điển.26 Những tác phẩm này, còn được gọi là deutero-canonical (đệ nhị kinh điển), được Giáo hội Công giáo La Mã công nhận là kinh điển tại Hội đồng Trent vào ngày 8 tháng 4 năm 1548, với việc tuyên bố dứt phép thông công đối với bất kỳ ai từ chối chúng.

Một số Giáo phụ của Hội thánh đầu tiên đã công nhận Ngụy kinh như một phần của Kinh Thánh, và những người khác sử dụng chúng cho mục đích tĩnh nguyện hoặc giảng dạy nhưng không xem chúng là kinh điển. Chúng được đưa vào bản Septuagint, bản dịch Cựu ước bằng tiếng Hy Lạp, được xuất bản từ năm ​​150 đến năm 250 trước Chúa. Tuy nhiên, không chắc chắn rằng Ngụy kinh là một phần của ấn bản Septuagint vào thế kỷ thứ nhất sau Chúa. Điều quan trọng là vào giữa thế kỷ thứ nhất và thứ tư, hình dạng sách đã thay đổi từ sách cuộn sang sách đóng. Với các cuộn giấy viết, những sách được thêm vào này, mà người Do Thái coi là hữu ích nhưng không phải là kinh điển, được tách biệt với những sách khác. Tuy nhiên, việc đưa chúng vào bản tiếng Hy Lạp chắc chắn đã góp phần vào việc chúng được sử dụng trong Hội thánh đầu tiên, đặc biệt khi nhiều người trong hội thánh bên ngoài vùng Palestine không quen thuộc với kinh điển tiếng Hê-bơ-rơ. Tuy nhiên, nói chung, thực tế là một số Giáo phụ của Hội thánh đầu tiên (ví dụ, Clement ở La Mã, Clement ở Alexandria và Jerome) đã trích dẫn Ngụy kinh thường xuyên khiến cho những sách này được coi là Kinh Thánh.27

Việc Hội thánh sử dụng các sách Ngụy kinh đã tăng lên phần nào sau thời kỳ đầu này, nhưng danh sách các sách kinh điển, với một số thay đổi, vẫn là các sách kinh điển truyền thống của người Do Thái. Với sự công nhận của Augustine, các sách ngụy kinh đã được sử dụng trong giáo hội, mặc dù không rõ là ông xem chúng có thẩm quyền ngang hàng với các sách kinh điển khác hay không. Chúng vẫn là kinh điển thứ cấp cho đến khi, như đã ghi chú, Giáo hội Công giáo La Mã chính thức công bố chúng là các sách kinh điển vào thời điểm xảy ra cuộc Cải chánh.

Được viết từ năm 200 T.C đến năm 100 S.C, các tác phẩm Ngụy kinh phản ánh tình trạng tôn giáo, chính trị và xã hội trong những năm giữa Cựu ước và Tân ước. Tuy nhiên, có một số lý do để từ chối chúng là kinh điển.

Thứ nhất, không có danh sách các sách Cựu Ước nào của người Do Thái chứa những sách ngụy kinh này.

Thứ hai, trong khi Đấng Christ và các tác giả Tân Ước trích dẫn từ Cựu Ước, họ không bao giờ trích dẫn từ các Ngụy kinh như là Kinh Thánh có thẩm quyền, mặc dù họ biết về những sách này.

Thứ ba, trong bốn thế kỷ đầu tiên, tất cả danh sách các sách kinh điển, với một vài ngoại lệ nhỏ, đều loại trừ những sách này.

Thứ tư, nội dung của các sách Ngụy kinh chống lại tính kinh điển của Kinh Thánh. Các giáo lý sai lầm được dùng trong giảng dạy, chẳng hạn như trích dẫn từ Tôbia 12: 8-9, được ghi chú ở đầu chương này, dạy rằng việc bố thí dùng để chuộc tội. Cũng dạy về việc cầu nguyện và dâng hiến cho người chết, điều này được cho là ủng hộ cho giáo lý về ngục luyện tội. Sách Huấn ca 33: 25-27 biện minh cho sự tàn ác đối với nô lệ, và khinh miệt quyền phụ nữ được thấy trong Huấn ca 22: 3 (sinh con gái là một sự thiệt thòi) và 42:14 (đàn ông gian ác tốt hơn đàn bà tốt bụng). Ngoài ra, các sai sót về lịch sử  và thần thoại được tìm thấy trong một số sách Ngụy kinh.

Thứ năm, các sách thứ kinh không tuyên bố gì về sự soi dẫn; trên thực tế, chúng còn thậm chí ám chỉ đến sự vắng mặt của các tiên tri tại Y-sơ-ra-ên.

 

KINH ĐIỂN TÂN ƯỚC

 

Tân ước, giống như Cựu ước, không có chỗ nào trong Tân ước nói đến danh sách các sách sẽ được đưa vào Kinh Thánh Tân ước. Do đó, việc xác định kinh điển Tân ước của chúng ta phải đến từ các yếu tố thần học được tìm thấy trong cả Kinh Thánh Cựu ước và Tân ước cũng như lời chứng của các Cơ đốc nhân trong lịch sử của hội thánh. Quá trình này kéo dài vài thế kỷ.

 

Lịch sử Hình thành Kinh điển Tân ước

Việc chấp nhận Kinh điển Kinh Thánh Cựu ước đã tạo tiền đề cho sự hình thành Kinh điển Tân ước. Không có gì nghi ngờ, việc các Cơ đốc nhân thời Tân Ước đã sớm nhận được những lời dạy của Chúa Giê-su là có thẩm quyền ngang bằng hoặc lớn hơn so với những lời dạy của các tiên tri trong Cựu Ước (Giăng 1:17; Hê-bơ-rơ 1: 2; 2: 3). Do đó, những lời dạy và việc làm của Chúa Giê-su đã hình thành nên những yếu tố đầu tiên của một “kinh điển” mới cho các môn đồ của Ngài. Sự hình thành kinh điển cũng được chính Chúa Giê-su cho phép khi Ngài chọn các sứ đồ làm nhân chứng có thẩm quyền của Ngài (Mác 3:14; Công vụ 10: 39-42). Là đại diện có thẩm quyền của Đấng Christ, các sứ đồ là trụ cột và nền móng của hội thánh (Ma-thi-ơ 16:18; Ê-phê-sô 2:20; Khải huyền 21:14). Do đó, những lời dạy của các sứ đồ được coi là có thẩm quyền, như đã thấy trong mạng lệnh của Phao-lô đối với các Cơ đốc nhân ở Tê-sa-lô-ni-ca phải “vâng giữ những điều dạy dỗ mà chúng tôi đã truyền cho anh em, hoặc bằng lời nói, hoặc bằng thơ từ của chúng tôi” (2 Tê. 2:15; xem thêm 1 Cô. 14:37).

 

Lời truyền khầu của các sứ đồ đương nhiên có một ưu tiên nhất định, nhưng như H. N. Ridderbos lưu ý, các tài liệu thành văn đã trở thành hình thức cuối cùng cho các lời dạy của các sứ đồ. “Theo thời gian hội thánh bắt đầu được mở rộng trên toàn thế giới, các sứ đồ chỉ có thể liên lạc với các hội thánh bằng thư từ. Và khi các sứ đồ qua đời, thì việc truyền khẩu cũng giảm đi tính chính xác và trở nên ít đáng tin cậy hơn, vì vậy việc ấn định các lời dạy thành văn của các sứ đồ đương nhiên có tầm quan trọng hơn.”28

Khi một số tác giả Tân Ước yêu cầu các bức thư của họ nên được lưu hành và đọc trong các hội thánh, điều này có nghĩa là họ đang đặt các tác phẩm của họ ngang hàng với Kinh Thánh Cựu Ước, vốn thường được đọc trong các nhà hội. Và chắc chắn là các bản sao cũng được viết ra để các nơi khác cũng có thể có cùng những sách giống nhau. Việc Phi-e-rơ tham khảo các thư tín của Phao-lô cùng với “những phần Kinh Thánh khác” (2 Phi 3:16) đã đặt các tác phẩm của Phao-lô ngang hàng với Cựu ước và có thể thấy rằng Phi-e-rơ đã thêm chúng vào trong Kinh Thánh.

Các giáo phụ vào thời hội thánh hậu sứ đồ đã bắt tay vào các vấn đề thực tế và đạo đức của hội thánh đang mở rộng và do đó có rất ít thời gian để xem xét về tính kinh điển của Kinh Thánh. Vì vậy, họ đã không đưa ra bất kỳ tuyên bố rõ ràng nào về kinh điển. Thẩm quyền tối thượng của họ là Đấng Christ và sự mặc khải của Đức Chúa Trời về Ngài được cả các tiên tri Cựu Ước và các sứ đồ Tân ước công bố. Lúc đầu, các tài liệu tham khảo “Kinh Thánh” của các giáo phụ trong hội thánh đề cập đến Cựu ước, mặc dù họ coi các tác phẩm của các sứ đồ có thẩm quyền ngang với Cựu ước. Vào giữa thế kỷ thứ hai, Polycarp, Barnabas và  Clement đã trích dẫn Tân Ước. Theo Justin Martyr (khoảng năm 100-165), đây cũng là một truyền thống đối với các Cơ đốc nhân khi họ gặp nhau vào các ngày Chủ nhật để nghe đọc “hồi ký” của các sứ đồ (đề cập đến các sách Phúc âm) hoặc các sách của các  tiên tri (Cựu ước). Vì vậy, các sách Tân ước bắt đầu được thay thế như các sách kinh điển cùng với kinh điển Cựu ước.29

Vào thế kỷ thứ hai, một số phong trào bên ngoài, đặc biệt là Thuyết Ngộ Giáo và Thuyết Nhị Nguyên, đã thách thức phạm vi của kinh điển Tân Ước. Nỗ lực của người theo Thuyết Ngộ Giáo là để có nhiều tác phẩm Ngộ đạo được công nhận là phù hợp với giáo lý của các sứ đồ và nỗ lực của những người theo Thuyết Nhị Nguyên là để giới hạn kinh điển trong phạm vi của mười thư tín Phao-lô và một bản chỉnh sửa của Lu-ca,  rõ ràng tất cả những điều này đã thúc đẩy hội thánh suy xét một cách có ý thức hơn về giới hạn và phạm vị của các tác phẩm đích thực của các sứ đồ.”30

Theo Eusebius (khoảng năm 260-339), giáo hội đã thảo luận về ba loại tác phẩm: “được công nhận”, “bị tranh luận” và “dị giáo.”31 Trong số những sách được công nhận thuộc về Tân Ước, có bảy sách ở trong tình trạng tranh luận trong một thời gian, vì một số lời dạy trong đó hoặc vì chúng chưa được biết đến rộng rãi ở cả phương Đông và phương Tây. Chúng bao gồm Hê-bơ-rơ, Gia-cơ, 2 Phi-e-rơ, 2 Giăng, 3 Giăng, Giu-đe và Khải Huyền. Trong trường hợp của sách Hê-bơ-rơ, việc cho rằng quyền tác giả thuộc về các sứ đồ là điều không chắc chắn. Tuy nhiên, theo lời chứng ban đầu, khi sự thật về những cuốn sách này được biết đến, tất cả đều được xem là kinh điển. Lời chứng đầu tiên cho tính kinh điển của hai mươi bảy sách trong Tân Ước là trong một bức thư của Athanasius (đề năm 367 S.C). Với cùng một danh sách các sách kinh điển được đưa ra tại Hội nghị thứ ba ở Carthage vào năm 397 và được đưa ra một lần nữa trong một Hội nghị khác ở Carthage vào năm 419. Dunbar kết luận rằng “thật là thích hợp … khi nói về kinh điển Tân Ước đã đạt được hình thức hiện tại của nó trong hầu hết các hội thánh trong suốt thế kỷ thứ năm.”32

 

Tiêu chuẩn cho Tính Kinh điển của Tân Ước

Vì các sứ đồ được công nhận là người đại diện có thẩm quyền của Chúa Giê-su Christ, nên tiêu chuẩn chính để công nhận một sách trong Tân Ước là sách kinh điển là liệu sách đó có được viết bởi một sứ đồ hay một cộng sự của sứ đồ mà những lời dạy của họ phù hợp với những lời dạy của một sứ đồ hay không. Lời chứng được thành văn hay truyền khẩu của các sứ đồ về những lời dạy và việc làm của Đấng Christ là “nền tảng” của Hội thánh sơ khai và là quy chuẩn cuối cùng của đức tin và thực hành. Vì vậy, chẳng hạn, Justin Martyr đã nói Phúc âm Mác là “Hồi ký của Phi-e-rơ.” Tiêu chuẩn về sự phù hợp với giáo lý của các sứ đồ được thấy rõ trong lời tuyên bố của Tertullian người chống lại thuyết Nhị Nguyên. “Tôi tuyên bố rằng tác giả của các tác phẩm phúc âm là các sứ đồ, và nhiệm vụ công bố phúc âm này được giao cho các sứ đồ bởi chính Chúa. Nếu tác giả của các sách phúc âm này là những người thuộc hàng các sứ đồ, thì họ sẽ không bao giờ đứng riêng lẻ, nhưng là những nguời cộng sự của các sứ đồ hoặc là những môn đồ của các sứ đồ.”33

Sự phù hợp với giáo lý của các sứ đồ là tiêu chuẩn thiết yếu cũng được chứng minh bởi thực tế là nhiều tác phẩm Ngộ đạo phi kinh điển được cho là của các sứ đồ khác nhau nhằm cố gắng xác nhận những tác phẩm đó là có thẩm quyền.

Trong những trường hợp mà quyền tác giả không được biết đến (chẳng hạn như Sách Hê-bơ-rơ), thì tác phẩm được đánh giá bằng cách xem nó có phù hợp với “quy chuẩn của đức tin” hay phù hợp với tính chính thống được thừa nhận theo lời dạy truyền thống của các sứ đồ hay không. Ngoài ra, thực tế thì việc tác phẩm được xem là có thẩm quyền và được các hội thánh sử dụng rộng rãi và liên tục đã đóng một phần trong việc xác định tính kinh điển của nó.

 

KẾT LUẬN

 

Việc thiết lập kinh điển của Kinh Thánh Cựu ước và Tân ước là công việc của Đức Chúa Trời trước hết là mặc khải chính Ngài và sau đó cho phép con dân Ngài nhận ra Lời mặc khải của Ngài, bằng cách xác nhận các dấu hiệu và lời chứng của Thánh Linh trong lòng họ.

 

Sự mặc khải đặc biệt của Đức Chúa Trời trong cả Cựu ước và Tân ước về bản chất là sự kết nối kế hoạch cứu chuộc của Ngài tập trung vào Đấng Christ. Các đấng tiên tri được Đức Thánh Linh soi dẫn (1 Phi-e-rơ 1:11) đã dọn đường cho sự đến của Đấng Mê-si-a và sự cứu rỗi qua chính Ngài. Các sứ đồ, được Chúa Giê-su cho phép và được Thánh Linh soi dẫn, để công bố và viết về Chúa Giê-su thành Na-xa-rét và các công việc của Ngài như là sự hoàn thành các lời tiên tri đã chép trước đó. Bản ghi chép được thần cảm về các hành động cứu rỗi lịch sử của Đức Chúa Trời, mà đỉnh cao là công việc của Đấng Christ trên thập tự giá, qua đó xác định phạm vi của kinh điển.

 

 

 

 

 

14

KINH THÁNH CÓ QUAN TRỌNG VÀO NGÀY NAY?

 

 

 

THẦN HỌC GIA TỰ DO Don Cupitt khẳng định rằng “con người hiện đại muốn sống cuộc sống của riêng họ, có nghĩa là đưa ra các quy tắc của riêng họ, định hướng lối đi cho cuộc sống do chính họ chọn.”1 Quyền lực trong thời đại của chúng ta là một khái niệm tiêu cực, đàn áp. Tuy nhiên, một trong những sự thật của lịch sử nói rằng với tư cách là con người hữu hạn, chúng ta chắc chắn sẽ phải phục vụ một số quyền lực nhất định. Hoặc là chúng ta sẽ sống dưới quyền của Đức Chúa Trời, Đấng tạo dựng nên chúng ta, hoặc là chúng ta sẽ sống dưới quyền một vị thần nào đó, người mà cuối cùng hóa ra lại là chính chúng ta. Như Seneca (khoảng năm 4 trước Công nguyên – 65 sau CN), chính khách và nhà triết học La Mã, đã chỉ ra rằng, nếu chúng ta là thẩm quyền riêng của chính mình, chúng ta tự nô lệ cho chính mình, đó là sự trói buộc tồi tệ nhất. 2

Tự do đích thực, theo Kinh Thánh và lẽ thường là điều đó chỉ đến khi chúng ta phục tùng thẩm quyền của Đấng Tạo Hóa, Đấng yêu thương các tạo vật của Ngài và đã mặc khải cho họ cách có được sự sống sung mãn mà Ngài đã tạo ra. Không ai tự do hơn Chúa Giê-su, người biết ý muốn của Cha Ngài và luôn làm theo ý muốn đó. “Bởi ta chẳng nói theo ý riêng ta; nhưng Cha sai ta đến, đã truyền lịnh cho ta phải nói điều chi và phải nói thể nào. Ta biết mạng lịnh Cha, ấy là sự sống đời đời.” (Giăng 12: 49-50; xem thêm 5:30; 8:28-29; 14:31). Chúa Giê-su hứa sẽ ban sự tự do và sự sống giống như vậy cho những ai vâng phục Ngài và sự dạy dỗ của Ngài. “Vậy, nếu Đức Con giải phóng các người, thì các người mới thật sự được tự do” (8:36). Sự tự do đó sẽ được nhận ra thông qua việc vâng phục Lời Ngài: “Nếu các ngươi hằng ở trong đạo ta… các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông-tha các ngươi” (8:31-32).

Sự tự do, điều mà được mong muốn ngày nay, sự tự do dẫn đến sự sống sung mãn, chỉ có được khi chúng ta vâng phục quyền bính của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ, là điều đã được truyền đạt cho chúng ta trong Lời Ngài. Vì Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời, nên điều tối quan trọng là chúng ta phải vâng phục thẩm quyền của Kinh Thánh.

Satan là kẻ thù của chúng ta, nó làm tất cả những gì có thể thông qua nhiều cách khác nhau để cản trở chúng ta trong việc trở nên hoàn toàn vâng phục Đức Chúa Trời và Lời Ngài. Thành công của nó trong việc cản trở này thể hiện ở việc thực tế rằng Kinh Thánh, mặc dù là một cuốn sách bán chạy nhất, nhưng hiếm khi được nhiều người đọc hoặc nghiên cứu và thậm chí còn bị coi thường.

Những điều gì làm cho Kinh Thánh trở nên có thẩm quyền trong cuộc sống của chúng ta? Chúng ta nhất định phải làm ba điều này: tôn cao Kinh Thánh như thẩm quyền tối thượng của chúng ta, hiểu rõ thông điệp của Kinh Thánh để nó có thể thực hiện chức năng như uy quyền của chúng ta, và cho phép nó điều khiển cuộc sống của chúng ta.

 

TÔN CAO KINH THÁNH NHƯ THẨM QUYỀN TỐI THƯỢNG

CỦA CHÚNG TA

Phải công nhận rằng Kinh Thánh được mặc khải là Lời của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã ban để cứu rỗi và hướng dẫn chúng ta trong trần thế. Tuy nhiên, đây lại là một vấn đề khác cho việc xác minh rằng làm thế nào thẩm quyền của Đức Chúa Trời qua Lời Ngài thực sự bao phủ đời sống chúng ta. Nói một cách khác, làm sao chúng ta có thể biết được ý muốn có thẩm quyền của Đức Chúa Trời? Cách một người trả lời câu hỏi này sẽ xác định xem liệu anh ấy hoặc cô ấy có đặt Kinh Thánh lên làm thẩm quyền tối thượng của mình hay không.

Qua nhiều thế kỷ, con người đã trả lời câu hỏi này theo một trong ba cách: Ý muốn của Đức Chúa Trời được xác định bởi kinh nghiệm thuộc linh của con người, hoặc bởi sự dạy dỗ có thẩm quyền của hội thánh, hoặc bởi chính Kinh Thánh được Đức Thánh Linh dạy dỗ. Một số người có thể chấp nhận nhiều hơn một trong số những điều này là lời phán của Đức Chúa Trời, nhưng chắc chắn chỉ có một điều có thể được coi là tối hậu và đó là kết luận cuối cùng.

 

 

Kinh Nghiệm Thuộc Linh Của Con Người 

Trong cách tiếp cận này, uy quyền của Đức Chúa Trời sẽ chỉ được tìm thấy trong các ý kiến chủ quan của cá nhân. Kinh Thánh cũng như lời chứng của dân sự Đức Chúa Trời có thể hữu ích trong quá trình này, nhưng kinh nghiệm của mỗi cá nhân cuối cùng mới xác nhận nhận ý muốn của Đức Chúa Trời.

Theo quan điểm này, Kinh Thánh có thẩm quyền ở mức độ phù hợp với lý trí. Điều này có thể mang ý nghĩa là chuyển giao sự dạy dỗ và dữ liệu trong Kinh Thánh cho những kết luận mới nhất của các phương pháp tiếp cận lịch sử – phê bình đối với Kinh Thánh. Hoặc nó có thể mang nghĩa là điều chỉnh Kinh Thánh phù hợp với những tư tưởng chủ đạo của nền văn hóa hiện đại.

Ý kiến này liên quan đến thẩm quyền của Kinh Thánh thường được những người khước từ sự thần cảm trọn vẹn và tính chất vô ngộ của Kinh Thánh nắm giữ. Họ cảm thấy rằng một số thẩm quyền bên ngoài Kinh Thánh nhất định phải cho họ biết cụ thể nơi nào Kinh Thánh nói lẽ thật của Đức Chúa Trời và nơi nào chỉ là lời nói của một trước giả sai lầm. Kiến thức và lý trí của con người đóng vai trò là tòa phúc thẩm cuối cùng để quyết định cho các lẽ thật trong Kinh Thánh.

Quan điểm này thậm chí còn được chấp nhận từ một số người tuyên bố tin vào sự thần cảm thiên thượng. Ví dụ, một số người dạy rằng đồng tính luyến ái, khi được thực hành trong các mối quan hệ cam kết, là được tán thành trong Kinh Thánh. Kể cả trong trường hợp có một số người nói rằng vai trò của nam giới và phụ nữ hoàn toàn có thể hoán đổi cho nhau trong gia đình và trong hội thánh.  Kinh nghiệm của con người mang một vai trò mạnh mẽ nếu không muốn nói là quyết định. Phần sau đây được một nhà truyền giáo viết gửi cho biên tập viên của một tạp chí Cơ đốc nổi tiếng dành cho những sinh viên đại học. “Vào một thời điểm lịch sử khi xã hội thế tục bắt đầu dậy sóng các vấn đề liên quan đến sự bất công hàng thế kỷ đối với phụ nữ, thật không khôn ngoan và không công bằng khi các ấn phẩm truyền giáo nhấn mạnh những đoạn Kinh Thánh liên quan đến sự bất bình đẳng giữa các giới. Bằng cách tiếp tục theo một lộ trình như vậy, những người truyền đạo sẽ chỉ thêm dầu vào quan niệm thế tục được phổ biến bấy giờ rằng nhà thờ Cơ đốc là một tổ chức lỗi thời dành riêng cho việc duy trì hiện trạng, cho dù hiện trạng đó có thể là bất công và vô nhân đạo đến mức nào.”3

Gần đây hơn, một trưởng lão của một hội thánh tin lành đã thừa nhận với đồng nghiệp của tôi rằng anh ấy sẽ xấu hổ khi đọc lời dạy của Phao-lô về vợ và chồng trong Ê-phê-sô 5:21-33 cho những người mà ông mời đến nhà thờ.

Những thí dụ minh họa này phản ánh về sự khuất phục của các thầy giảng tin lành đối với các quan điểm văn hóa đương thời. Nhưng những người khác đang đề xuất “tiêu chí ngoài sức thuyết phục” hợp lý hơn để xác định thẩm quyền của các bản văn Kinh Thánh.4 Sử dụng các yếu tố văn hóa thực dụng “ngoài Kinh Thánh” được cho là nằm sau Tân Ước về mối quan hệ vợ chồng. Một nhà nghiên cứu về phúc âm kết luận rằng các yếu tố thực dụng không còn xuất hiện trong văn hóa đương đại và do đó ngày nay giáo huấn trong Ê-phê-sô 5 nên được hiểu là “một loại danh dự” và “sự tôn trọng” để người vợ thể hiện với chồng mình.5 Đây rõ ràng là những hiểu biết đi ngược với Kinh Thánh. Cho dù những khám phá lịch sử và khoa học, đã làm tăng sự hiểu biết của chúng ta về các phần của Kinh Thánh. Nhưng phải hết sức lưu ý đừng để sự hiểu biết và lý trí của con người chiếm đoạt thẩm quyền của Kinh Thánh. Theo lời của nhà thần học John Frame, “Những gì chúng ta giải thích về giáo huấn của Kinh Thánh phải chiếm ưu thế, ngay cả khi dường như có mâu thuẫn. Điều này phải vượt lên trên những gì chúng ta giải thích về mặc khải phổ quát … một khi chúng ta tin chắc rằng Kinh Thánh dạy x, chúng ta phải tin điều đó, ngay cả khi sự mặc khải phổ quát dường như dạy rằng không phải x.”6

Đối với một số người, tư tưởng duy lý trở thành thẩm quyền tôn giáo tối thượng, thậm chí trên cả Kinh Thánh. Một số khác thì lại xem quyền bính là cảm xúc tôn giáo hoặc những trải nghiệm mang tính thần bí nào đó. Sự nổi bật của kiểu suy nghĩ này được thể hiện rõ trong tác phẩm gần đây Lửa Từ Trời, được nhà thần học tự do Harvey Cox chấp bút. Nhìn lại cuộc xung đột tôn giáo trong ba thế kỷ qua giữa khoa học hiện đại và tôn giáo truyền thống, Cox nói rằng cuộc đấu tranh tiếp theo sẽ là giữa những người chú trọng vào vào lẽ thật được nhận thức và chủ nghĩa kinh nghiệm – một loại trải nghiệm tâm linh cá nhân như kiểu như uống cà phê mà trong đó các lẽ thật được chấp nhận khi “đụng chạm” tới những kinh nghiệm hàng ngày của cá nhân.7

Nhưng dựa trên cơ sở nào, chúng ta có thể kết luận rằng một kinh nghiệm nào đó của con người (lý trí hoặc tình cảm) là sự diễn đạt có thẩm quyền cho Lời phán từ Đức Chúa Trời? Và kinh nghiệm của ai sẽ được coi là quy chuẩn? Thay vì phán xét Kinh Thánh, kinh nghiệm của con người chúng ta phải được phán xét và biến đổi từ quy chuẩn đó. Kinh Thánh phải được tiếp nhận như là Lời khách quan của Đức Chúa Trời, đứng trên chúng ta để tất cả kinh nghiệm của con người được khuất phục trước nó.

 

Thẩm Quyền Giảng Dạy của Giáo Hội

Cách tiếp cận thứ hai đối với thẩm quyền của Kinh Thánh nói rằng thẩm quyền của Kinh Thánh được truyền đạt cho chúng ta qua thẩm quyền của giáo hội. Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo (1994), do Giáo hoàng John Paul Đệ Nhị khởi xướng và được ban hành dưới sự chỉ đạo của ông, tuyên bố rằng mặc khải thiêng liêng của phúc âm được truyền tải dưới hai hình thức: Thánh Kinh  và Thánh Truyền (sacred tradition: truyền thống thiêng liêng).8 Trong khi theo truyền thống chúng được xem như hai nguồn mặc khải riêng biệt, tuy nhiên có một khuynh hướng  trong giáo hội Công Giáo gần đây xem chúng như một.  Trích dẫn một tài liệu từ Công đồng chung Vatican II, Sách Giáo lý tuyên bố, “Thánh Truyền và Kinh Thánh tạo nên một kho tàng thiêng liêng duy nhất về Lời Chúa.”9 Mọi điều trong truyền thống giáo hội được cho là được tìm thấy trong Kinh Thánh một cách rõ ràng hoặc ẩn ý.10

Theo quan điểm này, cơ quan giảng dạy của Giáo Hội, được gọi là Huấn quyền của Giáo Hội, có nhiệm vụ, với tư cách là người kế vị các sứ đồ, đưa ra cách giải thích xác thực về Lời Chúa – Kinh Thánh và Thánh Truyền khi được quy định là tín điều, đều được xem là chân lý không thể sai lầm.11 Chân lý không thể sai lầm này sau đó trở thành truyền thống trong Công giáo. Giáo hội La Mã, đảm nhận vai trò là người thông dịch, giải thích đáng tin về Thánh Truyền và Kinh Thánh, do đó làm thẩm quyền trung gian của sự mặc khải thiêng liêng về Lời Đức Chúa Trời cho dân Ngài. Như Sách Giáo Lý Công giáo giải thích, “Thánh Truyền, Kinh Thánh, và Huấn Quyền của Giáo Hội được kết nối chặt chẽ đến nỗi một trong hai không thể đứng vững nếu không có cái khác…. Giáo hội với giáo lý, cuộc sống và sự thờ phượng của mình đã tồn tại và truyền lại cho mọi thế hệ đi sau về tất cả những gì bản thân Giáo hội đang làm và tin tưởng.”12 Nhà văn Công giáo Mark Shea cũng giải thích điều này về mối quan hệ của Kinh Thánh với giáo hội và Thánh truyền.

Đức tin Công giáo có thể đồng ý rằng Kinh Thánh là đủ. Nhưng nó cũng cảnh báo rằng có sự khác biệt.  Nói một cách đơn giản, đó là sự khác biệt giữa việc có một đống gạch đủ lớn để xây một ngôi nhà và có một ngôi nhà bằng gạch. Sự đầy đủ về vật chất có nghĩa là tất cả những viên gạch cần thiết để xây dựng giáo lý đều có trong Kinh Thánh. Tuy nhiên, nó cũng dạy rằng vì ý nghĩa của Kinh Thánh không phải lúc nào cũng rõ ràng và đôi khi một giáo lý được ngụ ý hơn là rõ ràng, nên những thứ khác ngoài Kinh Thánh đã được các sứ đồ truyền lại cho chúng ta như: Truyền thống thiêng liêng  và Huấn quyền hoặc thẩm quyền giảng dạy của Giáo hội. Tổng hợp lại, ba điều này — Sách Thánh, Thánh Truyền và Huấn Quyền — là đủ để biết lẽ thật được mặc khải của Đức Chúa Trời.13

 

 

Công Giáo La Mã không đơn độc trong việc khẳng định sự vô ngộ của thánh truyền cùng với Kinh Thánh. Timothy Ware, trong một tác phẩm phổ biến trong giáo hội đã nói một cách cụ thể, “Các định nghĩa giáo lý của một Công đồng Đại kết là không thể sai lầm. Do đó, cái nhìn của Nhà thờ Chính thống, tuyên bố về đức tin do bảy hội đồng đưa ra, cùng với Kinh Thánh, là một thẩm quyền bền vững và không thể thay đổi.”14 Vì vậy, một số giáo lý của hội thánh được đặt cùng với Kinh Thánh là có thẩm quyền tối thượng ngang nhau.

Một số người Tin Lành ngày nay đang khuyến khích các Cơ đốc nhân dành một nơi tôn trọng hơn cho truyền thống. Họ chỉ ra một cách đúng đắn rằng những giáo lý lịch sử chính thống về các nguyên lý trung tâm của đức tin Cơ đốc có thể giúp bảo vệ giáo hội trước những nguy cơ tuân theo các chuẩn mực văn hóa phổ biến. Họ cũng hy vọng rằng sự cương quyết này sẽ mang lại sự đoàn kết hơn nữa trong một giáo hội bị rạn nứt trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa thế tục. Tuy nhiên, đôi khi họ cương quyết đánh giá cao truyền thống đến nỗi gần như làm mờ nhạt địa vị độc tôn của Kinh Thánh là thẩm quyền tối thượng. Một ví dụ về điều này được nhìn thấy trong tác phẩm gần đây Tìm Lại Truyền Thống Và Đổi Mới Truyền Giáo, của Daniel H. Williams, một mục sư Báp-tít được phong chức. Ông này cũng giảng dạy về các giáo phụ và thần học lịch sử tại Đại học Loyola Chicago. Ông thường xuyên liên kết Kinh Thánh và các giáo phụ của Hội thánh đầu tiên lại với nhau như một thẩm quyền chuẩn mực cho các tín hữu. Ông đề cập đến “nền tảng duy nhất về tông đồ và giáo phụ.”15 Ông nói lần nữa: “Giống như Kinh Thánh, Thánh truyền của giáo hội có nguồn gốc từ chính Đức Chúa Trời ba ngôi, đến với chúng ta từ Cha, thông qua Con trong Thánh Linh. Kinh Thánh và Thánh truyền không phải là hai nguồn khác nhau của thẩm quyền và lẽ thật.”16 Có tuyên bố rằng “Thánh truyền ban đầu của giáo hội cung cấp cơ sở để xác định nền tảng của nó”17 nghe có vẻ gần giống với quan điểm của giáo hội Công giáo rằng nhà thờ là cần thiết để làm trung gian cho thẩm quyền của Kinh Thánh đối với các Cơ đốc nhân.

 

 

Chỉ Có Duy Nhất Kinh Thánh

Quan điểm thứ ba cho rằng Đức Thánh Linh bày tỏ quyền bính Ngài cho dân Ngài chỉ qua Kinh Thánh. Giáo lý Tin lành cổ điển này được gọi là Sola Scriptura  (Duy nhất Kinh Thánh) được nêu rõ trong Tuyên xưng Đức tin của các nhà thờ Pháp chịu ảnh hưởng của John Calvin vào năm 1559: “Chúng tôi tin rằng Lời trong những cuốn sách này đã đến từ Đức Chúa Trời, và đây là Kinh Thánh có thẩm quyền của Ngài, chứ không phải là sản phẩm của loài người. Và nó là quy luật của mọi lẽ thật, chứa đựng tất cả những gì cần thiết cho việc phụng sự Đức Chúa Trời và sự cứu rỗi của chúng ta. Con người hay thậm chí các thiên sứ cũng không được thêm vào, hay lấy đi hoặc thay đổi nó. Theo đó, không có thẩm quyền nào, dù là cổ xưa, hay tục lệ, hoặc những con số, hoặc sự khôn ngoan của loài người, hoặc những phán xét, hoặc tuyên ngôn, hoặc sắc lệnh, hoặc nghị định, hoặc hội đồng, hoặc khải tượng, hoặc phép lạ, không được chống lại những lời Kinh Thánh này, nhưng ngược lại, tất cả mọi thứ đó nên được kiểm tra, điều tiết và cải cách theo Kinh Thánh.”18

Thuật ngữ Sola Scriptura cũng đề cập đến sự đầy đủ của Kinh Thánh, nghĩa là Kinh Thánh chứa đựng tất cả lẽ thật cần thiết cho sự cứu rỗi và đời sống tâm linh. Đối với những người vô tín đang tìm kiếm sự chỉ dẫn, Ê-sai đã tuyên bố, “Một dân-tộc há chẳng nên cầu hỏi Đức Chúa Trời mình sao? Hãy theo luật pháp và lời chứng! Nếu dân chẳng nói như vậy, chắc sẽ chẳng có rạng-đông cho nó” (Ê-sai 8:19-20). Những lời này của Ê-sai là một câu nói yêu thích của John Wesley khi ông “tìm cách thực hiện mệnh lệnh của mình là mọi sự dạy dỗ phải được Kinh Thánh thử nghiệm.”19

Tương tự như vậy, Chúa Giê-su liên tục xem Kinh Thánh là thẩm quyền tối hậu của Đức Chúa Trời. Để đáp lại lời yêu cầu của người đàn ông giàu có rằng ai đó từ cõi chết được sống lại sẽ cảnh báo anh em của ông ta về sự phán xét của Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su chỉ nhấn mạnh vào thẩm quyền và sự đầy đủ của Kinh Thánh. “Nếu không nghe Môi-se và các đấng tiên-tri, thì dầu có ai từ kẻ chết sống lại, chúng nó cũng chẳng tin vậy” (Lu-ca 16:31). Câu trả lời của Ngài đối với những người hỏi Ngài là minh chứng cho việc Ngài liên tục sử dụng Kinh Thánh như một vị thẩm phán tối cao của lẽ thật trong các cuộc đối đầu với họ: “Các ngươi lầm, vì không hiểu Kinh Thánh” (Ma-thi-ơ 22:29). Ngài đã nói về Kinh Thánh, “Ấy là Kinh-Thánh làm chứng về ta vậy” (Giăng 5:39).

Điều đáng kể nhất là những lần Chúa Giê-su bác bỏ những truyền thống đã được xây dựng xung quanh Kinh Thánh từ các nhà lãnh đạo Do Thái giáo. Khi được hỏi vì sao các môn đồ theo Ngài “phạm lời truyền-khẩu của người xưa?” Chúa Giê-su đã trả lời rằng, “Còn các ngươi sao cũng vì cớ lời truyền-khẩu mình mà phạm điều-răn của Đức Chúa Trời? Như vậy, các ngươi đã vì lời truyền-khẩu mình mà bỏ lời Đức Chúa Trời.” (Ma-thi-ơ 15:2-3, 6). Sau đó, Chúa Giê-su trích dẫn những lời của Ê-sai, mà quở trách những người này vì “chúng nó dạy theo những điều-răn mà chỉ bởi người ta đặt ra” (15:7-9; xem thêm Mác 7: 5-13). Nhiều lần trong Bài giảng trên núi, Chúa Giê-su phán, “Các ngươi đã nghe … song ta nói cùng các ngươi ….” Chắc chắn Ngài đến đặng làm trọn vẹn luật pháp và các truyền thống tốt đẹp đã có từ lâu trong Kinh Thánh. Ngài dạy, “Các ngươi có nghe lời phán rằng: Hãy yêu người lân-cận, và hãy ghét kẻ thù-nghịch mình. Song ta nói cùng các ngươi rằng: Hãy yêu kẻ thù-nghịch, và cầu-nguyện cho kẻ bắt-bớ các ngươi” (Ma-thi-ơ 5:43-44).

Ngoài ra, các sứ đồ cũng tuyên bố Kinh Thánh như là tòa phúc thẩm cuối cùng của họ. Phao-lô gửi lời khen đến các tín đồ ở Bê-rê vì họ “ngày nào cũng tra xem Kinh Thánh, để xét lời giảng  có thật chăng.” (Công vụ 17:11). Vị sứ đồ này cũng mong muốn rằng người Cô-rinh-tô “chớ vượt qua lời đã chép” (1 Cô-rinh-tô 4:6), nghĩa là chỉ nên sống đúng theo Kinh Thánh.20 Chỉ duy Kinh Thánh là đủ cho các tín đồ. Như Phao-lô đã viết thư gửi cho người con trai thuộc linh của mình, “từ khi con còn thơ-ấu đã biết Kinh-thánh vốn có thể khiến con khôn-ngoan để được cứu bởi đức-tin trong Đức Chúa Giê-su-Christ. Cả Kinh-Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi-dẫn, có ích cho sự dạy-dỗ, bẻ-trách, sửa-trị, dạy người trong sự công-bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành” (2 Ti-mô-thê 3:15-17). Chrysostom, nhà thuyết giáo vĩ đại ở thế kỷ thứ tư và là một giáo phụ, đã diễn giải những lời của sứ đồ Phao-lô theo cách sau: “Con hãy xem Kinh Thánh như một người thầy, thay vì xem ta như thế; từ đó con có thể học bất cứ điều gì con muốn biết”21

Dường như sẽ hợp lý rằng nếu xem các lời dạy của chức vụ sứ đồ có thẩm quyền, là lời mặc khải của Đức Chúa Trời nằm bên ngoài Kinh Thánh, thì chúng ta có thể mong đợi lời dạy của các tiên tri trong Cựu Ước cũng có thẩm quyền tương tự. Tuy nhiên, Tân Ước không đưa ra bằng chứng nào để xem lời dạy của các tiên tri mà không viết thành văn tự có thẩm quyền ngang bằng với Kinh Thánh. Trên thực tế, như chúng ta đã thấy, nó chỉ ra mối nguy hiểm khi đặt lời truyền khẩu bên ngoài Kinh Thánh ngang hàng với Lời thành văn.

Sự thật là dân sự của Đức Chúa Trời phải vâng phục những lời dạy có thẩm quyền của các sứ đồ (và của các nhà tiên tri trong Cựu Ước), dù bằng văn tự hay lời nói. Vì vậy, Phao-lô khuyến khích các tín đồ tại Tê-sa-lô-ni-ca “Hỡi anh em, vậy thì hãy đứng vững, hãy vâng-giữ những điều dạy-dỗ mà chúng tôi đã truyền cho anh em, hoặc bằng lời nói, hoặc bằng thơ-từ của chúng tôi” (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:15; xem thêm 3:6; 1 Cô-rinh-tô 11:2). Ti-mô-thê đã truyền lại cho người khác những điều ông đã “nghe” từ sứ đồ Phao-lô, chứ không chỉ những điều ông đã đọc trong các thư tín của Phao-lô (2 Ti-mô-thê 2:2). Sự dạy dỗ ngay thẳng của các tiên tri hay sứ đồ đều có thẩm quyền, dù được nói hay viết, vì nó đang truyền đạt ý muốn của Đức Chúa Trời. Nhưng sau thời đại các sứ đồ, sự dạy dỗ duy nhất có thể được chứng thực giống như chức vụ các sứ đồ chính là những gì chúng ta có dưới dạng văn tự. Không có bằng chứng Kinh Thánh nào về sự kế thừa chức vụ của các sứ đồ. Chúng ta phải cảnh giác với những người đưa ra cách giải thích Kinh Thánh và thêm cách giải thích đó vào việc phát triển các tín điều mà họ gán cho là không thể sai lầm. Những người được trao trọng trách chuyển giao truyền thống sứ đồ cho các thế hệ nối tiếp không bao giờ được gọi là “sứ đồ.” Thay vào đó, với tư cách là những người thầy và người rao giảng, họ phải trung thành công bố đức tin của các sứ đồ vốn “đã được truyền cho các thánh một lần đủ rồi” (Giu-đe 3). Do đó, lời của các sứ đồ tiếp tục được giảng dạy trong hội thánh thông qua Kinh Thánh có thẩm quyền chứ không phải trong ban giảng huấn của giáo hội. Như Oscar Cullmann đã nói, “Các sứ đồ không thể có bất kỳ người kế vị nào có thể thay thế để làm người mang mặc khải cho các thế hệ mai sau, nhưng hầu hết đều tự mình tiếp tục hoàn thành chức vụ trong hội thánh ngày nay (lưu ý: trong hội thánh, chứ không phải nhờ hội thánh.) Lời của các sứ đồ được Chúa Giê-su đề cập trong Giăng 17:20, “kẻ sẽ nghe lời họ mà tin đến Con nữa.” Hay nói một cách khác:  lời thành văn của các sứ đồ được chúng ta tiếp nhận để đi đến chỗ tin cậy Chúa Giê-su.”22

 

Lẽ thật này được sinh ra từ sự công nhận của giáo hội về một quy điển Kinh Thánh (xem chương 13). Khi xác định một quy điển khép kín của Kinh Thánh, nhà thờ đã phân biệt giữa sự mặc khải kinh điển và tất cả các truyền thống tiếp theo. Về bản chất, giáo hội cho rằng truyền thống tiếp theo phải vâng phục sự kiểm soát của Kinh Thánh.

Trên thực tế, đây là lời chứng của một số nhà lãnh đạo vĩ đại của hội thánh. Chắc chắn, đôi khi các giáo phụ đầu tiên nói về “quy tắc của đức tin” là truyền thống được giáo hội dạy, bởi vì vẫn chưa có “sự phân biệt rõ ràng giữa truyền thống truyền khẩu của các sứ đồ và các cuộn giấy chữ viết của các sứ đồ.” Tuy nhiên, vào giữa thế kỷ thứ hai, rõ ràng là các lời khẩu truyền của các sứ đồ, vốn đã được hội thánh thế hệ thứ nhất nghe thấy và truyền lại cho những người khác, đã trở nên bị ô nhiễm bởi các truyền thuyết không đáng tin cậy. Sau đó, Tân Ước là sách ghi lại những lời dạy của các sứ đồ, cùng với Cựu Ứớc, dần dần trở thành Quyển Sách có thẩm quyền quyết định duy nhất.

Những tuyên bố sau đây là ví dụ về nhân chứng lịch sử cho niềm tin vào học thuyết của Sola Scriptura. Athanasius, nhà thần học ở thế kỷ thứ tư, đã viết, “Quả thật, Kinh Thánh được Đức Chúa Trời hà hơi vào, có khả năng tự cung cấp cho việc rao giảng lẽ thật.”. Cyril (khoảng năm 315-387), giám mục của nhà thờ ở Jerusalem tuyên bố, “Liên quan đến các bí ẩn thiêng liêng của đức tin, không ít sách có thể được truyền lại mà không có trong Kinh Thánh …. Ngay cả đối với tôi hay bất cứ ai nói với bạn những điều này, đừng sẵn sàng chấp nhận, trừ khi bạn nhận được từ Kinh Thánh bằng chứng về những điều mà chúng tôi công bố. Sự cứu rỗi mà chúng ta tin thì không được chứng minh bằng lý luận khôn ngoan của con người mà là từ Kinh Thánh.”

Augustine, có lẽ là nhà thần học có ảnh hưởng nhất, được cả Công Giáo và Tin Lành tôn trọng, đã viết, “Có một ranh giới rõ ràng ngăn cách tất cả các sản phẩm tiếp theo thời các sứ đồ khỏi các sách kinh điển có thẩm quyền của Cựu và Tân Ước. Trong vô số sách được viết ra sau này đôi khi chúng ta có thể tìm thấy lẽ thật giống như trong Kinh Thánh, nhưng chúng không có cùng một thẩm quyền. Kinh Thánh có một sự thiêng liêng riêng của chính nó.” Ngay cả nhà thần học Công giáo vĩ đại thế kỷ mười ba, Thomas Aquinas, cũng tin tưởng rõ ràng vào Sola Scriptura. Ông tuyên bố rằng “chúng tôi chỉ tin những người kế vị các sứ đồ và tiên tri khi họ nói với chúng tôi những điều mà các sứ đồ và tiên tri đã viết lại trong các quyển sách của họ.”

Chúng ta đã thấy rằng thuật ngữ Sola Scriptura có nghĩa là Kinh Thánh là thẩm quyền tối hậu dành cho các tín nhân, và rằng Kinh Thánh là đủ cho sự cứu rỗi và sự sống của Cơ đốc nhân. Ý nghĩa thứ ba của Sola Scriptura là sự rõ ràng của Kinh Thánh (đôi khi được gọi là sự minh bạch). Điều này có nghĩa là những tín đồ bình thường có thể hiểu Kinh Thánh và áp dụng nó trong cách sống để vâng phục Chúa. Mọi người không cần những người giải thích đặc biệt nào để giải thích cho họ biết điều gì là lẽ thật.

Một ví dụ thú vị về sự thật này là những người ở thành Bê-rê. Sau khi Phao-lô và Si-la rao giảng phúc âm ở đó, thái độ của họ là: “những người nầy có ý hẳn hoi hơn người Tê-sa-lô-ni-ca, đều sẵn lòng chịu lấy đạo, ngày nào cũng tra xem Kinh Thánh, để xét lời giảng có thật chăng” (Công vụ 17:11). Những người Bê-rê có thể hiểu được sự công bố của phúc âm được rao giảng cho họ, nhưng họ cũng có thể hiểu được Kinh Thánh được viết trước đó và đánh giá xem liệu sứ điệp của các sứ đồ có phù hợp với Kinh Thánh hay không. Không có lý do gì để tin rằng các bức thư của các sứ đồ vẫn phải áp dụng theo cách này. Hầu hết các thư tín của Tân Ước không được gửi đến các nhà lãnh đạo hội thánh, mà cho toàn thể hội thánh, phù hợp với suy nghĩ rằng chúng có thể được tất cả mọi thành viên trong hội thánh hiểu. Thư tín của Phao-lô được “gửi cho hết thảy các thánh đồ trong Đức Chúa Giê-su Christ, ở thành Phi-líp, cùng cho các giám mục và các chấp sự” (Phi-líp 1:1; cũng xem Ga-la-ti 1:2; 1 Côr. 1:2).  Như lời chú thích của Phao-lô cho các tín hữu ở Cô-lô-se chỉ ra rằng, những thư tín của ông được nơi nhận đọc, rồi sau đó phải được chuyển tiếp cho các hội thánh khác đọc: “Anh em đọc thơ nầy rồi, hãy đưa cho Hội-thánh Lao-đi-xê đọc với, anh em cũng phải đọc thơ ở Lao-đi-xê gởi đến nữa” (Cô-lô-se 4:16).  Vị sứ đồ tin rằng các thư tín của ông gửi đến thì hội thánh có thể hiểu được, điều đó được thể hiện trong những lời này: “Vì chúng tôi chẳng viết cho anh em sự gì khác hơn những điều anh em đọc trong thơ chúng tôi và chính mình anh em nhận biết; và tôi lại mong anh em nhận biết cho đến cuối-cùng” (2 Cô-rinh-tô 1:13).

Tương tự như vậy, Cựu Ước nhấn mạnh trách nhiệm của các tín nhân là đọc và hiểu Kinh Thánh. Mọi người phải có khả năng hiểu được Lời Chúa khi Môi-se truyền cho họ, “Khá ân-cần dạy-dỗ điều đó cho con-cái ngươi, và phải nói đến, hoặc khi ngươi ngồi trong nhà, hoặc khi đi ngoài đường, hoặc lúc ngươi nằm, hay là khi chỗi dậy” (Phục truyền. 6:7). Chắc chắn mọi tín nhân chân thật đều “lấy làm vui-vẻ về luật-pháp của Đức Giê-hô-va” và “suy gẫm luật pháp ấy ngày và đêm” (Thi Thiên 1:2).

Dĩ nhiên, những bằng chứng về sự hiểu biết rõ ràng Kinh Thánh của dân sự Chúa cũng sẽ không phủ nhận vai trò của những người thầy giữa vòng họ là giúp mọi người hiểu biết rõ hơn về Lời Đức Chúa Trời. Nhưng không có một dấu hiệu nào trong Kinh Thánh xác định rằng bất kỳ cá nhân nào cũng phải phụ thuộc vào một người thầy có thẩm quyền để hiểu được lẽ thật cơ bản của Kinh Thánh. Ở đây không có lời biện hộ nào mà một người nào đó có thể nói với Chúa trong ngày phán xét cuối cùng, “Tôi đã không vâng theo Lời Ngài bởi vì Ngài đã khiến tôi phải phụ thuộc vào một người thầy và ông ấy đã dạy tôi một cách sai trái.” Trên thực tế, bằng chứng cụ thể cho sự rõ ràng của Lời Đức Chúa Trời được thấy trong việc Phao-lô quở trách các tín đồ Ga-la-ti vì đã nghe các giáo sư giả, và mạng lệnh của ông truyền cho họ là từ chối “bất cứ người nào” (kể cả chính ông) “truyền cho anh em một tin-lành nào khác với Tin-lành anh em đã nhận” (Ga-la-ti 1:9).

 

 

Phần kết luận

Với niềm tin rằng chỉ Kinh Thánh là thẩm quyền tối hậu của tín nhân là điều cốt yếu đối với Cơ đốc giáo. Vì chỉ khi thẩm quyền của Kinh Thánh có chỗ đứng cao hơn thẩm quyền của cá nhân và ngay cả nhà thờ, thì chúng ta mới có thể tôn cao Lời Chúa xứng đáng với giá trị thật của Lời.

 

Chỉ khi nào sự khác biệt giữa công tác của Đức Thánh Linh khi soi dẫn các trước giả Kinh Thánh và công tác của Ngài trong các chức vụ giảng dạy của hội thánh, thì hội thánh mới có thể nghe Lời từ Chúa hơn là tiếng nói của chính mình.29 John Calvin viết rằng chúng ta phải phân biệt giữa các sứ đồ và những người kế vị họ. Ông nói, các sứ đồ, “là những người ghi chép chắc chắn và chân thật từ sự thần cảm của Đức Thánh Linh, và do đó, các tác phẩm của họ được coi là lời tiên tri của Đức Chúa Trời; nhưng nhiệm vụ duy nhất của những người khác là giảng dạy những gì được cung cấp và niêm phong trong Kinh Thánh.” 30

Việc công nhận thẩm quyền tối hậu của Kinh Thánh không phủ nhận giá trị của sự dạy dỗ từ hội thánh và các sắc lệnh của các công đồng lịch sử. Hội thánh được kêu gọi trở thành “trụ và nền của lẽ thật” (1 Ti-mô-thê 3:15), để giảng dạy và duy trì lẽ thật của Đức Chúa Trời, nhưng đồng thời hội thánh vẫn ở dưới quyền của Kinh Thánh. Sự dạy dỗ của Hội thánh phải luôn được đánh giá dựa trên lẽ thật của Kinh Thánh, vì lịch sử cho thấy rõ ràng rằng sự dạy dỗ của giáo hội không phải lúc nào cũng phù hợp với Kinh Thánh. Ngay cả các tác phẩm của các tổ phụ thời kỳ hậu môn đồ đầu tiên, là những người gần gũi với các sứ đồ, thì tác phẩm của họ phải được nhìn nhận là khác với Kinh Thánh. Đề cập đến học thuyết quan trọng nhất về sự cứu rỗi, một học giả gần đây nói, “Mặc dù những tác giả này [các tổ phụ của môn đồ] có tính liên tục lịch sử chặt chẽ với Tân Ước, nhưng giờ đây chúng ta bước sang một thế giới khác.” Thế giới này là của các tác giả hội thánh đầu tiên bao gồm “những quan điểm không rõ ràng về tội lỗi và sự cứu chuộc.” 31

Chỉ khi Kinh Thánh được coi là Lời không thể sai lầm của Đức Chúa Trời và có thẩm quyền tối hậu đối với suy nghĩ, cảm xúc và hành động của chúng ta, thì chúng ta mới có thể thực sự bước theo Lời Chúa. Chỉ qua Lời Đức Chúa Trời đáp ứng nhu cầu của chúng ta, thì Chúa  mới có thể thực hiện uy quyền lãnh đạo của Ngài trên chúng ta.

 

HIỂU BIẾT THÔNG ĐIỆP CỦA KINH THÁNH

Kinh Thánh chỉ có thể có vị trí đúng đắn trong cuộc sống của chúng ta nếu chúng ta hiểu thông điệp của Kinh Thánh. Vì vậy, chúng ta thấy trước giả Thi-thiên cầu nguyện nhiều lần, “Hỡi Đức Giê-hô-va, xin chỉ dạy tôi con đường luật lệ Chúa… Xin hãy ban cho tôi sự thông sáng, thì tôi sẽ vâng theo luật pháp Chúa” (Thi Thiên 119:33-34; xin xem thêm 119:12, 26-27, 64, 66, 73, 108, 124-125, 135, 144, 171). Cuối cùng chính Đức Chúa Trời “dạy sự tri-thức cho loài người” (94:10). Nhưng cùng với việc cầu xin sự chỉ dẫn của Chúa, trước giả Thi thiên cũng đã tích cực  suy gẫm về Lời ấy (119: 15, 48, 78, 99) và siêng năng xem xét Lời ấy (119: 95). Việc hiểu biết đúng đắn về Kinh Thánh, qua đó Đức Chúa Trời truyền tải chân lý của Ngài, bao gồm cả hoạt động của Đức Chúa Trời và của chính chúng ta.

 

Chức vụ giảng dạy của Đức Thánh Linh

Sự cần thiết của chức vụ giảng dạy của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời và lẽ thật của Ngài chỉ có thể được tiết lộ bởi Đức Chúa Trời. Vì nó vượt qua sự suy nghĩ của con người, liên quan đến “sự mắt chưa thấy, tai chưa nghe, và lòng người chưa nghĩ đến,” (1 Cô-rinh-tô 2:9). Thông qua sự mặc khải và sự soi dẫn, Đức Chúa Trời truyền đạt lẽ thật của Ngài cho chúng ta một cách khách quan, đưa nó vào lịch sử nhân loại. Nhưng chính Ngài cũng phải nói lời đó với tâm hồn chúng ta, vì sự giao tiếp cá nhân với người khác cuối cùng là Thánh Linh với tâm linh con người, trong trường hợp này là Thánh Linh của Đức Chúa Trời với linh của chúng ta. Được tạo ra theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, chúng ta được tạo dựng để tương giao với Đức Chúa Trời. Sự hiện diện của tội lỗi trong cuộc sống khiến chúng ta càng phải bắt buộc điều chỉnh tâm trí mình để nghe Thánh Linh của Đức Chúa Trời. (Về những ảnh hưởng của tội lỗi đối với sự hiểu biết thuộc linh của chúng ta, xin xem 2 Cô-rinh-tô 4:3-4; Ê-phê-sô 4:18; và Hê-bơ-rơ 5:11).

Chức vụ của Thánh Linh được sứ đồ Phao-lô bày tỏ rõ ràng trong 1 Cô-rinh-tô 2:11-13. “Vả, nếu không phải là thần linh trong lòng người, thì ai biết sự trong lòng người? Cũng một lẽ ấy, nếu không phải là Thánh Linh của Đức Chúa Trời, thì chẳng ai biết sự trong Đức Chúa Trời.  Về phần chúng ta, chúng ta chẳng nhận lấy thần thế gian, nhưng đã nhận lấy Thánh Linh từ Đức Chúa Trời đến, hầu được hiểu biết những ơn mà chúng ta nhận lãnh bởi Đức Chúa Trời; chúng ta nói về ơn đó, không cậy lời nói mà sự khôn ngoan của loài người đã dạy đâu, song cậy sự khôn ngoan mà Đức Thánh Linh đã dạy, dùng tiếng thiêng liêng để giãi bày sự thiêng liêng.”

Vị sứ đồ công bố sứ điệp bằng những lời do Thánh Linh dạy, và chỉ nhờ chính Thánh Linh mà những người nghe ông mới có thể “hiểu biết những ơn mà chúng ta nhận lãnh bởi Đức Chúa Trời.”

Bản chất chức vụ giảng dạy của Thánh Linh. Khi chúng ta nói về chức vụ giảng dạy hoặc sự soi sáng của Đức Thánh Linh, là chúng ta đang bước vào một lẽ thật quan trọng. Việc chuyển đổi các từ ngữ là trường hợp có thể dễ dàng xảy ra sai lầm, như đã xảy ra trong 2 Sa-mu-ên 8:17, nơi A-hi-mê-léc được cho là con trai của A-bia-tha trong khi 1 Sa-mu-ên 22:20 thì ngược lại – A-bia-tha là con trai của A-hi-mê-léc.

Chính hình thức của các tài liệu được các cá nhân khác nhau viết bằng tay tăng thêm khó khăn trong việc tạo ra các bản sao hoàn chỉnh. Ví dụ, một số chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Do Thái có mặt chữ khá giống nhau. Trong chữ viết tay, có thể dễ dàng nhầm lẫn một số chữ cái, nhiều khi chữ “r” và “n” đôi khi rất khó phân biệt trong chữ viết tay của một số nhà văn nói tiếng Anh. Mặc dù các con số được viết bằng chữ trong văn bản tiếng Do Thái của chúng ta, nhưng có bằng chứng về hệ thống dấu hiệu các con số ban đầu trong thời kỳ Cựu Ước. Các nét dọc được sử dụng để biểu thị các chữ số và các nét ngang để biểu thị hàng chục, được viết một bên nằm trên một số khác cho bội số của mười. Trong một hệ thống thập phân như vậy, có thể dễ dàng thấy những sai lầm vô ý có thể được xảy ra như thế nào ngay cả khi chúng ta có thể dễ dàng bỏ đi hoặc thêm số 0 vào một số lớn. Tiếp đến, các ký tự trong bảng chữ cái cũng được sử dụng cho các con số, do đó khiến các con số có thể bị sao chép một cách sai lầm vì một chữ cái này bị nhầm lẫn với chữ cái khác trong một tài liệu đã bị hao mòn. 27

Một ví dụ rõ ràng được tìm thấy trong các con số được ghi lại trong 2 Các Vua 24: 8 và 2 Sử Ký 36: 9.

Vua, Giê-hô-gia-kin trở thành vua khi mới mười tám tuổi và trị vì ba tháng trước khi bị bắt. Tuy nhiên, câu kinh văn trong Sử Ký cho biết rằng ông ấy chỉ mới tám tuổi khi ông ấy bắt đầu trị vì và ông ấy đã trị vì ba tháng mười ngày. Đây rõ ràng là một mâu thuẫn do lỗi của người sao chép. Vì số mười tám được viết bằng tiếng Do Thái là “tám” và “mười”, có vẻ như rõ ràng là “mười” đã bị đặt sai vị trí. Chính xác là nó đã được nối với tám trong Các Vua – tạo thành mười tám – nhưng nó đã bị bỏ qua trong Sử Ký và được chép là sau mười ngày. Trên thực tế, một số bản dịch tiếng Hy Lạp và tiếng Syriac của 2 Sử ký 36:9 ghi lại rằng Giê-hô-gia-kin mới mười tám tuổi, như trong 2 Các Vua 24:8.

Trong một số trường hợp, việc sao chép được thực hiện bởi người ghi chép khi người khác đọc to văn bản. Vấn đề ở đây là một số từ nghe giống nhau khi phát âm bằng lời nói, nhưng lại có cách viết và nghĩa khác nhau (ví dụ, “weigh (cân nặng)” với “way (cách thức)”; hay “there (đó)” và “their (của họ)”) những trường hợp này cũng có trong tiếng Do Thái và tiếng Hy Lạp và sai lầm này có thể dễ dàng giải thích vì một số lỗi sao chép.

Hầu hết các sai lệch được phát hiện trong Kinh Thánh liên quan đến tên, ngày tháng hoặc con số. Đó là, “tên, ngày tháng và con số cụ thể là những mục không thể được nói trước về mặt ngữ pháp trong một câu, hoặc không thể nhớ được bởi thứ tự từ hoặc ý nghĩa chung.”28 Ví dụ, nếu chúng ta đang ghi chép lại một câu chứa tên thị trưởng của một thành phố, chúng ta có thể dễ dàng viết “Joe” thành “John” nếu chúng ta không biết ông ấy. Cả hai đều phù hợp với câu văn. Mặt khác, nếu chúng ta đang ghi chép một câu nói về nữ hoàng, chúng ta sẽ không viết “Joe” hoặc “John” bởi vì chúng ta sẽ cảm nhận được điều gì đó phi logic ngay lập tức và kiểm tra lại những gì chúng ta đang viết. Điều này cũng tương tự với các con số và ngày tháng. Chúng ta có thể dễ dàng viết năm 1046 thay vì 1064 cho một sự kiện mà bản thân chúng ta không hề quen biết. Nhiều sai sót trong việc truyền tải các tài liệu Cựu Ước nằm trong những lĩnh vực này không có ý nghĩa cụ thể đối với người sao chép. Mặc dù vậy, so với hầu hết các tác phẩm cổ có độ dài đáng kể khác, Kinh Thánh chứa đựng tương đối ít câu hỏi ngay cả trong những lĩnh vực này.29

 

Vấn đề khoa học

Hầu hết những vấn đề được gọi là khoa học trong Kinh Thánh đều bắt nguồn từ cách tiếp cận thực tế. Phép màu bị bác bỏ như quan điểm huyền thoại vì chúng mâu thuẫn với các quy luật tự nhiên. Tuy nhiên, khi sự tồn tại của Đức Chúa Trời được chấp nhận, chúng ta không có lý do chính đáng nào để phủ nhận sự can thiệp siêu nhiên của Ngài vào sự sáng tạo theo ý muốn của Ngài.

Vì sự tiến hóa chưa bao giờ được chứng minh một cách khoa học, nên không có cơ sở nào để đánh giá Kinh Thánh bằng việc dựa trên cuộc sống của tất cả các tín đồ về sức khỏe và sự tăng trưởng thuộc linh để cho thấy rằng mọi tín đồ có thể hiểu được những lời dạy cơ bản của Kinh Thánh. Những lẽ thật ban đến sự sống của Đức Chúa Trời trong Lời Ngài giống như kho tàng của sự khôn ngoan, mà Sa-lô-môn đã nói: “Nếu con tìm nó như tiền-bạc, và kiếm nó như bửu vật ẩn bí, bấy giờ con sẽ hiểu biết sự kính sợ Đức Giê-hô-va, và tìm được điều tri thức của Đức Chúa Trời” (Châm Ngôn 2:4-5). Sự hiểu biết về Lời Đức Chúa Trời được ban phát ra cho tất cả những ai sẵn sàng nỗ lực tìm kiếm và khai thác Lời Đức Chúa Trời. Nếu không có nền tảng thần học thì sẽ hoàn toàn đi vào cuộc tranh luận vô tận về việc giải thích Kinh Thánh. Những nguyên tắc chung sau đây rất hữu ích mà bạn cần ghi nhớ khi theo đuổi nhiệm vụ quan trọng nhất là hiểu được lẽ thật về sự sống trong Kinh Thánh.

Cách diễn giải tự nhiên. Đức Chúa Trời đã soi dẫn các tác giả Kinh Thánh viết bằng ngôn ngữ bình thường của con người, chứ không phải bằng một thứ ngôn ngữ khó hiểu nào đó mà chúng ta cần chìa khóa để mở ra ý nghĩa. Như mọi ngôn ngữ của loài người, chúng ta nắm bắt được thông điệp của Kinh Thánh bằng cách chú ý lắng nghe ý nghĩa của các từ và mối quan hệ của chúng trong câu. Cũng như trong ngôn ngữ thông thường, Kinh Thánh sử dụng các từ theo nhiều nghĩa bóng như mô phỏng, ẩn dụ, cường điệu và ngụ ngôn. Khi tìm cách phân biệt nghĩa đen với nghĩa bóng, chúng ta phải sử dụng tất cả sự dạy dỗ của Kinh Thánh cũng như kiến thức của chúng ta về thế giới. Chẳng hạn, khi Kinh Thánh đề cập đến việc Đức Chúa Trời cưỡi trên một chê-ru-bim (2 Sa-mu-ên 22:11), chúng ta không nên vội vàng kết luận rằng chê-ru-bim có nghĩa bóng chỉ đơn giản là vì chúng ta chưa có trải nghiệm về chê-ru-bim.

Các nhà văn cũng vậy, mỗi cuốn sách họ viết đều nằm trong một bối cảnh lịch sử và văn hóa nhất định, nhằm mục đích để người đọc hiểu những gì họ đã viết. Vì vậy bằng mọi cách chúng ta phải đặt mình vào vị trí của những người viết và những người đọc ban đầu của sách Kinh Thánh càng nhiều càng tốt. Đôi khi, việc tìm kiếm sự trợ giúp về bối cảnh lịch sử của một văn tự có thể hữu ích, nhưng phần lớn ý nghĩa của văn tự có thể được xác định bằng cách nghiên cứu cẩn thận và so sánh với các phần khác của Kinh Thánh.

Cách diễn giải tình huống. Kinh Thánh là bản ghi chép về sự tác động của Đức Chúa Trời với dân Ngài trong lịch sử, kéo dài nhiều thế kỷ. Khi kế hoạch cứu chuộc của Ngài mở ra, liền có sự tiến triển liên quan đến sự thay đổi. Ví dụ, Luật pháp Môi-se với nhiều quy định pháp lý đã kết thúc với Đấng Christ (Ga-la-ti 3:24-25). Vì vậy, khi tiếp cận bất kỳ đoạn văn nào, điều quan trọng là phải hỏi: Đoạn văn này được viết cho ai? Tất cả các sách trong Kinh Thánh đều có ý nghĩa và mang lại lợi ích cho chúng ta ngày nay trong việc hiểu biết Đức Chúa Trời và mối quan hệ của Ngài với chúng ta. Nhưng cũng như trong các điều răn chi tiết của Luật pháp Môi-se, mọi sự bày tỏ không thể áp dụng cho chúng ta ngày nay theo cùng một cách mà sự bày tỏ đó đã được nói với những người trong Kinh Thánh.

Chúng ta cũng phải đặt câu hỏi liệu một chỉ dẫn nào đó được dự định là phổ cập (cho mọi người tại mọi thời điểm) hay liệu nó là một biểu hiện cụ thể, có giới hạn trong thời gian đó của một nguyên tắc phổ quát. Chẳng hạn, chúng ta có tuân theo mệnh lệnh của sứ đồ là “Hãy lấy cái hôn thánh mà chào hết thảy anh em” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:26) không? Kiến thức về các phong tục khác nhau trong thời điểm của Kinh Thánh và cách chúng liên quan đến các lẽ thật thuộc linh nói chung sẽ giúp chúng ta phân loại các biểu hiện văn hóa khỏi lẽ thật vĩnh cửu mà Đức Chúa Trời đang truyền đạt.

Cách diễn giải toàn diện. Thomas Watson, giáo sư của Thanh giáo, đã chỉ ra có lẽ nguyên tắc quan trọng nhất để hiểu Kinh Thánh khi ông nói, “Kinh Thánh là người thông dịch chính nó, hay đúng hơn là Thánh Linh nói trong đó. Không gì có thể cắt được viên kim cương ngoài viên kim cương; không gì có thể giải thích Kinh Thánh ngoài Kinh Thánh.”33

Mặc dù được viết bởi nhiều trước giả con người qua nhiều thế kỷ, nhưng Kinh Thánh vẫn là một tổng thể hài hòa thống nhất, bởi vì nó được viết bởi một tác giả là Thần lẽ thật duy nhất. Vì vậy, các phần khác nhau của Kinh Thánh không tồn tại một cách biệt lập; chúng là một phần của toàn bộ sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Vì vậy, mỗi phần nên được giải thích là liên quan đến toàn bộ Kinh Thánh. Chẳng hạn, việc Chúa Giê-su cấm chúng ta đoán xét người khác (Ma-thi-ơ 7:1) phải được hiểu là liên quan đến sự dạy dỗ của Ngài về kỷ luật hội thánh (18:15-17). Sự thống nhất của Kinh Thánh được biểu hiện ở kiến thức về các tác phẩm trước đó thường giúp hiểu được các tác phẩm sau này. Và nhiều điều được bày tỏ trước đó được phát triển đầy đủ hơn khi chương trình cứu rỗi lịch sử của Đức Chúa Trời được mở ra.

Cách giải thích của thần học. Sự hiểu biết ngay thật về Kinh Thánh cũng đòi hỏi chúng ta phải liên tục ghi nhớ những lời của Chúa chúng ta, cách cụ thể, sự thật như Chúa Giê-su đã nói, “Kinh Thánh… làm chứng về Ta” (Giăng 5:39). Do đó, sự giải thích đúng đắn về một đoạn văn sẽ hòa hợp với sự mặc khải của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ và sẽ cho chúng ta biết điều gì đó về Ngài và công việc của Ngài. Vì “mọi kho tàng của sự khôn ngoan và tri thức” đều được cất giấu trong Đấng Christ (Cô-lô-se 2:2-3).

Cách giải thích tương hổ. Bởi vì tất cả chúng ta đều có thể sai lệch và mang theo nền tảng văn hóa của mình với những quan điểm hạn chế và đôi khi sai lầm, sự hỗ trợ lẫn nhau của các tín đồ khác rất có giá trị trong việc tìm hiểu Kinh Thánh. Vì vậy, sứ đồ đã tuyên bố: “Cũng hãy để lời của Đấng Christ sống sung mãn trong lòng anh em; hãy dùng tất cả sự khôn ngoan để dạy và khuyên bảo nhau” (Cô-lô-se 3:16). Điều này bao gồm việc lắng nghe những giáo viên có ân tứ trong hội thánh cũng như học hỏi từ những giáo viên tài năng khác mà Đức Chúa Trời đã ban cho hội thánh trong suốt nhiều thế kỷ. Sự hiểu biết tốt nhất về Kinh Thánh có nhiều khả năng đến từ các học viên Kinh Thánh mài giũa từng chữ hơn là từ các người giải thích được xem như là “nhà thần học cô độc”.

Rõ ràng là bất cứ điều gì cũng đòi hỏi thời gian và nỗ lực học tập hơn là sự hiểu biết hời hợt về Kinh Thánh. Nhưng nếu chúng ta có một bức thư từ một người mà chúng ta yêu quý, ngay cả khi nó được viết bằng một ngôn ngữ khác, chúng ta vẫn sẽ cố gắng hết sức để hiểu nội dung của nó. Bản chất của Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời và biết lẽ thật đem lại sự sống cho cuộc sống của chúng ta chắc chắn sẽ khiến chúng ta phải nỗ lực rất nhiều.34

 

SỬ DỤNG KINH THÁNH NHƯ UY QUYỀN CỦA CHÚNG TA

Điều mà người ta tin chắc chắn trong cuộc sống này, “hãy gìn giữ [tấm lòng] của con, vì [các nguồn] sự sống xuất phát từ đó.” (Châm ngôn 4:23. Được nhận biết kho tàng thiêng liêng mà Chúa chúng ta đã ban cho chúng ta trong Lời của Ngài, chúng ta nên bày tỏ lẽ thật của Kinh Thánh cả trong cộng đồng dân sự của Đức Chúa Trời và trong đời sống cá nhân của chúng ta.

 

Lời Chúa trong Hội thánh                                                    

 

Nếu chúng ta tin rằng Kinh Thánh là sự mặc khải trơ trọi về lẽ thật cứu rỗi của Đức Chúa Trời cho nhân loại, thì chúng ta phải dành cho Kinh Thánh một vị trí trung tâm trong cộng đồng dân sự của Đức Chúa Trời. Và đây chính xác là những gì chúng ta tìm thấy trong Kinh Thánh. Như sự thờ phượng của dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu bằng việc nghe lời Đức Chúa Trời (“Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe!” Phục-truyền Luật-lệ Ký 6:4), nên sự thờ phượng của hội thánh bắt đầu bằng việc lắng nghe tiếng Chúa qua Lời Ngài. Vì vậy, các tín đồ ban đầu đã “bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ” (Công vụ 2:42). Lời quan trọng đến nỗi sự phát triển của hội thánh về cơ bản là tương đồng với sự lớn mạnh trong Lời: “Đạo Đức Chúa Trời càng ngày càng tràn ra, số môn đồ tại thành Giê-ru-sa-lem thêm lên nhiều lắm. Cũng có rất nhiều thầy tế-lễ vâng-theo đạo nữa.” (6:7; xem thêm 12:24; 19:20). C. E. B. Cranfield không nói quá trường hợp này khi ông kết luận rằng “việc nghe Lời Chúa, nghe những gì Chúa muốn nói với hội thánh của mình trong tình hình thực tế hiện tại, là nhiệm vụ chính yếu của hội thánh.”36

Các tín đồ trong hội thánh đầu tiên đã nghe Lời Đức Chúa Trời khi Lời được đọc công khai và được rao giảng. Phao-lô khuyến khích Ti-mô-thê, một mục sư trẻ tuổi, phải “Hãy chăm-chỉ đọc sách, khuyên-bảo, dạy-dỗ, cho đến chừng ta đến.” (1 Ti-mô-thê 4:13). Như đã nói trước đó, sứ đồ mong muốn các lá thư của mình được đọc công khai trong các hội thánh (Cô-lô-se 4:16; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:27). Sách Khải Huyền cũng được đọc một cách công khai, vì nó đề cập đến “cùng những kẻ nghe” nó (Khải huyền 1: 3). Việc đọc Kinh Thánh công khai thừa nhận tầm quan trọng của chúng, đồng thời tạo ra tác động khi người ta lắng nghe một cách cẩn thận và chăm chú vào những lời trong đó, thực tế chúng là lời của Đức Chúa Trời.

Việc rao giảng và dạy Lời cũng có ý nghĩa trong đời sống hội thánh. Nhiệm vụ của người rao giảng không chỉ là công bố Lời, mà còn giúp dân chúng đáp lại Lời ấy bằng cách áp dụng Lời ấy vào những nhu cầu khác nhau của họ. Nếu Kinh Thánh hoạt động như Lời có thẩm quyền của Đức Chúa Trời trong việc rao giảng, thì Kinh Thánh không thể chỉ được sử dụng như một nguồn tài liệu để người thuyết giảng nói những gì họ nghĩ rằng dân chúng cần nghe hoặc muốn nghe. Thay vào đó, nó có nghĩa là lắng nghe Kinh Thánh để hiểu những gì Đức Chúa Trời biết dân chúng cần. Ai đó đã nói rõ rằng nhiệm vụ của người rao giảng là giảng giải Kinh Thánh theo cách mà trên thực tế, Chúa của hội thánh đang tổ chức một cuộc trò chuyện với dân sự của Ngài. Mặc dù các phương pháp rao giảng hoặc phong cách truyền tải cụ thể có thể được đánh giá, nhưng niềm tin vào Kinh Thánh là phương tiện mà Đức Chúa Trời phán Lời cứu rỗi của Ngài cho thế giới và cho dân sự của Ngài khiến cho việc công bố và nghe Kinh Thánh có tầm quan trọng tối cao đối với giáo hội.

 

Lời Chúa trong đời sống cá nhân

Sự tăng trưởng thuộc linh và sức khỏe chỉ có thể nhận được khi chúng ta ăn nuốt Lời Đức Chúa Trời thường xuyên, ngoài việc nghe Lời Đức Chúa Trời được rao giảng trong nhà thờ. Đối với nhiều tín đồ, đây là một nhiệm vụ khó khăn. Thời gian của chúng ta bị lấp đầy với các hoạt động khác. Nhưng điều gì quan trọng hơn là nuôi dưỡng cuộc sống của chúng ta bằng những lời quyền năng của Đức Chúa Trời. Một số người có thể cố gắng, thường xuyên dành thời gian cho Kinh Thánh, nhưng mất động lực vì họ nói, “Kinh Thánh không hữu hiệu, không tác động trong tôi.”

Điều quan trọng cần nhớ là Kinh Thánh không phải là một lá bùa hộ mệnh hay một cuốn sách ma thuật. Hiệu quả của việc ban sự sống mạnh mẽ của Kinh Thánh chỉ dựa vào thực tế rằng chúng là những lời của Đức Chúa Trời hằng sống, là sự thể hiện của chính Ngài. Dân sự của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh đã thể hiện sự tôn trọng tuyệt vời đối với Lời Đức Chúa Trời, và họ luôn tìm lại sức sống trong Lời. Trước giả Thi thiên đề cao Lời này trong Thi Thiên 119 đã tuyên bố, “Tôi chẳng hề quên giềng-mối Chúa, vì nhờ đó Chúa làm cho tôi được sống” (câu 93, xem câu 25, 40, 159).

Đến với Kinh Thánh không bao giờ là đến với một “điều gì đó” mà trong “điều gì đó không có hiệu quả”. Mà đến với Kinh Thánh là đến với một Người, hay có lẽ khéo léo hơn, là một Người đến với chúng ta qua mặc khải của Lời. Donald Miller nói rất đúng, “Nếu Đức Chúa Trời phán qua Kinh Thánh, chúng ta nên lắng nghe tiếng Ngài ở đó. Chúng ta chỉ có thể nghe tại nơi mà Ngài đã chọn để nói. Tôi có thể thích Ngài nói ở nơi khác, nhưng nếu Kinh Thánh là nơi Ngài đã nói thì đó là nơi tôi phải lắng nghe. Do đó, chúng ta không nên tuyệt vọng khi nghe tiếng nói của Đức Chúa Trời qua Kinh Thánh cho đến khi chúng ta tiếp xúc trực tiếp và trung thành với Kinh Thánh để Kinh Thánh có thể vận hành trong cuộc sống của chúng ta. Nhưng có bao nhiêu người đọc hoặc nghiên cứu Kinh Thánh một cách chuyên tâm và có hệ thống?”37

Từ kinh nghiệm cá nhân, tôi nhận ra điều Kinh Thánh luôn dạy, đó là, phước lành của Đức Chúa Trời được hứa ban không quá nhiều qua việc đọc hoặc học Kinh Thánh, mà là cho việc suy ngẫm về chúng. Người được phước, theo Thi-thiên 1:1-2, là người “suy gẫm luật pháp ấy ngày và đêm” (xem thêm Giô-suê 1:6-8). Suy ngẫm về Lời có nghĩa là nghiền ngẫm và cầu nguyện về lẽ thật và ý nghĩa của nó đối với cuộc sống của chúng ta cho đến khi nó chạm đến trái tim chúng ta, trở thành nguồn sự sống của cuộc đời chúng ta (Châm Ngôn 4:23).

Sức mạnh của sự suy ngẫm được nhìn thấy trong nỗ lực của bác sĩ tâm lý Paul Meier nhằm tìm kiếm mối tương quan giữa trạng thái tâm lý của một người và đời sống tinh thần của họ. Ông yêu cầu mỗi sinh viên chủng viện trong lớp mà ông dạy phải hoàn thành một bài kiểm tra tâm lý tiêu chuẩn và một bảng câu hỏi về đời sống tâm linh. Ban đầu ông ngạc nhiên và thất vọng. Những sinh viên đã theo đạo Cơ Đốc trong nhiều năm chỉ khỏe mạnh và hạnh phúc hơn một chút so với những sinh viên đã theo đạo trong thời gian ngắn hơn. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, sự thất vọng của ông đã chuyển sang niềm vui khi ông tìm ra nhân tố quan trọng tạo nên sự khác biệt. Sự khác biệt đó là sinh viên có suy ngẫm hàng ngày hoặc gần như hàng ngày về Kinh Thánh hay không. Trong khi Meier thừa nhận rằng việc đổi mới tâm trí thông qua Kinh Thánh có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau, đặc biệt là từ những người bạn theo đạo Cơ đốc, ông kết luận, “Suy ngẫm hàng ngày về Kinh Thánh, với ứng dụng cá nhân, là phương tiện hữu hiệu nhất để đạt được niềm vui cá nhân, sự bình an, và sự trưởng thành về cảm xúc …. Trung bình, mất khoảng ba năm nghiền ngẫm Kinh Thánh hàng ngày để mang lại đủ thay đổi trong cách suy nghĩ và hành vi của một người để tạo ra sức khỏe tinh thần và hạnh phúc.”38

Martin Luther đã mô tả sức mạnh của việc suy ngẫm Lời Đức Chúa Trời trong việc mang lại sự biến đổi cuộc sống. “Vì những lời hứa này của Đức Chúa Trời là những lời thánh khiết, chân thật, công bình, tự do và ôn hòa, đầy sự tốt lành, nên linh hồn con người bám lấy chúng với đức tin vững chắc. Khi đó con người sẽ được kết hợp chặt chẽ cùng với Lời Chúa và được Lời hấp thụ hoàn toàn đến nỗi không chỉ dừng lại ở việc chia sẻ tất cả quyền năng của Lời nhưng cũng sẽ bị Lời làm cho thỏa mãn và say đắm. Nếu một cái chạm vào của Đấng Christ giúp ta được chữa lành, thì cái chạm đầy thuộc linh dịu dàng nhất này sẽ còn nhiều hơn thế nào nữa, Lời của Đức Chúa Trời được hấp thụ, sẽ truyền đạt cho linh hồn mọi điều thuộc về Lời.”39

 

KẾT LUẬN

Để đặt câu hỏi, Kinh Thánh có quan trọng không? Có vẻ giống như hỏi, thực phẩm có quan trọng không? Nói một cách đơn giản, chúng ta không thể trải nghiệm cuộc sống thuộc linh mà không có Lời Chúa, giống như chúng ta có thể đi qua cuộc sống vật chất mà không có thức ăn. Kinh Thánh cho biết về Đấng Christ, và Đức Thánh Linh mở mắt chúng ta để thấy những điều kỳ diệu của Đấng Cứu Rỗi của chúng ta. Kinh Thánh là ánh sáng của chúng ta (Thi Thiên 119:105), thức ăn của chúng ta (1 Phi-e-rơ 2:2; Hê-bơ-rơ 5:11-14), liều thuốc chữa lành (Thi Thiên 19:7; 119:93), thanh gươm cho trận chiến thuộc linh (Ê-phê-sô 6:17) và hạt giống được gieo sâu trong lòng có khả năng cứu chuộc (Gia-cơ 1:21; 1 Phi-e-rơ 1:23). Tóm lại, đó là tất cả những gì chúng ta cần, như John Newton, một nhà buôn nô lệ đã cải đạo, viết trong bài thơ này.

  Kinh Thánh quý giá? Thật là một kho báu

                                             Lời Chúa có quyền năng!

                                            Tất cả những gì tôi muốn cho cuộc sống hoặc niềm vui,

                                            Thức ăn và thuốc men, khiên và kiếm;

                                         Đều có trong Lời Chúa.                                          

Có thể thế gian đánh giá tôi là đáng thương, nhưng

tôi chỉ cần Christ, và chỉ duy Ngài, ngoài Ngài ra tôi không cần thêm gì nữa.    

 

sách tham khảo UNDERSTANDING CHRISTIAN THEOLOGY

Phần 2
HIỂU BIẾT THẦN HỌC CƠ ĐỐC

PHẦN II: ĐỨC CHÚA TRỜI

 

 

Tác giả:  J. Carl Laney Professor of Biblical Literature Western Conservative Baptist Seminary, Portland, Oregon.

  1. Đức Chúa Trời Thực Hữu?
  2. Các Quan Điểm Sai về Đức Chúa Trời
  3. Danh của Đức Chúa Trời
  4. Các Danh Xưng Thần Thượng của Chúa
  5. Sự Tự Khải Thị của Đức Chúa Trời

 

  1. Ngũ Kinh Dạy về Đức Chúa Trời
  2. Sự Vĩ Đại của Đức Chúa Trời
  3. Sự Tốt Lành của Đức Chúa Trời
  4. Các Hình Ảnh về Đức Chúa Trời
  5. Đức Chúa Trời Ba Ngôi là Một
  6. Nguyên Chỉ của Đức Chúa Trời
  7. Đức Chúa Trời và Sự Hiện Diện của Điều Ác
  8. Kế Hoạch của Đức Chúa Trời cho Các Thời Đại
  9. Là bạn của Đức Chúa Trời
  10. Tin Cậy vào Đức Chúa Trời
  11. Đáp Ứng với Đức Chúa Trời
  12. Giải quyết mối nghi ngờ của bạn
  13. Nhận biết Ý Muốn của Đức Chúa Trời
  14. Tương giao với Đức Chúa Trời
  15. Trả Lời những Câu Hỏi khó về Đức Chúa Trời

 

 

1

Đức Chúa Trời Hiện Hữu?

 

KHI CÒN LÀ MỘT THIẾU NIÊN, tôi đã phải vật lộn với câu hỏi, Đức Chúa Trời hiện hữu hay không? Vì tôi muốn biết chắc chắn, nên tôi đã nghĩ ra một phép thử đơn giản. Tôi lấy ra một đồng xu trong túi và cầu nguyện ngắn thế này, “Chúa ơi, nếu Ngài hiện hữu, thì hãy làm cho đồng xu này mặt ngửa lên.”

Tôi tung đồng xu lên và thật ngạc nhiên, đồng xu đã rớt xuống với mặt hình ngửa lên. Điều đó dường như là một dấu hiệu khá rõ ràng Chúa đang hiện hữu! Nhưng tôi vẫn đôi chút nghi ngờ. Tôi tự hỏi có thể chỉ là sự ngẫu nhiên mà đồng xu ngửa mặt hay không. Tôi quyết định tung đồng xu một lần nữa. Lần này là mặt sấp. Vậy thì, Chúa có hiện hữu hay không? Với một chút do dự, tôi quyết định thử lần cuối. Tôi tung đồng xu lần thứ ba. Nó lại là hình mặt ngửa! Tôi quyết định không thử nữa. Tôi quyết định bỏ thử nghiệm nhỏ này cùng với sự nặng lòng của bằng chứng về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời!

Đức Chúa Trời có hiện hữu không? Đây là câu hỏi cơ bản và quan trọng nhất trong vũ trụ này. Nếu Chúa không hiện hữu, thì loài người có mặt trên hành tinh này là một sự tình cờ. Không có hoạch định, không có mục đích và không có trách nhiệm cho cuộc sống này. Nhưng nếu Ngài hiện hữu, thì một loạt câu hỏi khác sẽ đặt ra. Ngài như thế nào? Làm thế nào chúng ta biết Ngài? Tại sao Ngài tạo ra thế giới này? Ngài mong đợi điều gì ở chúng ta? Chúng ta có nên thờ phượng Ngài không? Ngài sẽ làm gì nếu chúng ta phớt lờ hoặc không vâng lời Ngài?

Chương này sẽ trình bày những lập luận về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Nếu bạn chưa tin Đức Chúa Trời, tôi hy vọng qua chương sách này tâm trí bạn sẽ thay đổi đối với sự thật về sự hiện hữu của Ngài. Lời cầu nguyện của tôi là bạn sẽ đáp lại sự tự mặc khải của Đức Chúa Trời và gia nhập hàng ngũ các tín nhân. Nếu bạn đã tin Chúa rồi, thì tôi tin rằng những lập luận này sẽ vừa củng cố đức tin của bạn vừa cung cấp cho bạn bằng chứng thuyết phục mà bạn có thể chia sẻ với người khác.

 

 

SỰ MẶC KHẢI PHỔ QUÁT

Các nhà thần học nói chung đã nhận ra hai phạm trù rộng lớn về sự mặc khải của Đức Chúa Trời—phổ quát và đặc biệt. Sự mặc khải phổ quát là sự bày tỏ sự thật cho tất cả mọi người trên khắp thế giới. Sự mặc khải phổ quát không đầy đủ để dẫn mọi người đến sự cứu rỗi trong Đấng Christ, nhưng đưa ra vấn đề là con người phải chịu trách nhiệm trước mặt Đức Chúa Trời. Bởi vì cớ đã có sự mặc khải phổ quát, nên không ai có thể viện cớ, “Vì điều chi có thể biết được về Ðức Chúa Trời thì đã trình bày ra cho họ, Ðức Chúa Trời đã tỏ điều đó cho họ rồi, bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên họ không thể chữa mình được” (Rô. 1:19-20). Rõ ràng là từ thế kỷ thứ hai TCN, thì Do Thái giáo đã công nhận tầm quan trọng của sự mặc khải phổ quát. Một bản văn của người Do Thái có tên là Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn là một trong những cuốn sách Apocrypha (thứ kinh), nói, “Sự vĩ đại và vẻ đẹp của vạn vật được tạo dựng cho chúng ta một ý niệm tương ứng về Đấng Tạo Hóa” (13:5). Sự mặc khải phổ quát đã tuyên bố sự hiện hữu của Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa uy nghiêm, toàn năng, khôn ngoan và nhân từ.

 

Bằng Chứng Về Sự Sáng Tạo

Bằng chứng đầu tiên cho sự hiện hữu của Đức Chúa Trời là bằng chứng về sự sáng tạo của Ngài. Trong Thi thiên 19:1 Đa-vít viết, “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời; Bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm.” Đa-vít nói thêm, “Ngày nầy giảng cho ngày kia, Ðêm nầy tỏ sự tri thức cho đêm nọ” (19:2). Mặc dù “ngày” và “đêm” không có lời nói hay tiếng nói theo nghĩa đen (19:3), nhưng sự im lặng của chúng là thông điệp quan trọng đã loan đến tận cùng thế giới” (19:4). Phao-lô trích dẫn Thi-thiên 19:4 trong Rô-ma 10:18 để cho thấy không ai có thể nói rằng, “Nhưng chúng tôi chưa bao giờ nghe nói về Đức Chúa Trời”. Thông điệp của thế giới tự nhiên rất lớn tiếng và rõ ràng: Đức Chúa Trời hiện hữu!

Bạn đã từng nghe tiếng nói của thiên nhiên làm chứng về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời chưa? Hoạt động giải trí yêu thích của gia đình chúng tôi là cắm trại. Tôi thích đến nghỉ tại khu cắm trại gần hồ trên núi và dành ra một tuần để tận hưởng vẻ đẹp về sự sáng tạo của Đức Chúa Trời. Tôi có rất nhiều kỷ niệm tuyệt vời về bơi lội, đi bộ đường dài, chèo thuyền và bắt tôm hùm cùng với các con của mình. Nhưng vào ban đêm là thời điểm đặc biệt khi lửa trại đã tắt và chúng tôi nằm trên một tấm bạt lớn rồi chui vào trong mền để nhìn ngắm các vì sao.

Nằm ngửa trong bóng tối giữa đồng cỏ hoang vu, chúng tôi có thể nhìn thấy hàng ngàn ngôi sao trong số cả trăm tỷ ngôi sao được ước tính trong dải ngân hà của chúng ta. Tôi nhắc nhở các con tôi rằng phải mất bốn năm để ánh sáng đi từ Alpha Centauri, là ngôi sao gần nhất ngoài hệ mặt trời, đến được mắt chúng ta. Một số ngôi sao có nhiệt độ gấp 160.000 lần mặt trời. Sự bao la của vũ trụ khiến chúng ta choáng ngợp như đang mời gọi chúng ta tin vào Đức Chúa Trời.

Cơ thể con người của chúng ta cũng là minh chứng cho sự hiện hữu của Đấng Tạo Hóa. Hãy suy nghĩ về điều kỳ diệu của cơ thể con người. Ví dụ, hãy quan sát máy ảnh của cơ thể, là con mắt. Võng mạc bên trong mắt có chức năng giống như máy quay phim, nhận hình ảnh đảo ngược và gửi nó qua dây thần kinh thị giác đến não. Bộ não điều chỉnh hình ảnh để mọi thứ không bị lộn ngược. Các cơ của mắt liên tục điều chỉnh hình dạng cho mắt để giúp chúng ta có thể nhìn mọi vật ở gần hoặc ở khoảng cách xa. Các tuyến lệ liên tục làm ướt cho cơ quan này bằng chất lỏng có vị mặn, để giữ ẩm cho mắt do đó có thể phản ứng với các cơ chuyển động của mắt. Cơ quan phức tạp này là một phần trong sự mặc khải phổ quát của Đức Chúa Trời đã bày tỏ sự hiện hữu của một Đấng Tạo Hóa kỳ diệu.

Sứ đồ Phao-lô đã tuyên bố sự mặc khải của Đức Chúa Trời về thiên nhiên khi ông đang cùng với với Ba-na-ba rao giảng tại thành Lít-trơ. Phao-lô thách thức những người nghe chuyển đổi từ thần tượng hư không của họ đến với “Ðức Chúa Trời hằng sống, là Ðấng đã dựng nên trời, đất, biển, và muôn vật trong đó” (Công. 14:15). Mặc dù Đức Chúa Trời cho phép các dân tộc đi theo con đường riêng của họ, “dầu vậy, Ngài cứ làm chứng luôn về mình, tức là giáng phước cho, làm mưa từ trời xuống, ban cho các ngươi mùa màng nhiều hoa quả, đồ ăn dư dật, và lòng đầy vui mừng” (14:17). Phao-lô nói rằng việc Đức Chúa Trời ban cho mưa và thức ăn minh chứng sự hiện hữu của một Đấng Tạo Hóa quan tâm đến con người. Khắp mọi nơi trong sự sáng tạo đều có bằng chứng về sự hài hòa, trí thông minh và sự sắp đặt trật tự của Ngài. Không một ai trong vũ trụ này xuất hiện một cách tình cờ. Những gì chúng ta chứng kiến trong quá trình sáng tạo là công việc của một Đức Chúa Trời khôn ngoan và yêu thương.

 

Bằng Chứng của Lương Tâm

Một khía cạnh khác của sự mặc khải phổ quát của Đức Chúa Trời là sự bày tỏ về chính Ngài trong lương tâm con người chúng ta. Phao-lô chỉ ra trong Rô-ma 2:14-15 rằng Đức Chúa Trời đặt để ý thức về luật đạo đức trong mỗi con người. “Vả, dân ngoại vốn không có luật pháp, khi họ tự nhiên làm những việc luật pháp dạy biểu, thì những người ấy dầu không có luật pháp, cũng tự nên luật pháp cho mình. Họ tỏ ra rằng việc mà luật pháp dạy biểu đã ghi trong lòng họ: chính lương tâm mình làm chứng cho luật pháp, còn ý tưởng mình khi thì cáo giác mình, khi thì binh vực mình.” Ở chỗ khác, Phao-lô viết rằng ngay cả những người vô tín ghét Đức Chúa Trời cũng “biết sắc lệnh công bình của Đức Chúa Trời” (1:32). Từ ngữ chỉ “sắc lệnh công bình” (dikaioma) đề cập đến một biểu hiện cụ thể của sự công bình—nhận biết những gì Đức Chúa Trời đã tuyên bố là “đúng.”

Theo Phao-lô, luật đạo đức của Đức Chúa Trời hiện diện trong lòng mọi người, dù có học thức, văn minh hay không. Lương tâm của con người là ý thức về trách nhiệm đạo đức mà điều này sẽ khiến con người đối diện với việc nhận thức sự khác biệt giữa đúng và sai.

Vợ tôi, Nancy là giáo viên trợ giảng. Cô ấy tương tác với trẻ em thường xuyên chủ yếu là chủ đề đúng và sai. Cô cho biết hầu hết trẻ em đều biết rằng việc lấy cắp đồ của người khác, nói dối với giáo viên hoặc đánh nhau đó là sai. Tất nhiên, điều này không có nghĩa là tất cả học sinh của cô đều là những thiên thần nhỏ hoàn hảo. Chúng thường hành động trái với lương tâm của chính mình! nhưng khi đối mặt, chúng thường sẽ thừa nhận rằng những gì mình làm là sai.

Điều này không có nghĩa là lương tâm của mọi người đều hoàn toàn giống nhau. Lương tâm con người có thể trở nên sai lạc hoặc chai sạn do hậu quả của việc liên tục bị lạm dụng, Một người bình thường cảm thấy xấu hổ khi nói dối với bạn bè. Nhưng đối với người không ăn năn tội lỗi, thì việc nói dối nhiều lần cũng sẽ không khó khăn gì. Nếu một người tiếp tục mỗi chút đều từ chối tiếng nói của lương tâm, thì việc nói dối sẽ trở nên dễ dàng hơn. Lương tâm liên tục bị xâm phạm sẽ rất khó giúp ích trong việc phân biệt đúng sai.

Trong tấm lòng của mỗi người chúng ta, Đức Chúa Trời đã viết sẵn một ý thức về trách nhiệm đạo đức. Chúng ta biết rõ trộm cắp, giết người và tà dâm là điều sai trái. Thông thường thì các giá trị chứa đựng bên trong lương tâm con người cho biết sự hiện hữu của một Đức Chúa Trời, Đấng đã ban cho mỗi người ý thức về điều đúng và điều sai.

 

Bằng Chứng từ Nhân Quả

Anh rể tôi vừa xây xong căn nhà mới cho gia đình. Sau đó không lâu gia đình chuyển đến sống, họ có một ngôi nhà rộng rãi để tiếp đón bạn bè và hàng xóm đến chơi. Đó là một ngôi nhà xinh xắn với nhiều phòng và tầm nhìn ra núi Hood phủ đầy tuyết ở tiểu bang Oregon. Tôi chưa bao giờ gặp người xây dựng, nhưng tôi đã nhìn thấy ngôi nhà. Và tôi hoàn toàn tin rằng những thanh gỗ hai nhân bốn, và các tấm lợp đó không tự kết hợp với nhau. Phải mất rất nhiều thời gian lên kế hoạch, thu mua vật liệu và phải làm việc chăm chỉ để xây dựng ngôi nhà đó. Sự hiện hữu của ngôi nhà minh chứng cho hoạt động của thợ xây dựng. Tác giả Hê-bơ-rơ đã rút ra một số hàm ý từ nguyên tắc này khi viết, “Vả, chẳng có một cái nhà nào không phải bởi có người dựng nên; mà Ðấng đã dựng nên muôn vật ấy là Ðức Chúa Trời” (Hê. 3:4).

Một chiếc đồng hồ là minh chứng cho sự hiện hữu của thợ đồng hồ. Một cuốn sách minh chứng cho sự hiện hữu của một tác giả và một nhà xuất bản. Một bức tranh minh chứng cho sự hiện hữu của một họa sĩ. Không có điều gì là tự hiện hữu. Đối với mỗi kết quả, thì phải có một nguyên nhân tương ứng. Vì vậy thế giới hiện hữu này, cần phải có một nguyên nhân cho sự hiện hữu của nó—chính là một Đấng Tạo Hóa đã sáng tạo ra nó.

Nếu không có Đấng Tạo Hóa, làm sao có loài bướm, cá hồi đốm đen và loài chim biết hót? Không chỉ Đức Chúa Trời tạo ra thế giới này; Ngài cũng tạo ra vẻ đẹp cho nó! Màu sắc của những bông hoa dại trên đồng cỏ của núi đồi nhắc cho tôi rằng Đức Chúa Trời rất hài lòng khi tạo ra những điều đẹp đẽ như vậy. Lặn với ống thở trong đầm phá ngoài bờ biển Guam như đã giới thiệu cho tôi về vẻ đẹp thế giới dưới nước của Đức Chúa Trời. Loài cá nhiệt đới có màu sắc rực rỡ như hoa. Nhưng Đức Chúa Trời đã lên kế hoạch cho từng thứ và tạo ra chúng với nhiều hình dạng và màu sắc khác nhau. Sự hiện hữu của chúng minh chứng cho sự hiện hữu của Ngài là Đấng Tạo Hóa. Các nhà thần học gọi đây là lập luận vũ trụ học về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Vũ trụ học bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp kosmos, có nghĩa là “thế giới”. Mọi thứ hiện hữu trên đời đều có nguyên nhân, và sự cuối cùng của nguyên nhân đó là Đức Chúa Trời.

 

Bằng Chứng của Trực Giác Con Người

Tất cả mọi người đều có bằng chứng nội tại là Đức Chúa Trời hiện hữu. Hầu như không có nhóm người nào, dù là cổ đại hay hiện đại, mà không thừa nhận sự hiện hữu của một vị thần tối cao nào đó. Người Ca-na-an thì thờ thần Baal. Người Ba-by-lôn tôn kính thần Marduk. Người Hy Lạp đã công nhận thần Zeus. Người La Mã tin vào thần Jupiter.

Tại A-thên, Phao-lô kêu gọi người Hy Lạp có sự nhận biết chung về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Để làm bằng chứng, Phao-lô đã dẫn lời hai nhà thơ Hy Lạp. “‘Vì tại trong Ngài, chúng ta được sống, động, và có’, y như xưa một vài thi nhơn của các ngươi có nói rằng: ‘Chúng ta cũng là dòng dõi của Ngài.’” (Công. 17:28). Epimenides ca ngợi thần Zeus rằng: “Nhưng Người sẽ không chết; Người sống và tồn tại mãi mãi, vì trong Người, chúng tôi sống và động và tồn tại.”1 Phao-lô đã không ngại khi thay thế chữ “Ngài” thay vì “Người”, nhưng nội dung của câu trích dẫn thì không thay đổi. Phao-lô cũng trích dẫn Aratus ở Cilicia, người đã viết về Zeus, “Với thần Zeus, tất cả mọi người trong chúng ta có sự sống và động và tồn tại theo cách nào đó, vì chúng ta cũng là dòng dõi của thần.”2 Sau đó Phao-lô chỉ ra cho người A-thên nên nhận ra họ cũng là, “dòng dõi của Đức Chúa Trời” (17:29). Mặc dù những nhà thơ cổ đại này không biết rõ về danh tính của Đức Chúa Trời, nhưng họ không nghi ngờ gì về sự hiện hữu của Ngài.

 

Bằng Chứng của Tính Lô-gíc

Lập luận bản thể học về sự hiện hữu Đức Chúa Trời cố gắng chứng minh thông qua tính lô-gíc (hợp lý) rằng quan niệm về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời đòi hỏi thực tại khách quan của một đấng tối cao, vô hạn. Thuật ngữ bản thể học xuất phát từ tiếng Hy Lạp ontos (từ động từ eimi, “là”) và có nghĩa là “tồn tại” hoặc “hiện hữu”. Đây không phải là lập luận dễ hiểu và nó không thuyết phục hầu hết mọi người. Nhưng nó đã hấp dẫn một số bộ óc vĩ đại, thường là những người thiên về toán học và triết học, như Rene Descartes (1596-1650) và Baruch Spinoza (1632-1677). Anselm (1033-1109), tổng giám mục tại Canterbury, là người đầu tiên đề xuất quan điểm này.

Lập luận bản thể học về sự hiện hữu Đức Chúa Trời dựa trên thực tế là tất cả mọi người đều có nhận thức về sự hiện hữu của một đấng tối cao, vô hạn. Người ta lập luận rằng Đức Chúa Trời hoàn hảo, vô hạn bởi vì có thể là do quan niệm như vậy, nên Ngài phải đặt ý tưởng này vào tâm trí của con người. Nếu đấng hoàn hảo tuyệt đối chỉ hiện hữu trong suy nghĩ chứ không hiện hữu trong thực tế, thì nó sẽ không thực sự là đấng hoàn hảo nhất, vì đấng hiện hữu trong thực tế sẽ hoàn hảo hơn. Anselm kết luận rằng không ai hiểu Đức Chúa Trời là thế nào để có thể cho rằng Đức Chúa Trời không hiện hữu. Do đó Đức Chúa Trời hiện hữu!

Bạn có tuân theo lô-gíc đó không? Đây là một cách khác về lập luận bản thể học đã được diễn đạt: “Nếu con người có thể quan niệm về một Đức Chúa Trời hoàn hảo không hiện hữu, thì người đó có thể quan niệm một ai đó vĩ đại hơn chính Đức Chúa Trời—điều đó là không thể. Vì vậy, Đức Chúa Trời phải hiện hữu?”

 

Bằng Chứng từ Kinh Nghiệm Cá Nhân

Kinh nghiệm cá nhân mang tính chủ quan cao và có thể không phải là bằng chứng thuyết phục cho sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Con người đã “trải nghiệm” một số điều khó tin, bao gồm cả việc bị người ngoài hành tinh bắt cóc. Tâm trí chúng ta có khả năng tưởng tượng tuyệt vời, vì thực tế là phần lớn trong số đó có thể cách chúng ta vài năm ánh sáng.

Mặt khác, kinh nghiệm cá nhân có thể dùng để xác nhận những bằng chứng khác khách quan hơn cho sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Niềm tin của tôi vào Đức Chúa Trời được đặt trên nhiều thứ, bao gồm bằng chứng về sự sáng tạo, tác động của Thánh Linh Đức Chúa Trời đối với lương tâm tôi, và bằng chứng về Lời Chúa. Nhưng về cơ bản tôi đã kinh nghiệm Chúa trong đời sống mình, và do đó tôi tin. Đức Chúa Trời nhậm lời cầu nguyện của tôi, xoa dịu nỗi sợ hãi trong tôi, cung ứng mọi nhu cầu tôi, giải cứu tôi khỏi sự cám dỗ, làm vững tâm tôi, ban cho tôi sự bình an, và chứng tỏ sự thực hữu của Ngài trong đời sống tôi nhiều lần. Không có lập luận nào, dù lô-gích hay thực tế đến đâu, có thể thuyết phục được tôi rằng Đức Chúa Trời không có thật. Mối quan hệ cá nhân của tôi với Đức Chúa Trời mỗi ngày bác bỏ bất kỳ và mọi quan điểm cho rằng Đức Chúa Trời không hiện hữu.

 

 

SỰ MẶC KHẢI ĐẶC BIỆT

Sự mặc khải phổ quát là dành cho tất cả mọi người, giúp họ có thể nhận ra sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Nhưng sự mặc khải phổ quát không đủ khả năng để đưa con người vào mối quan hệ cứu rỗi với Đức Chúa Trời. Vì mục đích đó, sự mặc khải đặc biệt là cần thiết. Sự mặc khải đặc biệt là sự bày tỏ thiên thượng thông qua Đấng Christ (Giăng 1:18), Kinh Thánh (1 Giăng 5:9-12) và các công việc quyền năng của Đức Chúa Trời (Giăng 10:25).

 

Bằng Chứng của Đấng Christ

Chúa Giê-su đến thế gian này, mặc lấy hình ảnh con người, để mặc khải Đức Chúa Trời cho nhân loại. Sứ đồ Giăng tuyên bố: “Chẳng hề ai thấy Ðức Chúa Trời; chỉ Con một ở trong lòng Cha, là Ðấng đã giải bày Cha cho chúng ta biết” (Giăng 1:18). Để chia sẻ mối quan hệ mật thiết sâu nhiệm nhất với Đức Chúa Trời là Cha, thì Chúa Giê-su ở trong địa vị bày tỏ lẽ thật sâu nhiệm về Đức Chúa Trời. Những từ “được biết đến” theo nghĩa đen có nghĩa là “chỉ đường.” Qua sự nhập thể, Chúa Giê-su đã chỉ ra cho những tội nhân lầm lạc con đường đến với Đức Chúa Trời.

Trong Cô-lô-se 1:15 Phao-lô tuyên bố Chúa Giê-su là “hình ảnh [eikon] của Đức Chúa Trời vô hình.” Mặc dù Đức Chúa Trời không có thân thể vật lý, và do đó không thể nhìn thấy được, nhưng hình ảnh của Ngài có thể được nhìn thấy trong Đấng Christ. Từ eikön đề cập đến dấu ấn hoặc dấu hiệu trên đồng xu. Giống như một đồng xu phản ánh chính xác cái khuôn đã tạo ra nó, vì vậy Đấng Christ phản ánh chính xác Đức Chúa Trời là Cha. Ngôi vị vô hình của Đức Chúa Trời được nhìn thấy thông qua Đấng Christ. Chính Chúa Giê-su đã tuyên bố, “Ta với Cha là một” (Giăng 10:30) Và sau đó, “Ai đã thấy ta nghĩa là đã thấy Cha” (14:9).

 

Bằng Chứng của Kinh Thánh

Khi tôi hỏi con gái ở tuổi thiếu niên của mình tại sao con tin Đức Chúa Trời hiện hữu, câu trả lời đã khiến tôi ngạc nhiên. Cháu nói, “Bởi vì Kinh Thánh nói như vậy.” Mặc dù con người chắc chắn đã hưởng lợi từ những lập luận hợp lý và triết học về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, nhưng bằng chứng mạnh mẽ nhất về sự hiện hữu của Ngài thì được tìm thấy trong Kinh Thánh (1 Giăng 5: 9-10).

Tôi tin rằng điều khá quan trọng là Kinh Thánh không bắt đầu bằng việc bảo vệ sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Môi-se không mở đầu Sách Sáng Thế Ký bằng cách trình bày sáu lý do tại sao mọi người nên tin vào Đức Chúa Trời. Đúng hơn, Môi-se thừa nhận sự hiện hữu của Đức Chúa Trời và tiếp tục ghi chép lại công việc của Ngài. Sự mặc khải đặc biệt của Đức Chúa Trời, Kinh Thánh, được bắt đầu với dòng chữ, “Ban đầu, Đức Chúa Trời dựng nên trời và đất” (Sáng 1:1). Tuyên bố này được xây dựng trên thực tế đó là tất cả mọi người, dựa trên sự mặc khải phổ quát, đều nhận thức về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Mỗi câu trong Kinh Thánh đều bắt đầu bằng những từ “Đức Chúa Trời phán” hoặc “Đức Chúa Trời đã làm” đều chứng tỏ sự hiện hữu của Đức Chúa Trời.

 

Bằng Chứng về Các Công Trình Kỳ Diệu của Đức Chúa Trời

Trong suốt lịch sử Kinh Thánh, Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính Ngài cho dân sự qua các công việc kỳ diệu của Ngài (Thi. 77:11-14; 81:10). Khía cạnh sự mặc khải đặc biệt này của Đức Chúa Trời là đặc biệt quan trọng trước khi Đấng Christ nhập thể và việc hoàn thành kinh điển của Kinh Thánh. Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính Ngài cho Môi-se qua phép lạ bụi cây cháy (Xuất. 3:1-6). Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính Ngài cho dân Y-sơ-ra-ên qua các dịch bệnh trên đất Ai Cập (9:16; 10:2) và các phép lạ trong Xuất Ê-díp-tô Ký (15:1-3). Ngài đã bày tỏ chính Ngài cho mọi người tập trung trên Núi Cạt-mên cùng với Ê-li khi ông gọi lửa từ trời giáng xuống (1 Vua. 18:36–39).

Một nghiên cứu kinh điển về tác động của các công trình vĩ đại của Đức Chúa Trời được tìm thấy trong bản tường thuật về việc Đa-vít giết người khổng lồ Gô-li-át (1 Sa. 17). Dân Y-sơ-ra-ên và Phi-li-tin tập trung tại thung lũng Ê-la phía tây Bết-lê-hem. Mỗi ngày, Gô-li-át, nhà vô địch của Gát, đe dọa dân Y-sơ-ra-ên bằng những lời đe dọa của hắn. Một ngày nọ, Đa-vít đem thức ăn đến cho các anh em của mình, là những người đang phục vụ trong quân đội của vua Sau-lơ, nghe thấy những lời đe dọa của Gô-li-át và hỏi, “Người Phi-li-tin không cắt bì này là ai mà dám thách thức đội quân của Đức Chúa Trời hằng sống?” (17:26). Đa-vít sau đó đã dùng trành ném đá và vài viên đá xông vào chiến trường để đối mặt với gả khổng lồ Gô-li-át.

Khi gã khổng lồ chế nhạo và nguyền rủa kẻ thù thời trẻ của mình, Đa-vít tuyên bố rằng một bài học thần học đã sẵn sàng. “Ngày nay Ðức GIÊ-HÔ-VA sẽ phó ngươi vào tay ta, ta sẽ giết ngươi, cắt đầu ngươi, và ngày nay ban thây của đạo binh Phi-li-tin cho chim trời và thú vật của đất và Khắp thế gian sẽ biết rằng Y-sơ-ra-ên có một Ðức Chúa Trời” (17:46). Sự hiện hữu của Đức Chúa Trời được tuyên bố hùng hồn qua chiến thắng của Đa-vít trước Gô-li-át.

Sự mặc khải của Đức Chúa Trời qua các việc làm quyền năng của Ngài không chỉ giới hạn trong Cựu Ước. Các phép lạ của Chúa Giê-su và các sứ đồ cũng là bằng chứng hùng hồn cho sự hiện hữu của Đức Chúa Trời (ví dụ, xin xem Giăng 10:25; 20:30–31; Công. 3:12-16). Điều quan trọng nhất của các phép lạ trong Tân Ước minh chứng cho sự hiện hữu của Đức Chúa Trời là sự phục sinh của Chúa Giê-su. Các sứ đồ đã xác quyết sự sống lại là minh chứng tối hậu cho những tuyên bố của Chúa Giê-su và lẽ thật về sứ điệp của Ngài (1 Cô. 15:3–4).

Tác giả Thi Thiên tuyên bố rằng các công trình kỳ diệu của Đức Chúa Trời phải được công bố cho các thế hệ tương lai để họ có thể biết Đức Chúa Trời và tuân giữ các điều răn của Ngài (Thi. 78:4-7). Sau cuộc Xuất hành. Môi-se đã chỉ dẫn những người cha Y-sơ-ra-ên để dạy cho con cái họ rằng “Ðức GIÊ-HÔ-VA có làm trước mặt chúng ta những dấu kỳ và phép lạ—rất lớn lao đáng sợ—mà hại xứ Ê-díp-tô, Pha-ra-ôn, và cà nhà người” (Phục. 6:22). Các công trình kỳ diệu của Đức Chúa Trời minh chứng cho sự hiện hữu của Ngài và kêu gọi sự đáp ứng của đức tin và sự vâng lời. Điều này được thể hiện rõ trong Mười Điều Răn theo sau những lời, “Ta là GIÊ-HÔ-VA Ðức Chúa Trời ngươi, đã rút ngươi ra khỏi xứ Ai Cập, là nhà nô lệ” (Xuất 20:2).

 

ĐÁP ỨNG SỰ MẶC KHẢI

Tin vào sự hiện hữu của Đức Chúa Trời là bước đầu tiên để nhận biết Đức Chúa Trời. Tác giả Hê-bơ-rơ đã nói rõ điều này khi viết: “Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Ðức Chúa Trời phải tin rằng có Ðức Chúa Trời, và Ngài là Ðấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài” (Hê 11:6). Điều này cho thấy rằng khi mọi người đáp ứng bởi đức tin đối với sự mặc khải phổ quát của Đức Chúa Trời, nghĩa là thừa nhận sự hiện hữu của Ngài, thì Ngài cung ứng sự mặc khải đặc biệt để họ nhận biết Đấng Christ và kinh nghiệm sự cứu rỗi cá nhân. Chính nhờ đức tin mà con người hiểu được lẽ thật thuộc linh và nhận biết Đức Chúa Trời.

Nhưng làm thế nào để mọi người thực hiện bước đầu tiên đó là tin vào sự hiện hữu của Đức Chúa Trời? Làm thế nào một người vô thần lại tin vào sự hiện hữu của Đức Chúa Trời? Làm thế nào để những người hư mất và tội lỗi chấp nhận thế giới tâm linh vô hình là có thực? Phao-lô giải thích cho người Cô-rinh-tô rằng “thế gian bởi sự khôn ngoan của mình mà không biết đến ông” (1 Cô. 1:21). Nếu cần đến sự suy nghĩ sáng suốt để nhận biết Đức Chúa Trời, thì hầu hết chúng ta sẽ không bao giờ có thể biết Ngài. Nhưng Đức Chúa Trời sẽ hành động theo những cách mầu nhiệm.

Thay vì đòi hỏi sự thông minh về học thức hay sự khôn ngoan thế gian, Đức Chúa Trời đã từ trên trời giáng xuống và bắt đầu đời sống tâm linh của chúng ta thông qua ân tứ đức tin. Phao-lô viết, “Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Ðức Chúa Trời” (Êph. 2:8). Đức tin không phải là điều mà con người làm cho xuất hiện như kết quả của những lập luận trí tuệ hoặc triết học về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Đức tin là điều mà Đức Chúa Trời ban tặng như một món quà. Ngài khuấy động tấm lòng của những người không ăn năn bằng đức tin, giúp họ có thể đáp lại sự mặc khải phổ quát của Ngài. Sau đó, Đức Chúa Trời cung ứng cho “những người tìm kiếm” sự mặc khải đặc biệt cần thiết cho sự cứu rỗi trong Đấng Christ.

 

 

2

 Những Quan Niệm Sai Lầm Về Đức Chúa Trời

NỮ THẦN đang sống và có phép thuật trong khoảng không trung. “Vì vậy, hãy đọc một miếng dán cản xuất hiện trên xe hơi gần đây. Các tín ngưỡng thờ nữ thần lấy trái đất làm trung tâm thời tiền Cơ đốc đang nở rộ khắp nước Mỹ. Theo báo cáo, các nhóm tôn giáo thuộc loại này có thể được tìm thấy tại các cơ sở giáo dục hàng đầu ở Mỹ, bao gồm Trường Thần học Harvard, Đại học Pennsylvania và Đại học Santa Cruz. Tín ngưỡng thờ nữ thần là một khía cạnh khác của tâm linh Thời đại Mới, đang xâm nhập vào đời sống tôn giáo và tư tưởng của người Mỹ. Đáng chú ý, điều này không có gì mới. Ở Babylon cổ đại, bà được gọi là Ishtar; ở Hy Lạp là Artemis; và ở Rome là Diana.

Sự sùng bái nữ thần hướng về thiên nhiên và do phụ nữ thống trị. Những người “tìm kiếm” trong phong trào tôn giáo này là những người thừa kế cuộc cách mạng nữ quyền, những người đã loại bỏ Cơ đốc giáo “nam quyền”. Diana Hayes, giáo sư thần học tại Đại học Georgetown, tán thành điều này. “Trong Cơ đốc giáo, thần học và tâm linh hướng về nam giới, do nam giới thống trị, bởi vì họ là những người nêu rõ điều đó …. Phụ nữ không suy nghĩ hoặc hành động theo cách đàn ông làm. Do đó tâm linh của chúng ta sẽ không giống với nam giới.”‘

Vào một ngày mùa xuân tháng 5, cách đây vài năm, khoảng hai trăm người đã tụ tập trong một đồng cỏ ro ro gần Goldendale, Washington, để tạo ra một “nữ thần đất” dài bốn trăm foot, rộng một trăm foot đang nhảy múa. Lá xô thơm khô được đốt trong bào ngư để tạo ra một làn khói thơm để người tham gia có thể “làm sạch năng lượng của họ” để chuẩn bị cho sự kiện. Những tấm gương được đặt một cách chiến lược về phía mặt trời đã tạo ra một luồng ánh sáng xung quanh nữ thần. Một tình nguyện viên trả lời: “Tôi đang nằm quay lưng lại trên trái đất và cảm thấy tiếng vo ve”, “chỉ ngạc nhiên trước sức mạnh.”

Đây là một trong nhiều ý tưởng sai lầm mà mọi người có về Chúa, những quan điểm khác xa với cách Kinh Thánh mô tả về Chúa.

CHỦ NGHĨA VÔ THẦN

Từ vô thần mô tả một người tin rằng không có Chúa. Nó có nguồn gốc từ chữ theos trong tiếng Hy Lạp và tiền tố phủ định a (chữ cái trong tiếng Hy Lạp). Từ này xuất hiện một lần trong Tân Ước (Ê-phê-sô 2:12), nơi nó dùng để chỉ những người ngoại chưa được cứu — những người “không có Chúa”. Người Hy Lạp cổ đại sử dụng thuật ngữ này để chỉ những người không tin vào bất kỳ vị thần nào, bao gồm cả quan niệm Hy Lạp về Thượng đế. Cả người Do Thái và Cơ đốc giáo phủ nhận sự tồn tại của tiếng Hy Lạp đều bị coi là “những người vô thần.”

Không phải tất cả những người vô thần đều giống nhau. Người vô thần giáo điều phủ nhận Thiên Chúa và tuyệt đối phủ nhận sự hiện hữu của Ngài. Đa-vít đã viết về người này trong Thi thiên 14: 1: “Kẻ ngu ngốc nói trong lòng rằng: Không có Đức Chúa Trời.” Quan điểm này rất rõ ràng trong khoa học hiện đại, vốn hoạt động trên tiền đề rằng không có Chúa và sau đó tìm cách giải thích sự sống ngoài sự tham gia của Chúa. Đối với những người theo quan điểm này, thế giới vật chất, không phải thế giới tinh thần, là thực tại cuối cùng. Giả thuyết tiến hóa khẳng định rằng con người là sản phẩm may rủi của các chất hóa học vô hồn dưới biển. tác động bởi ánh sáng mặt trời. Cuối cùng những chất hóa học này đã ra đời và từ đó phát triển bởi sự chọn lọc tự nhiên và những đột biến thuận lợi vào tất cả các loài thực vật và động vật sống, bao gồm cả con người. Đức Chúa Trời không được bao gồm trong quan điểm này bởi vì những người ủng hộ nó không tin rằng Ngài tồn tại.

Những người vô thần thực dụng không thực sự phủ nhận sự tồn tại của Chúa, nhưng họ sống như thể không có Chúa. Đây có thể là con người mà Đa-vít đã nghĩ đến khi ông viết về kẻ ác, “Không có sự kính sợ Đức Chúa Trời trước mắt hắn” (36: 1). Nếu không có Đức Chúa Trời, thì không cần phải tôn trọng các mệnh lệnh trong Kinh Thánh. Nếu không có Chúa, thì không có đạo đức hay trách nhiệm giải trình. Người theo thuyết vô thần thực tế cho rằng những điều tốt đẹp trong cuộc sống có được là nhờ thành quả của con người chứ không phải là kết quả của lòng nhân từ và ân điển của Đức Chúa Trời.

 

THUYẾT BẤT KHẢ TRI

Thuật ngữ bất khả tri bắt nguồn từ từ gnosis trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “kiến thức” và là một tiền tố. Vậy thì người theo thuyết bất khả tri là người “không có kiến ​​thức” theo nghĩa đen. Trong khi những người hữu thần khẳng định sự tồn tại của Chúa, những người vô thần lại phủ nhận điều đó, và những người theo thuyết bất khả tri tuyên bố không biết gì về nó. Thomas Huxley lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ này vào năm 1869 tại một cuộc họp tiền trạm của tổ chức Hiệp hội Siêu hình học. Là một người theo chủ nghĩa hoài nghi tôn giáo, những người theo thuyết bất khả tri bác bỏ ý tưởng rằng con người có thể có hiểu biết về những điều tâm linh.

Giống như thuật ngữ vô thần, từ bất khả tri có thể được sử dụng theo nhiều cách khác nhau. Trong bối cảnh tích cực nhất của nó, thuật ngữ này có thể mô tả một người không biết gì về Đức Chúa Trời. Người đó có thể cởi mở với những điều thuộc linh nhưng không có quan điểm cá nhân về những vấn đề liên quan đến Chúa, Kinh Thánh hoặc sự sống đời đời. Thuật ngữ này cũng có thể được sử dụng để mô tả một người có thái độ thế tục và hoài nghi. Vì vậy, những người theo thuyết bất khả tri cho rằng niềm tin vào Chúa là không thực tế và không phù hợp. Người theo thuyết bất khả tri cũng có thể ám chỉ một người tin rằng chúng ta không thể biết liệu Chúa có tồn tại hay không. Những người như vậy thường phản đối tôn giáo và chống lại Cơ đốc giáo.

Tại sao một số người lại theo thuyết bất khả tri? Thứ nhất, trở thành một người theo thuyết bất khả tri sẽ được xã hội chấp nhận hơn là một người vô thần. Nghe có vẻ hợp lý hơn khi nói “Tôi không biết” hơn là “Tôi không tin.” Thứ hai, không giống như những người vô thần, những người theo thuyết bất khả tri tránh phải đưa ra các luận đề chứng minh. Người ta không cần bằng chứng khi chấp nhận là tôi không biết/ hoặc tôi không thể biết.

Mặc dù thuyết bất khả tri nhận được sự tôn trọng nhất định trong cộng đồng trí thức, nhưng sẽ rất nguy hiểm nếu bạn tránh đưa ra quyết định về những vấn đề có giá trị vĩnh cửu. Nếu Đức Chúa Trời tồn tại, thì thật là phạm thượng khi tuyên bố sự tồn tại của Ngài là không thể chứng minh được! Sự phạm thượng như vậy có thể để lại hậu quả vĩnh cửu. Blaise Pascal (1623-1662) trong cuốn Pensees (“Suy nghĩ”) đã đề xuất rằng chúng ta “đánh cược” vào khả năng tồn tại của Chúa. Nếu canh bạc của chúng ta dành cho Chúa là đúng (có nghĩa là tin Đức Chúa Trời tựi hữ và hằng hữu), chúng ta sẽ giành được mọi thứ — hạnh phúc và cuộc sống vĩnh cửu. Nhưng không có gì bị mất nếu chúng ta hóa ra là sai. Nói cách khác, tốt hơn là sống như thể Chúa tồn tại và khám phá ra rằng Ngài không tồn tại, hơn là sống như thể Ngài không tồn tại và khám phá ra rằng Ngài có tồn tại!

ĐA THẦN GIÁO

Thuyết đa thần xuất phát từ tiếng Hy Lạp poly, “nhiều” và theos, “Chúa”. Một người theo thuyết đa thần tin vào nhiều vị thần. Quan điểm này phổ biến trong thời kỳ Kinh Thánh. Trong số nhiều vị thần của họ, người Ai Cập tôn thờ Re, vị thần mặt trời; Osiris, kẻ thống trị thế giới; Seth, vị thần của thiên nhiên; và Hathor, nữ hoàng của tất cả các vị thần và nữ thần. Người Ca-na-an đã trung thành với thần sinh sản, Baal, và em gái của thần này là Anath. Người Hy Lạp tôn vinh Zeus là vua của các vị thần, nhưng họ cũng tôn kính mười một người khác, bao gồm cả Ares, thần chiến tranh; Aphrodite, nữ thần tình yêu và sắc đẹp; và Apollo, thần âm nhạc và ánh sáng.

Đa thần giáo không chỉ giới hạn trong thế giới cổ đại. Nó tồn tại ngày nay trong Ấn Độ giáo, trong đó những người thờ phượng tìm kiếm một lợi ích cụ thể từ bất kỳ vị thần nào trong số vô số các vị thần. Tuy nhiên, mỗi vị thần trong quần thể Ấn Độ giáo đông đúc chỉ được coi là một khía cạnh của Bà La Môn, “Người Eking tối cao, Đa thần giáo cũng được tìm thấy trong Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo và Thần đạo ở phương Đông, và trong các tôn giáo bộ lạc của châu Phi. DB Fletcher đã chỉ ra rằng “khi phương Tây thâm nhập vào các tôn giáo phương Đông và các phong trào phái sinh của họ, các Cơ đốc nhân phương Tây sẽ cần phải đối đầu trực tiếp với thuyết đa thần.

Đức Chúa Trời đã đề cập đến vấn đề đa thần trong phần đầu tiên trong Mười Điều Răn của Ngài. Điều răn đầu tiên này tập trung vào bản chất độc quyền của sự thờ phượng thật: Đức Chúa Trời phán: “Trước mặt ta, ngươi không được có thần nào khác” (Xuất 20: 3). Dân Y-sơ-ra-ên phải dành trọn sự tận tụy và trung thành của họ dành riêng cho Chúa, không ràng buộc mình với ai khác ngoài Đức Chúa Trời thật.

Điều răn đầu tiên nhắm vào cả thuyết vô thần và đa thần. Đối với những người vô thần, lời ủy thác nói, “Chúa tồn tại. Hãy nhận biết Ngài!” Đối với những người theo thuyết đa thần, điều răn nói, “‘Chúa là Đức Chúa Trời thật duy nhất. Ngài cũng từ chối chia sẻ sự thờ phượng của Ngài với bất kỳ thần nào khác.” Các vị thần và nữ thần của các tôn giáo đa thần chỉ là kết quả của những tưởng tượng đồi trụy. Sau khi chứng kiến ​​phép lạ về sự giải cứu của Y-sơ-ra-ên qua Biển Đỏ và sự hủy diệt của người Ai Cập, Môi-se đã hát, ” Hỡi Đức Giê-hô-va! trong vòng các thần, ai giống như Ngài?” (Xuất. 15:11). Đa-vít trả lời câu hỏi này: “Trong số các thần, chẳng có ai giống như Chúa” (Thi. 86:8). Trong lời cầu nguyện tạ ơn, Đa-vít đã tuyên bố về bản chất độc quyền của sự thờ phượng thật, “Giê-hô-va Đức Chúa Trời ôi! Ngài là rất vĩ đại, chẳng có ai giống như Ngài, và chẳng có Đức Chúa Trời nào khác hơn Ngài” (2 Sa-mu-ên 7:22).

THUYẾT PHIẾM THẦN

Từ thuyết phiếm thần bắt nguồn từ từ tiếng Hy Lạp pan, “tất cả” và theos, “Chúa”. Theo thuyết phiếm thần, Đức Chúa Trời là tất cả mọi thứ, và mọi thứ là Chúa. Từ này lần đầu tiên được sử dụng bởi John Toland vào năm 1705 để chỉ các hệ thống triết học và tôn giáo có xu hướng đồng nhất Thiên Chúa với thế giới vật chất hoặc tự nhiên. Thuyết phiếm thần phổ biến trong các tôn giáo cổ đại đồng nhất hóa vũ trụ vật chất với thần linh.

 

Theo nhà thơ Hy Lạp Hesiod, vào thế kỷ thứ VIII B. C. từ khoảng không tối tăm của Chaos đã xuất hiện Gaea, “Mẹ Trái đất”, nhân từ, ngực rộng, có đất nuôi dưỡng. Nữ thần này, được ghi nhớ trong từ “địa lý”, đã sinh ra bầu trời đầy sao, sao Thiên Vương, “Cha trời.” Khi ông che mưa cho Gaea, hoa, cỏ và cây cối đâm chồi nảy lộc. Sông chảy, hồ và biển bị lấp đầy. Ngày nay, khái niệm “Mẹ Trái đất” đã được truyền lại cho các nhà bảo vệ môi trường, những người đã chịu ảnh hưởng của thần học Thời đại Mới hoặc các tôn giáo phương Đông.

Thuyết phiếm thần có nhiều dạng. Thuyết phiếm thần duy vật khẳng định tính vĩnh cửu của vật chất và cho rằng vật chất là nguyên nhân của mọi sự sống. Thuyết phiếm thần Hylozoistic cho rằng thần thánh là yếu tố cơ bản của thế giới, nhưng vũ trụ vẫn là một tập hợp nhiều phần tử riêng biệt. Thuyết phiếm thần Acosmic đề xuất rằng Đức Chúa Trời là tuyệt đối và tạo nên tính tổng thể của thực tại. Thế giới chúng ta đang sống và trải nghiệm chỉ xuất hiện khi nó có thật. Thuyết phiếm thần khoa học kết hợp tôn giáo và khoa học, tạo cơ sở đạo đức cho các mối quan tâm về môi trường. Theo quan điểm này, mọi người nên tôn kính và bảo vệ rừng, không khí, đại dương và các khía cạnh khác của môi trường trái đất bởi vì vũ trụ và thiên nhiên là thần thánh. Thuyết phiếm thần Thời đại mới cho rằng vạn vật là thần thánh, kể cả con người. Đạo sư Shirley MacLaine của Thời đại mới nói rằng người hướng dẫn tinh thần của cô ấy, được ví von là “Bản ngã cao hơn” đã nói với cô ấy rằng, “Mỗi linh hồn là Thượng đế của riêng mình. Bạn không bao giờ được tôn thờ bất cứ ai hoặc bất cứ thứ gì khác ngoài chính mình. Vì bạn là Thượng đế. Hãy yêu bản ngã như yêu Thượng đế.”

Thuyết phiếm thần Thời đại mới coi thường bản thân và không thừa nhận sự tuyệt đối về mặt đạo đức.

Thuyết phiếm thần rõ ràng không phù hợp với lời dạy của Kinh Thánh rằng Đức Chúa Trời khác biệt với sự sáng tạo của Ngài. Thượng đế đã tồn tại từ muôn thuở, nhưng vũ trụ đã được tạo ra trong thời gian. Thượng đế là vĩnh cửu, nhưng tạo vật là hữu hạn.

Vấn đề chính của thuyết phiếm thần là nó quá đề cao sự bất diệt của Đức Chúa Trời (sự hiện diện) và phủ nhận tính siêu việt của Ngài (quyền tối cao và sự riêng biệt). Kinh Thánh dạy rằng Đức Chúa Trời đang hoạt động trong sự sáng tạo của Ngài, nhưng Ngài không được đồng nhất với nó. Đức Chúa Trời là thánh khiết, cao cả, và tách biệt khỏi tất cả những gì sa ngã và tội lỗi. Nhưng Ngài phục vụ cho những người đang cần. Chúa Giê-su minh họa sự cân bằng hoàn hảo này. Trong Đấng Christ, Đức Chúa Trời bày tỏ sự vô nhiễm của Ngài bằng cách mặc lấy bản tính con người. Nhưng sự siêu việt của Đức Chúa Trời được duy trì trong thực tế rằng Đấng Christ là Con người không tội lỗi. Trong khi những người theo thuyết phiếm thần tôn thờ sự sáng tạo của Đức Chúa Trời là thần thánh, những người theo đạo Cơ đốc tin rằng chúng ta chỉ nên thờ phượng Đức Chúa Trời, nhưng chúng ta nên là người quản lý tốt sự sáng tạo của Ngài và những nguồn lực được giao phó cho chúng ta.

PHIẾM TẠI THẦN THUYẾT

Phiếm tại thần thuyết là một thuật ngữ được sử dụng bởi Karl C. K Krause (1781-1832) để mô tả quan điểm của ông về Chúa. Thuật ngữ này có nghĩa đen là “tất cả [đều] ở trong Chúa.” Trong khi thuyết này khác với “thuyết phiếm thần” nghe có vẻ tương tự, cả hai đều phản ánh nỗ lực giải thích mối quan hệ của Chúa và thế giới.

Theo phiếm tại thần thuyết, Thượng đế ở trong mọi thứ, và mọi thứ là Thượng đế. Trong số các xác suất tồn tại với thuyết nội tại là sự tồn tại của cái ác trên thế giới. Nếu Đức Chúa Trời ở trong mọi sự, làm sao chúng ta giải thích được điều ác? Chúa có ngang nhau trong một cái cây đáng yêu và một cuốn băng video xếp hạng X không? Rõ ràng, có một mâu thuẫn ở đây.

Giống như thuyết phiếm thần, thuyết nàyi thừa nhận sự hiện diện của Chúa ở khắp mọi nơi trên thế giới. Nhưng trong khi thuyết phiếm thần nói rằng “Chúa là cái cây,” thì phiếm tại thần thuyết nói, “cây ở trong Chúa.” Sự khác biệt có vẻ nhỏ, nhưng nó rất đáng kể. Thuyết phiếm thần khẳng định rằng Thượng đế và thế giới là một. Tất cả là Chúa — đá, cây, chim và cá. Phiếm tại thần thuyết khẳng định rằng tất cả đều “ở trong” Chúa, phần nào giống như cá ở trong đại dương.

Hãy nghĩ về hai quả trứng — một quả luộc chín và một quả trứng lộn. Thuyết phiếm thần có thể được ví như món trứng lộn trong đó trứng và óc chó được hòa quyện làm một. Chúa và thế giới là một. Mặt khác, phiếm tại thần thuyết có thể được ví như quả trứng luộc, trong đó cái ách màu vàng là riêng biệt. Phiếm tại thần thuyết nói rằng có một quả trứng thần thánh (Chúa) và bên trong nó là cái ách (thế giới).

Phiếm tại thần thuyết là một nỗ lực kết hợp những điểm mạnh của thuyết thần thánh cổ điển với thuyết phiếm thần. Theo học thuyết này, Chúa tồn tại, và thế giới – ở trong Chúa – chia sẻ thần tính. Vấn đề chính của quan điểm này là thế giới thay đổi, và khi nó thay đổi, Chúa cũng phải thay đổi. Khi thế giới phát triển, Đức Chúa Trời tăng trưởng trong kiến ​​thức và sự hiểu biết về sự sáng tạo của Ngài. Phiếm tại thần thuyết đưa ra cho chúng ta một Đức Chúa Trời luôn thay đổi và là chủ thể có kiến ​​thức hạn chế. Quan điểm này của học thuyết mâu thuẫn với những tuyên bố rõ ràng trong Kinh Thánh liên quan đến sự bất biến của Đức Chúa Trời (Ma-la-chi 3: 6; Gia-cơ 1:17) và sự toàn tri (Thi thiên 139: 3-4; Giăng 21:17; 1 Giăng 3:20).

TỰ NHIÊN THẦN GIÁO

Note: DEISM: TỰ NHIÊN THẦN GIÁO  niềm tin vào một vị thần duy nhất, vị này không tác động đến các sự kiện; và sự tồn tại của vị thần này không có mối liên hệ nào với các tôn giáo, công trình tôn giáo, hoặc sách tôn giáo, v.v.
Là một phong trào hoặc hệ thống tư tưởng ủng hộ tôn giáo tự nhiên, nhấn mạnh đạo đức, và vào thế kỷ 18 phủ nhận sự can thiệp của Đấng Tạo Hóa với các quy luật của vũ trụ.

Từ deism có nguồn gốc từ thuật ngữ tiếng Latinh deus, “Chúa”. Deism là một quan điểm tôn giáo được một nhóm các nhà văn người Anh bắt đầu từ Lord Herbert của Cherbury vào nửa đầu thế kỷ XVII diễn tả. Những người theo thuyết sùng đạo tin rằng Chúa đã tạo ra thế giới và sau đó để nó tuân theo luật tự nhiên. Đối với những người theo thuyết thần thánh, Chúa ở ngoài thế giới và không hoạt động trong đó theo cách siêu nhiên. Theo tư duy của tự nhiên thần giáo, Đức Chúa Trời đã điều chỉnh đồng hồ của thế giới khi sáng tạo, và bây giờ mọi việc tiến hành theo các nguyên tắc của luật tự nhiên mà không cần đến sự can thiệp hay can dự của Ngài.

Những người theo tự nhiên thần giáo đi đến quan điểm của họ thông qua lời chứng của lý trí con người hơn là qua sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Vì lý do này, họ từ chối thẩm quyền của Kinh Thánh. Khi phủ nhận điều siêu nhiên, họ bác bỏ khả năng có phép lạ. Họ tuân theo một khái niệm Nhất thể về Đức Chúa Trời, phủ nhận các học thuyết về Chúa Ba Ngôi, thần tính của Đấng Christ, và sự cứu chuộc được cung ứng tại Thập tự giá.

Tự nhiên thần giáo đối lập với thuyết phiếm thần. Thuyết phiếm thần nhấn mạnh đến sự bất diệt của Đức Chúa Trời (liên quan đến thế giới của chúng ta), nhưng tự nhiên thần giáo nhấn mạnh sự siêu việt của Đức Chúa Trời (được tôn cao lên trên vũ trụ). Kinh Thánh dạy cả sự vô nhiễm của Đức Chúa Trời và sự siêu việt của Ngài. Đức Chúa Trời rất cao trọng về sự sáng tạo của Ngài (Xuất 15: 1; Thi. 99: 2), nhưng Ngài đã nhân từ xuống để giúp đỡ và giải cứu những người biết mình có nhu cầu và khốn khổ (Xuất 3: 8; Phi-líp 2: 5-8).

Một vấn đề chính của thuyết tự nhiên thần giáo là từ chối sự tham gia liên tục và siêu nhiên của Đức Chúa Trời vào sự sáng tạo của Ngài. Theo Kinh Thánh, Đức Chúa Trời, Đấng tạo ra trái đất, duy trì trái đất bằng quyền năng của Ngài (Cô-lô-se 1: l 6-17). Tác giả Thi thiên A-sáp ca ngợi “Đức Chúa Trời là Đấng làm phép lạ” (Thi 77:14). Những can thiệp kỳ diệu của Ngài vào công việc của loài người được ghi lại qua Cựu ước và Tân ước. Những người theo thuyết tự nhiên thần giáo chống đối dựa trên trên lý trí và sự khôn ngoan của con người. Đây là một cách tiếp cận sự thật theo cách chủ quan mà Phao-lô đã nói trong thư tín gửi cho hội thánh tại Cô-rinh-tô. “Vì, tại thế gian cậy sự khôn ngoan mình, chẳng nhờ sự khôn ngoan Đức Chúa Trời mà nhận biết Đức Chúa Trời” (1 Côr. 1:21). Đức tin vào Đấng Christ không dựa vào “sự khôn ngoan của loài người, nhưng dựa vào quyền năng của Đức Chúa Trời” (1 Côr. 2: 5).

Chủ nghĩa tự nhiên thần giáo lan rộng từ Anh sang Đức, Pháp và Mỹ. Vào cuối thế kỷ thứ mười tám, chủ nghĩa này đã trở thành một quan điểm tôn giáo thống trị trong giới trí thức và tầng lớp thượng lưu Mỹ. Trong số những người Mỹ nổi tiếng tự coi mình là đi theo tự nhiên thần giáo có Benjamin Franklin, George Washington và Thomas Jefferson. M. H. Macdonald đã chỉ ra rằng mặc dù chủ nghĩa này không được phổ biến rộng rãi ngày nay, nhưng ý nghĩa lịch sử của nó là rất lớn và nó vẫn còn ảnh hưởng đến tư tưởng tôn giáo trong thời đại của chúng ta.

THỜ HÌNH TƯỢNG

Sự thờ hình tượng xuyên tạc Đức Chúa Trời ở chỗ nó miêu tả Ngài là người có thân thể vật chất mà hình ảnh vật chất có thể gây phẫn nộ. Vào thời Kinh Thánh, việc thờ hình tượng rất thịnh hành ở vùng Cận Đông cổ đại. Người Babylon đã diễu hành hình ảnh Marduk của họ qua các đường phố trong thành phố của họ trong lễ hội lên ngôi hàng năm để vinh danh Ngài. Thần tượng của các vị thần Ai Cập Osiris, Isis và Seth đã được tìm thấy trong lăng mộ của các pharaoh. Các thần và nữ thần Ca-na-an được tượng trưng bởi các thần tượng. Sự hiện diện của những thần tượng này trong xứ Ca-na-an đã gây ra một sự cám dỗ nghiêm trọng cho dân Y-sơ-ra-ên. Tôi sẽ không bao giờ quên xem một chiếc tủ kính trong Bảo tàng Rockefeller ở Jerusalem và nhận ra rằng những thần tượng trước tôi đã ở các thành phố của Israel từ nhiều thế kỷ trước! Nhưng việc thờ thần tượng không đơn giản chỉ là lỗi của quá khứ. Ngày nay, bạn có thể thấy việc thờ ngẫu tượng được thực hiện khi những người thờ cúng dâng một giỏ trái cây trước tượng Phật, hoặc những cánh hoa cho thần tượng Hindu, hoặc thắp hương trước ảnh của tổ tiên họ.

Việc thờ hình tượng mang lại cho những người sùng đạo cảm giác gần gũi về thể xác với vị thần mà họ tôn thờ. Nó cũng cho phép họ kiểm soát một số vị thần. Một thần tượng có thể được di chuyển xung quanh, cất vào tủ và mang ra ngoài khi khẩn cấp. Các vị thần và nữ thần thường được miêu tả là những con vật, những đồ vật mà con người quen thuộc. Ví dụ, Baal, vị thần sinh sản của người Canaan-ites, được đại diện bởi một con bò đực khỏe mạnh và hung hãn. Trong việc thờ hình tượng, những người thờ hình tượng hình dung các vị thần của họ và trang điểm cho các vị thần của họ theo trí tưởng tượng của chính họ.

Thờ thần tượng có ba vấn đề nghiêm trọng. Thứ nhất, Đức Chúa Trời không có cơ thể vật chất. Khi nói chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri, Chúa Giê-su nói: “Đức Chúa Trời là thần linh” (Giăng 4:24). Vì bản chất thiết yếu của Đức Chúa Trời là thần, Ngài không có thân thể vật chất. Vì vậy, thật sai lầm khi miêu tả Đức Chúa Trời như thể Ngài có thân thể vật lý.

 

Thứ hai, Đức Chúa Trời vô hình. Phao-lô viết rằng Chúa Giê-su là “hình ảnh của Đức Chúa Trời không thấy được” (Cô-lô-se 1: 15). Trong một lời tuyên bố ngợi khen Đức Chúa Trời, Phao-lô viết rằng Ngài là “vinh hiển đời đời vô cùng về nơi Vua muôn đời, không hề hư nát, không thấy được” (1 Ti-mô-thê 1:17). Và ông mô tả Đức Chúa Trời là Đấng ” chẳng người nào từng thấy Ngài và cũng không thấy được” (1 Côr. 6:16).

Thứ ba, cố gắng đại diện cho Đức Chúa Trời bằng hình dạng con người hoặc động vật sẽ là  ngăn chặn và giới hạn Ngài. Đức Chúa Trời là vô hạn và ở khắp nơi. Sau khi xây dựng một đền thờ nguy nga cho Chúa, Sa-lô-môn thưa với Chúa rằng: “Trời cao nhất không thể chứa được Ngài. Phương chi cái đền nầy tôi đã cất!” (1 Các vua 8:27).

Hai điều răn đầu tiên trong Mười điều răn (Xuất 20: 3-17) hướng đến sự nguy hiểm của việc thờ hình tượng. Như đã lưu ý, các điều răn đầu tiên tập trung vào bản chất độc quyền của sự thờ phượng thật. “Trước mặt ta, các ngươi không được có thần nào khác” (20: 3). Dân sự của Đức Chúa Trời không phải tuân theo một vị thần nào khác ngoài một Đức Chúa Trời chân thật. Việc tuân theo mệnh lệnh này sẽ giúp dân Y-sơ-ra-ên tránh được các hình thức thờ phượng ngẫu tượng mà các quốc gia láng giềng thực hành. Điều răn thứ hai đề cập đến vấn đề làm thế nào Đức Chúa Trời được thể hiện trong sự thờ phượng. “Các ngươi không được tạo cho mình một thần tượng dưới hình thức nào, bất cứ vật gì ở trên trời, trên trời dưới đất bên dưới đất hay dưới nước. Lệnh này cấm thờ phượng Đức Chúa Trời dưới hình thức một thần tượng hoặc hình ảnh. Lý do cấm thờ thần tượng được tìm thấy trong câu 5, “Vì ta là Đức Chúa Trờii kỵ tà, hễ ai ghét ta, ta sẽ nhân tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời.” Đức Chúa Trời “kỵ tà hay ghen tị” theo nghĩa là Ngài không muốn chia sẻ sự thờ phượng của Ngài với một thần hoặc một hình tượng nào khác. Chỉ một mình Ngài là được tôn thờ. Hậu quả của việc thờ hình tượng được ghi lại trong 20:5-6, “hễ ai ghét ta, ta sẽ nhân tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời, và sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến ta và giữ các điều răn ta.”  Trong khi Đức Chúa Trời tôn trọng lòng trung thành và sự trung tín, thì con cái của những người thờ hình tượng sẽ thừa hưởng hậu quả từ những hành động tội lỗi của cha mẹ họ.

Mặc dù có nhiều “đốí tượng được gọi là thần” (1 Côr 8: 5), chỉ có một “Đức Chúa Trời là Cha, là Đấng mà nhờ Ngài muôn vật được tạo nên” (8: 6). Thần tượng là những tưởng tượng viển vông của loài người sa ngã trong nỗ lực hình thành khái niệm về Đức Chúa Trời và là dấu hiệu cho sự điên dại của con người (Ê-sai. 40: 18-20; Rô-ma 1: 22-23). Là Cơ đốc nhân, chúng ta có thể không bị cám dỗ để thờ thần tượng, nhưng chúng ta có thể có nguy cơ giới hạn Ngài bởi những suy nghĩ và hành động của mình. Chúng ta cũng có thể gặp nguy hiểm khi để cho mọi người và mọi vật thế chỗ của Đức Chúa Trời. Bất cứ điều gì chiếm vị trí của Đức Chúa Trời trong cuộc sống của một người đều là thờ hình tượng. Lời cảnh báo của Giăng vẫn còn thích hợp cho đến ngày nay: “Hỡi các con yêu dấu, hãy giữ mình khỏi các thần tượng” (1 Giăng 5:21).

HẬU TRUYỀN GIÁO (Post-Evangelicalism)

(POST-EVANGELICALISM:  là một phong trào của những người từng là tín hữu Tin Lành, nhưng đã xa rời Cơ đốc giáo vì lý do thần học, chính trị hoặc văn hóa.)

Nhà thần học Millard Erickson đã nhận xét rằng giáo lý về Đức Chúa Trời đã bị giám sát chặt chẽ hơn trong những năm gần đây so với hầu như bất kỳ học thuyết nào khác.  Nhiều học giả Cơ đốc giáo cho rằng quan điểm truyền thống hoặc “cổ điển” về Đức Chúa Trời không còn phù hợp nữa. Điều này đặc biệt đáng lo ngại khi chúng tôi phát hiện ra rằng một số Cơ đốc nhân này đã hoặc đã có mối liên hệ chặt chẽ với truyền giáo. Cuốn sách của Erickson, The Evangelical Left, thảo luận về những khác biệt này từ quan điểm truyền thống (chính thống) về Chúa. Một bản tóm tắt ngắn gọn được cung cấp ở đây.

Cái gọi là “tiến trình” quan niệm về Chúa dường như đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi một quan điểm sửa đổi về thực tại, như được trình bày bởi vật lý học thế kỷ XX. Vật lý học Newton đã hiểu thực tế là bao gồm các chất và thực thể cố định sở hữu những phẩm chất nhất định, vĩnh viễn. Nhưng vật lý học Einsteinian thế kỷ 20 nói rằng thực tế năng động hơn và tương đối hơn. Áp dụng triết lý cơ bản về sự thay đổi năng động này, tiến trình quan điểm về  Đức Chúa Trời cho thấy rằng Ngài thay đổi luôn. Trong khi phương pháp của thần học tiến  trình mang tính triết học hơn là dựa trên Kinh Thánh, nhiều người đề xướng nó đã tìm cách liên hệ các chủ đề trong Kinh Thánh với các khái niệm của tiến trình.

Trái ngược với quan điểm truyền thống về Thiên Chúa là hoàn hảo, trọn vẹn và bất biến, thần học tiến trình xem Ngài là “ngẫu nhiên, phụ thuộc, tạm thời, tương đối, và không ngừng thay đổi.” Và nếu Đức Chúa Trời liên tục thay đổi, thì sự mong đợi của Ngài đối với con người cũng vậy.

Theo các nhà thần học tiến trình, Đức Chúa Trời không phải là Đấng ban luật và Thẩm phán thần thánh, người mong đợi mọi người tuân theo các quy tắc của Ngài. Thay vào đó, Ngài quan tâm nhiều hơn đến việc nuôi dưỡng các thái độ đạo đức có thể được áp dụng theo cách khác nhau trong các tình huống khác nhau. “Quan điểm cho rằng Đức Chúa Trời luôn thay đổi và điều chỉnh các quyết định và hành động của con người mâu thuẫn với nhiều tuyên bố rõ ràng của Kinh Thánh. Mặc dù thực tế là Y-sơ-ra-ên đã phá vỡ giao ước của Đức Chúa Trời và đáng phải chịu cơn thịnh nộ của Ngài, Đức Chúa Trời phán: “Ta là CHÚA không thay đổi. Vì vậy, các ngươi, dòng dõi của Gia-cốp, không bị tiêu diệt “(Ma-la-chi 3: 6). Gia-cơ đã viết rằng  Đức Chúa Trời “không thay đổi”(Gia-cơ 1:17).

Hầu hết các nhà thần học Phúc âm đương thời đã tìm cách tách mình khỏi thần học tiến trình. Tuy nhiên, Clark Pinnock lại giữ một cái nhìn được gọi là “cởi mở” về Đức Chúa Trời và xác định vị trí của mình ở đâu đó giữa chủ nghĩa thần học cổ điển và thần học tiến trình.  Pinnock nói rằng Chúa không biết trước tất cả các thời gian: quá khứ, hiện tại và tương lai. Ngài nhận thức được sự phát triển trên thế giới và phản ứng với chúng, thay đổi suy nghĩ và hành động của Ngài khi cần thiết. Theo Pinnock, “Đức Chúa Trời trải qua thời gian, tìm hiểu sự thật mới khi chúng xảy ra và thay đổi kế hoạch để đáp ứng với những gì con người làm. Pinnock tin rằng Đức Chúa Trời tự nguyện giới hạn bản thân; thích thú trong một vũ trụ mà Ngài không hoàn toàn làm chủ được.” Ông đã lập luận rằng, “Chúa không biết trước mọi lựa chọn trong tương lai hoặc kết quả của mọi quyết định của con người.”  Theo Pinnock, “Niềm tin phổ biến vào sự toàn tri toàn diện của Chúa. không phải là một ý tưởng Kinh Thánh như một truyền thống cũ.”

Hầu hết độc giả sẽ ngay lập tức nhận ra rằng quan điểm của Pinnock và những người giữ quan điểm “cởi mở” về Chúa không phù hợp với cách hiểu cổ điển về Chúa như được nêu trong Kinh Thánh. Điều này sẽ được hiển nhiên khi chúng ta xem xét các thuộc tính của Đức Chúa Trời trong chương 7, “Sự vĩ đại của Đức Chúa Trời”. Các vấn đề chính đối với quan điểm của Pinnock là nó quá đề cao (a) sự bất tử của Đức Chúa Trời với sự siêu việt của Ngài, (b) Sự tương tác của Ngài với sự sáng tạo và sự kiểm soát tối cao của Ngài đối với nó, và (c) sự tự do của con người. Trong khi Pinnock chỉ trích thần học tiến trình, Erickson đã chỉ ra rằng quan điểm cởi mở về Chúa có một số điểm tương đồng với nó.

Khi đánh giá sự khác biệt như vậy với quan điểm chính thống truyền thống về Đức Chúa Trời, sẽ rất hữu ích khi ghi nhớ lời cảnh báo của sứ đồ Giăng, “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ tin cậy mọi thần, nhưng hãy thử cho biết các thần có phải đến bởi Đức Chúa Trời chăng; vì có nhiều tiên tri giả đã hiện ra trong thiên hạ” (1 Giăng 4:1).

NHỮNG HƯỚNG DẪN SAI NGHIÊM TRỌNG

 

Câu chuyện này xảy ra khi tàu lửa còn sử dụng động cơ hơi nước. Một người phụ nữ với một em bé đang đi về phía Tây trên chuyến tàu qua cơn bão tuyết lớn. Động cơ tàu lửa đang hoạt động hết công suất để di chuyển qua lớp tuyết trôi trên đường ray. Trời đã khuya và người phụ nữ không muốn bỏ lỡ việc dừng lại ga nơi chồng cô ở. Vì vậy, cô yêu cầu người người hãm phanh (là một công nhân vận tải đường sắt có công việc ban đầu là hỗ trợ hãm tàu bằng cách hãm từng toa xe) phải cho cô biết khi tàu đến gần điểm dừng của cô.

Tàu chạy chậm lại dường như chuẩn bị dừng, và một người bạn đồng hành nói, “Đây là ga của cô.” Cô nhanh chóng thu dọn đồ đạc của mình và bước xuống tàu trong cơn bão mù mịt. Đoàn tàu tiếp tục chuyển bánh.

Bốn mươi lăm phút sau, người hãm phanh đến chỗ người phụ nữ đã ngồi. “Người phụ nữ cùng đứa bé đâu?” anh ấy hỏi.

“Cô ấy xuống ở điểm dừng cuối cùng,” một du khách trả lời.

Người hãm phanh kêu lên, “Chúng tôi dừng lại chỉ vì một cái gì đó chặn đường ray. Nơi đó không có mợt nhà ga nào cả!”

Họ kêu gọi các tình nguyện viên xuống tàu và quay lại tìm kiếm người phụ nữ và đứa trẻ. Khi họ tìm thấy cô vài giờ sau đó, không xa nơi họ dừng lại, cô bị bao phủ bởi băng và tuyết. Đứa con nhỏ của cô được bảo vệ dưới lớp áo khoác của cô. Người phụ nữ đã đi theo rất nhiều chỉ dẫn, nhưng chỉ dẫn bị sai sót nghiêm trọng. Những hướng dẫn sai lầm đã dẫn đến cái chết của cô ấy.

Nhiều người thành thật đang đi theo hướng sai trong việc tìm kiếm để biết Đức Chúa Trời. Kinh Thánh dạy rằng chỉ có một con đường đến với Đức Chúa Trời, và đó là qua Chúa Giê-su Christ. Chúa Giê-su phán: “Ta là đường đi, lẽ thật và sự sống, chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha” (Giăng 14: 6).

 

Chú thích:

Thần học tiến trình (còn được gọi là thần học Tân cổ điển) là một trường phái tư tưởng chịu ảnh hưởng của triết học quá trình siêu hình của Alfred North Whitehead (1861 – 1947). Các khái niệm của thần học tiến trình bao gồm: Đức Chúa Trời không toàn năng theo nghĩa bị ép buộc. Thần thánh có quyền năng thuyết phục hơn là sức mạnh.

 

 

3

DANH  CỦA  ĐỨC CHÚA TRỜI

 

Câu hỏi đầu tiên bạn thường hỏi một người mà bạn gặp lần đầu tiên là gì? Nếu mà bạn cũng giống như hầu hết mọi người, thì đó là bạn muốn biết tên của người đó là gì.

Tên của một người khiến người đó khác biệt với đám đông như một cá thể riêng biệt. Hầu hết mọi người đều thích tên của họ và đánh giá cao việc người khác gọi họ bằng tên. Trong cuốn sách kinh điển của mình, Đắc Nhân Tâm – How to Win Friends and Influence People, Dale Carnegie đã viết rằng tên của một người là “âm thanh ngọt ngào nhất và quan trọng nhất trong bất kỳ ngôn ngữ nào.”1 Nếu tên của ai đó là âm thanh ngọt ngào nhất, thì chúng ta có thể đoán rằng âm thanh tệ nhất là sự phát âm sai tên của người đó! Tôi luôn có thể xác định được ai đó đang gạ tình qua điện thoại. Họ luôn phát âm sai họ của tôi! Thật là thậm tệ nếu bị người mà bạn coi là bạn lại phát âm sai tên của bạn. Có lẽ bạn đã phải rất mắc cỡ khi phát hiện ra rằng bạn đã phát âm sai tên của ai đó mà bạn quen biết trong một thời gian.

Đôi khi chúng ta quên tên một ai đó. Một sinh viên mà tôi đã không gặp trong mười năm đứng trước cửa văn phòng của tôi. Ngay lập tức tôi nhận ra anh ta, nhưng tên của anh ta đã bị khóa trong một “tập tin” không thể truy cập được ở đâu đó trong tâm trí tôi. Cuối cùng tôi đã phải ngăn anh ta lại và nói, “Tôi biết anh là ai, nhưng vì một lý do nào đó, tôi đã quên mất tên của anh. Anh có thể nhắc tôi không?”

Tên không chỉ quan trọng đối với con người; chúng cũng quan trọng đối với Đức Chúa Trời. Trong Kinh Thánh, tên không chỉ đơn giản là một thẻ nhận dạng. Chúng thường nói lên điều gì đó về tính cách của người đó. Chúng là “sự tiết lộ về con người thật của một người.”2 Những nhân vật trong Kinh Thánh đôi khi được đặt tên hoặc đổi tên dựa trên một đặc điểm tính cách cụ thể. Ví dụ, tên của Chúa Giê-su có nghĩa là “Đức Giê-hô-va, Cứu Chúa.” Khi Giô-sép được cho biết đây là tên của con trai Ma-ri (Ma-thi-ơ 1:21), thiên sứ giải thích, “vì chính con trai ấy sẽ cứu dân mình ra khỏi tội.” Tầm quan trọng của tên một người cũng được chứng minh qua việc Người Chăn Hiền Lành “kêu tên chiên mình” (Giăng 10: 3).

 

CUỘC GẶP GỠ TẠI BỤI GAI CHÁY (XUẤT 3: 4-12)

 

Phép lạ về bụi gai cháy xảy ra gần Núi Hô-rếp (Xuất 3:1), tên gọi khác là Núi Si-na-i (19:1-2; Phục 4:10). Môi-se đã ở đó trong sa mạc Si-na-i và đang chăn bầy chiên cho Giê-trô, ông gia mình, ông thấy một điều đáng kinh ngạc. Môi-se đã nhìn thấy một bụi gai đang cháy, nhưng không hề tàn! Khi ông tiến lại gần hơn để xem kỹ hơn hiện tượng bất thường này, thì ông nghe thấy tên mình được gọi lên, “Hỡi Môi-se, Hỡi Môi-se.” Sau đó, ông nghe một tiếng phán ra lệnh cho ông: “Chớ lại gần…Hãy cởi giày ngươi ra, vì chỗ ngươi đương đứng là đất thánh” (Xuất 3:5).

Đấng đang phán đó đã xác nhận chính Ngài trong mối quan hệ với các tổ phụ. “Ta là Đức Chúa Trời của tổ phụ ngươi, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp” (3:6). Việc đề cập đến Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp sẽ gợi cho Môi-se nhớ lại lời hứa đã được lập với các tổ phụ này — lời hứa về một vùng đất, một dân tộc, và một nguồn phước (Sáng 12:3; 26:2-4; 28:13-15). Môi-se đang đối diện với Đức Chúa Trời, chính Đấng đã lập ra một cam kết vô điều kiện với con cháu của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.

Những sự chịu đựng của dòng dõi Áp-ra-ham đã không trôi qua mà không được biết đến bởi Đức Chúa Trời của tổ phụ họ. Đức Chúa Trời đã nhìn thấy hết những đau khổ của họ và Ngài hứa sẽ “giải cứu họ khỏi tay người Ê-díp-tô, dẫn từ xứ ấy lên đến một xứ kia đẹp đẽ và rộng rãi, đượm sữa và mật” (Xuất 3:8). Khi Đức Chúa Trời phán, “Ta ngự xuống” (3:8),3 Ngài xác nhận chính Ngài là một Đức Chúa Trời riêng biệt, Đấng hành động trong lịch sử nhân loại.

Nhưng trong khi Đức Chúa Trời hứa sẽ can thiệp thay cho dân sự Ngài, Ngài không hành động một mình. Ngài cần một người trợ giúp, một người nói thay với tư cách là người đại diện của Ngài. Đức Chúa Trời không cho Môi-se cơ hội tự nguyện hay từ chối. Ngài chỉ đơn giản tuyên bố, “Ta sai ngươi đi đến Pha-ra-ôn, để dắt dân Ta, là dân Y-sơ-ra-ên, ra khỏi xứ Ê-díp-tô” (3:10).

Môi-se có thể đã thiếu tự tin. Mặc dù ông đồng ý với kế hoạch của Đức Chúa Trời, nhưng ông lại không chắc mình là người sẽ thực hiện kế hoạch đó. Ông hỏi “Tôi là ai, dám đi đến Pha-ra-ôn, đặng dắt dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô?” (3:11). Môi-se đã nghi ngờ về khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mình. Để an ủi và bảo đảm với Môi-se, Đức Chúa Trời đã hứa với ông về sự hiện diện cách cá nhân của Ngài, “Ta sẽ ở cùng ngươi” (3:12). Đức Chúa Trời khích lệ và hỗ trợ ông trong nhiệm vụ được giao. Thật đáng được khích lệ khi biết rằng, cũng như với Môi-se, Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ giao cho chúng ta một nhiệm vụ mà Ngài không thêm năng lực cho chúng ta để hoàn thành nó!

 

CÂU HỎI VỀ DANH XƯNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (XUẤT 3: 13-15)

 

Môi-se có một thắc mắc. Ông chắc chắn rằng mọi người sẽ hỏi, “Ai đã sai ông đến? Nếu ông được Đức Chúa Trời sai đến như ông nói, hãy cho chúng tôi biết tên của Ngài.” Nhiều vị thần được thờ ở Ai Cập, tất cả họ đều có danh xưng. Môi-se muốn xác thực lời kêu gọi từ Đức Chúa Trời bằng cách đặt tên cho Đấng mà thẩm quyền của ông được đặt nơi Đấng ấy. Vì vậy Môi-se đã hỏi Đức Chúa Trời rằng ông nên nói gì với họ (Xuất 3:13).

Đức Chúa Trời đã ân cần đáp ứng yêu cầu của Môi-se. Trước tiên Ngài tiết lộ ý nghĩa của tên Ngài (3:14) và sau đó là chính tên của Ngài (3:15). “Đức Chúa Trời phán với Môi-se rằng: ‘Ta là ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU’. Đây là điều ngươi phải nói với dân Y-sơ-ra-ên: ‘Đấng Tự Hữu Hằng Hữu sai ta đến cùng các ngươi’” (3:14). Hầu hết các bản Kinh Thánh đều viết hoa thuật ngữ “ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU”, để cho thấy rằng có một điều gì đó đặc biệt đang được khẳng định về Đức Chúa Trời, đó là bản thể tuyệt đối của Ngài. Thuật ngữ “ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU”, dịch ở dạng ngôi thứ nhất của động từ haya, “to be.” Ý nghĩa là Đức Chúa Trời là Đấng tự hiện hữu. Như Ronald Allen đã nói, “Sự tồn tại của Ngài không phụ thuộc vào bất cứ điều gì hoặc bất cứ ai ngoại trừ ý muốn của Ngài.”4

Thuật ngữ “ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU” không chỉ về sự tồn tại thụ động của Đức Chúa Trời mà là sự hiện hữu hoạt động của Ngài. Ngài tích cực tham gia với nhân loại, đáp ứng nhu cầu của họ và tiết lộ thân vị của Ngài. Ngài tồn tại không chỉ vì lợi ích của chính Ngài mà còn vì lợi ích của dân sự Ngài. Sự tham gia tích cực của Đức Chúa Trời được thể hiện rõ ràng trong chính bối cảnh của đoạn văn. “Ta ngự xuống đặng cứu dân nầy khỏi tay người Ê-díp-tô, dẫn họ ra khỏi xứ ấy” (3:8). Khi Đức Chúa Trời phán “ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU”, Ngài đang đề cập đến sự hiện hữu có tính hành động và mang đến sự sống. Như Walther Eichrodt đã nhận xét, thuật ngữ “ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU” có nghĩa là Đức Chúa Trời “thực sự hiện diện, sẵn sàng giúp đỡ và hành động.”5

Thuật ngữ “ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU” diễn tả ý nghĩa của tên Đức Chúa Trời nhưng chúng không phải là tên của Ngài. Danh xưng của Đức Chúa Trời được tiết lộ trong câu 15. Đức Chúa Trời phán thêm với Môi-se, hướng dẫn ông nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: “Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, sai ta đến cùng các ngươi” (3:15). Từ “Giê-hô-va” là từ ở ngôi thứ ba của động từ “to be” trong tiếng Hê-bơ-rơ. Vì vậy, nhiều học giả tin rằng danh xưng này của Đức Chúa Trời nói lên sự hiện hữu của Ngài một cách đúng đắn. Trong tiếng Hê-bơ-rơ, từ “Yahweh” được viết với bốn phụ âm yhwh, và do đó có thể được hiểu là Giê-hô-va.
J editing

 

GIÊ-HÔ-VA

 

Đôi khi tên này được rút ngắn thành Yah (Xuất 15: 2; 17:16; Thi 118: 14). Điều này xảy ra nhiều lần trong các Thi thiên gọi là Hallel (Thi thiên 113-118, 146-150), được đánh dấu bằng lời thúc đẩy, Ha-lê-lu-gia. Thuật ngữ hallelujah bao gồm hai yếu tố. Phần thứ nhất là “lời ngợi khen” mang tính bắt buộc tượng trưng bởi hallelu, và phần thứ hai là dạng rút gọn của danh xưng Đức Chúa Trời, Yah. Vì vậy, thuật ngữ hallelujah có nghĩa là “Hãy cất tiếng vui mừng ngợi khen Đức Giê-hô-va.”

Đôi khi danh xưng của Đức Chúa Trời là Giê-hô-va được củng cố bằng cách thêm vào từ “vạn quân,” như trong cụm từ “Đức Giê-hô-va vạn quân” (“Yahweh of host”). Trong khi Bản NASB dịch là “Đức Giê-hô-va vạn quân” (“Lord of host”), thì Bản NIV lại dùng cụm từ “Đức Giê-hô-va Toàn năng.” Sự thay đổi này trong danh xưng của Đức Chúa Trời đôi khi được sử dụng trong các bối cảnh quân sự và hàm ý Ngài là Đấng chỉ huy các đạo binh thiên sứ trên trời (1 Các Vua 18:15; xem thêm Lu-ca 2:13; Khải huyền 19:14) và các đội quân Y-sơ-ra-ên (1 Sa-mu-ên 17:45; xem thêm Giô-suê 5: 13-15). Thuật ngữ này nhấn mạnh quyền năng của Đức Chúa Trời trong sự cai trị của Ngài trên cả trời và đất. Ê-sai đã thấy một khải tượng về Đức Chúa Trời, trong đó các thiên sứ được gọi là các Sê-ra-phim đã kêu lên rằng “Đức Giê-hô-va Toàn năng [nghĩa đen, ‘Đức Giê-hô-va vạn quân’]” thánh thay (Ê-sai 6: 3). Đấng này là “Đức Giê-hô-va của các đạo binh [thiên sứ]” ở cùng với dân sự của Ngài (Thi 46: 7, 11; A-ghê 2: 4).

Đôi khi danh xưng của Đức Chúa Trời là Giê-hô-va được kết hợp với một từ khác để gợi lại tên của một địa điểm hoặc sự kiện.

Giê-hô-va Di-rê (“Đức Giê-hô-va sẽ Sắm sẵn,” Sáng thế ký 22:14)

Giê-hô-va Ra-pha (“Đức Giê-hô-va là Đấng chữa lành,” Xuất 15:26)

Giê-hô-va Ni-si (“Đức Giê-hô-va Cờ xí của tôi,” Xuất 17:15)

Giê-hô-va Sa-lam (“Đức Giê-hô-va Đấng ban sự Bình an,” Các Quan xét 6:24)

Giê-hô-va Sít-Ki-Nu (“Đức Giê-hô-va Đấng công bình của chúng ta,” Giê 23: 6)

Giê-hô-va Sam-ma (“Đức Giê-hô-va ở đó,” Ê-xê-chi-ên 48:35)

 

VIỆC SỬ DỤNG DANH ĐỨC CHÚA TRỜI CÁCH BẤT KÍNH (XUẤT 20:7)

 

Nhiều Cơ đốc nhân không biết rằng danh của Đức Chúa Trời là Giê-hô-va. Điều này có thể xảy ra do sự sốt sắng quan tâm đến việc tránh lạm dụng danh Đức Chúa Trời. Trong Xuất Ê-díp-tô Ký 20: 7, Điều răn thứ ba nói rằng, “Ngươi chớ lấy danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà làm chơi, vì Đức Giê-hô-va chẳng cầm bằng vô tội kẻ nào lấy danh Ngài mà làm chơi.” Hầu hết mọi người lấy điều răn này để áp dụng cho việc chửi thề và thô tục (có lẽ vì bản KJV và NASB cho rằng “làm chơi” là “dùng … cách vô ích”). Mặc dù đây là những áp dụng thích hợp của điều răn, nhưng nó được áp dụng cách trực tiếp nhất cho việc dùng sai danh xưng riêng của Đức Chúa Trời là Giê-hô-va. Dân sự của Đức Chúa Trời không được sử dụng danh Ngài một cách ngu xuẩn, không mục đích hoặc không xứng đáng.

 

DANH XƯNG TRONG TRUYỀN THỐNG NGƯỜI DO THÁI

 

Sự quan tâm chân thành để tránh phạm thượng và hậu quả nghiêm trọng của việc dùng sai danh xưng Đức Chúa Trời dẫn đến việc sử dụng danh Đức Chúa Trời khá ít. Rõ ràng dân Y-sơ-ra-ên nghĩ: “Tốt hơn là nên tránh dùng danh Đức Chúa Trời còn hơn là vô tình dùng sai danh ấy.” Theo thời gian, người Do Thái đã ngừng sử dụng danh xưng Giê-hô-va. Bất cứ khi nào họ thấy danh xưng này của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh, họ thay thế bằng một tên gọi khác là Adonay có nghĩa là “Chúa” hoặc “Chủ”.

Nghi thức trong Ngày Lễ Chuộc Tội là thầy tế lễ thượng phẩm sẽ nói ra danh của Đức Chúa Trời mười lần. Mỗi lần làm như vậy, các thầy tế lễ và toàn thể hội chúng sẽ sấp mình xuống đất và nói: “Chúc tán Danh Ngài, sự vinh quang của vương quốc Ngài hằng đến đời đời không hề thay đổi.”6 Trong thời cổ đại, danh xưng này đã được nói ra rõ ràng. Sau đó, bởi vì một số người cố gắng sử dụng nó cho các mục đích huyền bí, nên danh xưng này chỉ còn là tiếng nói thì thầm, bị lấn át bởi những âm thanh của các nhạc cụ của các thầy tế lễ và lời hát xướng của người Lê-vi. Cuối cùng người Do Thái không dùng đến danh Giê-hô-va nữa.

Phong tục sử dụng tên gọi Adonay (“Chúa”) để thay thế cho danh xưng của Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục trong vòng người Do Thái cho đến ngày nay. Nếu bạn có dịp đến thăm một buổi lễ Sa-bát trong một giáo đường Do Thái vào tối thứ Sáu, bạn sẽ nghe thấy từ Adonay được dùng thay cho Yahweh trong Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ. Hầu hết những người Do Thái đều xem việc sử dụng danh xưng Giê-hô-va là điều vô cùng bất kính và vô tín.

 

SỰ LAI GHÉP CỦA DANH XƯNG “GIÊ-HÔ-VA”

 

Nếu tên của Đức Chúa Trời nên được phát âm là “Yahweh”, thì tên “Giê-hô-va” đã ra đời như thế nào? Đây là một câu chuyện thú vị. Cùng với mối quan tâm về việc cải cách Hội thánh vào những năm 1500, người ta lại quan tâm đến việc nghiên cứu Kinh Thánh. Việc không sử dụng danh xưng Yahweh trong truyền thống của người Do Thái đã được khắc phục bằng một nhận thức mới về tầm quan trọng của danh xưng.

Trong bản văn tiếng Hê-bơ-rơ nguyên thủy của Cựu ước, thuật ngữ “Yahweh” chỉ có phụ âm và không có nguyên âm. Điều này cũng đúng với văn học Hê-bơ-rơ hiện đại. Những người quen thuộc với ngôn ngữ Hê-bơ-rơ chỉ cần đọc các phụ âm và thêm các nguyên âm khi phát âm thuật ngữ này. Qua nhiều năm, cách đọc bản văn tiếng Hê-bơ-rơ truyền thống đã được thiết lập. Các thầy thông giáo Do Thái được biết đến là người Masorete đã bảo tồn và lưu truyền một truyền thống theo nguyên văn cố định (masorah). Vào khoảng năm 1000 C.C, họ đã thêm các nguyên âm vào bản văn tiếng Hê-bơ-rơ để duy trì cách đọc được chấp nhận. Khi họ thêm các nguyên âm vào bản văn, thì bốn phụ âm trong Yahweh (yhwh) vẫn được giữ nguyên tức là không thêm nguyên âm, nhưng các nguyên âm của Adonay được thêm vào như một lời nhắc nhở trong việc sử dụng từ “Chúa” thay vì “Yahweh”.

Điều xảy ra tiếp theo là điều mà vẫn thường xuyên xảy ra trong thế giới đầy những trái cây, bông hoa và động vật. Người ta đã lai hai loài lại với nhau và tạo ra một con lai. Vào khoảng thế kỷ thứ sáu, các học giả bắt đầu trộn các phụ âm của Yahweh với các nguyên âm của Adonay và đưa ra một tên ghép “Giê-hô-va.” Tên này đã được giới thiệu với công chúng thông qua các bản dịch và được phổ biến thông qua một số ấn bản của Bản King James và các bài thánh ca Cơ đốc. Nhưng “Giê-hô-va” là một danh xưng ghép và không phải là cách phát âm ban đầu của một danh xưng thần thượng.

 

MỐI QUAN HỆ CỦA ĐỨC GIÊ-HÔ-VA VỚI CHÚA GIÊ-SU

 

Trước khi Chúa Giê-su sinh ra, một thiên sứ đã hiện ra với Giô-sép trong giấc chiêm bao và phán rằng Ma-ri đã được chịu thai bởi Đức Thánh Linh và sẽ sinh một con trai. Sau đó, thiên sứ hướng dẫn Giô-sép đặt tên cho con trai. “Ngươi khá đặt tên là Giê-su, vì chính con trai ấy sẽ cứu dân mình ra khỏi tội” (Mat 1:21). Tên “Giê-su” là tiếng Hy Lạp và là yesua trong tiếng Hê-bơ-rơ. Tên “yesua” là một tên ghép được ghép từ chữ viết tắt của danh xưng Đức Chúa Trời Yahweh và động từ “cứu rỗi” trong tiếng Hê-bơ-rơ. Vì vậy, tên của Chúa Giê-su theo nghĩa đen có nghĩa là “Đức Giê-hô-va cứu rỗi” và được giải thích bằng mệnh đề, “Ngài sẽ cứu dân mình ra khỏi tội.” Trong thân vị của Chúa Giê-su, chúng ta có một minh chứng cuối cùng về những gì Đức Chúa Trời đã hứa với Môi-se trong Xuất Ê-díp-tô Ký 3: 8, “Ta ngự xuống đặng cứu dân nầy.” Qua Chúa Giê-su, công việc cứu rỗi và giải cứu của Đức Giê-hô-va được thực hiện đầy đủ.

Nhiều lần trong chức vụ trên đất, Chúa Giê-su đã bị những người nghe thách thức. Một trong những cuộc đối đầu kịch tính nhất đó là khi kẻ thù của Ngài cáo buộc Ngài bị quỷ ám (Giăng 8:52). Câu hỏi trong tâm trí những người tố cáo Ngài là, “Chúa Giê-su là ai?” Họ yêu cầu Ngài bày tỏ về chính Ngài. Chúa Giê-su đã trả lời câu hỏi của họ bằng cách nói Ngài là niềm hy vọng của Áp-ra-ham. “Cha các ngươi là Áp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của ta; người đã thấy rồi, và mừng rỡ” (8:56). Từ lời phán này, người Do Thái cho rằng Đấng Christ hẳn đã nhìn thấy Áp-ra-ham, nhưng đối với họ, điều này là không thể. Chúa Giê-su đã củng cố lời của Ngài bằng một tuyên bố kỳ diệu, “Trước khi chưa có Áp-ra-ham, TA HẰNG HỮU” (8:58). Điều này rõ ràng đề cập đến lời tuyên bố của Đức Giê-hô-va trong Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14, “TA LÀ ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU.”

Nhận xét về những lời của Chúa Giê-su, “TA HẰNG HỮU,” Leon Morris viết, “Đó là phong cách của thần thánh, và nó chỉ ra sự đời đời của Đức Chúa Trời theo sự hiểu biết chặt chẽ nhất về bản chất tiếp diễn của hiện tại [theo thì của tiếng Hy Lạp] eimi. Ngài liên tục HIỆN HỮU.”7 Người nghe Do Thái nhận ra rằng Chúa Giê-su đang xác nhận chính Ngài bằng chính những từ ngữ mà Đức Chúa Trời đã dùng để mô tả về Ngài trong Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14. Việc sử dụng chính lời phán của Đức Chúa Trời là sự phạm thượng, họ đã lấy đá đặng ném Ngài cho tới chết vì đã dùng danh xưng thần thượng cho chính Ngài.

Tuy nhiên, những lời của Ngài là một lời khẳng định rõ ràng về sự hằng hữu và thần tánh của Ngài. Khi Tân Ước trích dẫn các câu Kinh Thánh trong Cựu Ước có từ Yahweh theo tiếng Hê-bơ-rơ, thì Tân Ước sử dụng thuật ngữ kyrios (“Chúa”) theo tiếng Hy Lạp. Điều này đã xác nhận thần tánh của Chúa Giê-su. Vì Kyrios đồng nhất với Yahweh.8

Danh xưng kỳ diệu Giê-hô-va nhắc nhở chúng ta rằng Đức Chúa Trời hiện hữu, và Ngài là Đấng tự hữu, Đấng luôn sẵn sàng dang tay ra và giúp đỡ dân sự của Ngài.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

4

Các Tên Gọi Của Đức Chúa Trời

 

MẶC DÙ TÔI TÊN là Carl Laney, nhưng đôi khi tôi được gọi theo nhiều cách khác nhau. Bởi vì khi tôi lấy bằng tiến sĩ tại chủng viện Dallas, thì một số sinh viên gọi tôi là “Tiến sĩ”, một thuật ngữ bắt nguồn từ gốc tiếng La-tinh có nghĩa là “thầy”. Bởi vì tôi được thụ phong chức vụ vào năm 1975, thì một số người đã gọi tôi là “Đức cha.” Đây là danh xưng mà tôi không mấy ưa thích bởi vì Đức Chúa Trời mới là Đấng duy nhất thực sự đáng để chúng ta tôn kính. Bởi vì tôi là giáo sư của một chủng viện, nên một số sinh viên đã gọi tôi là “Giáo sư.” Khi tôi còn đang giảng dạy ở Phi-líp-pin tại Chủng viện Thần học Á Châu, các sinh viên Phi-líp-pin đã gọi tôi là “Ngài.” Khi tôi làm mục sư cho Hội thánh Báp-tít Đức tin ở Trung Quốc, thì những người ở đó trìu mến gọi tôi là Mục sư. Các con tôi gọi tôi là Bố, và vợ tôi gọi tôi là Anh yêu.

Có rất nhiều danh hiệu mà tôi đã được gọi. Nhưng tôi thì chỉ có một cái tên—Carl thôi. Tương tự như vậy, trong khi Đức Chúa Trời chỉ có một danh xưng là Giê-hô-va, nhiều danh hiệu của vị thần được tìm thấy trong Kinh Thánh. Như những danh hiệu mà tôi được gọi nói lên điều gì đó về tôi, vì vậy những danh xưng được dùng cho Đức Chúa Trời sẽ cho chúng ta biết điều gì đó về Ngài. Chương này tập chú vào ý nghĩa và tầm quan trọng của các danh xưng trong Kinh Thánh về các vị thần. Nghiên cứu này sẽ cho phép chúng ta biết về Đức Chúa Trời nhiều hơn khi chúng ta quen thuộc với nhiều cách khác nhau mà Ngài được nhận dạng.

 

CÁC DANH XƯNG TRONG CỰU ƯỚC

Trong Cựu Ước, Đức Chúa Trời được gọi là Chiến sĩ (Xuất Ê-díp-tô ký 15:3), Hòn đá (Thi 18:2), Đấng cứu chuộc (19:14), Vua (10:16), Đấng chăn giữ (23:1), và Người chồng. (Ô-sê 2:16). Những thuật ngữ có chất thơ này truyền đạt những hình ảnh mạnh mẽ mà chúng ta sẽ thảo luận ở phần sau. Nhưng ở đây chúng tôi tập chú vào các danh xưng rất phổ biến trong Cựu Ước về thần.

 

Ê-lô-him

Ê-lô-him là một dạng số nhiều được sử dụng hơn hai ngàn năm trăm lần trong Kinh Thánh tiếng Do Thái. Nó là một thuật ngữ chung để chỉ Đức Chúa Trời và cũng có thể được sử dụng để áp dụng cho các vị thần giả mạo cũng như cho các quan xét và các vua. Ê-lô-him thường được dịch là “Đức Chúa Trời” trong các bản dịch tiếng Anh.

Ê-lô-him thường được sử dụng với một cụm từ mô tả như một danh hiệu nào đó mà dân sự Đức Chúa Trời có thể nhận biết Ngài. Ví dụ, Ngài được gọi là “Đức Chúa Trời, Đấng đã tạo ra biển và đất” (Giô-na 1:9). Sự mô tả này nhắc nhớ chú ý đến công việc của Ngài với tư cách là Đấng Tạo Hóa. Thành ngữ “Đức Chúa Trời của cả đất” (Ê-sai 54:5) nhấn mạnh quyền tể trị của Ngài. Những từ “Đức Chúa Trời đoán xét trái đất” (Thi thiên 58:11) nhắc nhở chúng ta về sự công bằng của Ngài và trách nhiệm của chúng ta trước mặt Ngài.

Một số cụm từ mô tả tập trung vào một thuộc tính cụ thể của Đức Chúa Trời, như các cụm từ “Đức Chúa Trời đời đời” (Ê-sai 40:28), “Đức Chúa Trời hằng sống” (Giê-rê-mi 10:10), hoặc “Đức Chúa Trời thánh khiết” (1 Sa-mu-ên 6:20). Cụm từ “Đức Chúa Trời của… Áp-ra-ham” (Sáng thế ký 26:24) gợi nhớ đến lời hứa của Ngài với Áp-ra-ham (12:1-3) và sự thành tín của Ngài đối với ông. Thông thường điều này được đề cao, như trong thành ngữ “Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác và Đức Chúa Trời của Gia-cốp” (Xuất Ê-díp-tô ký 3:6). Công việc của Ngài với tư cách là Đấng Cứu chuộc được nhấn mạnh trong cụm từ “Đức Chúa Trời là Đấng Cứu rỗi tôi” (Thi thiên 18:46). Công việc của ông với tư cách là Người bảo vệ được thấy trong thành ngữ “Đức Chúa Trời của đạo binh Y-sơ-ra-ên” (1 Sa-mu-ên 17:45).

Một số cách diễn đạt được sử dụng với Ê-lô-him để mô tả hành động của Đức Chúa Trời đại diện cho dân sự Ngài. Ngài là ” Ðấng đã đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, tức khỏi nhà nô lệ” (Phục truyền Luật lệ ký 8:14). Một số nhấn mạnh sự gần gũi của Đức Chúa Trời với dân Ngài, như trong lời nói. “Đức Chúa Trời của ngươi, Đấng mà ngươi tin cậy” (2 Các vua 19:10, NASB), hoặc “Đức Chúa Trời yêu thương của tôi” (Thi thiên 59:17).

Từ Ê-lô-him là số nhiều. Điều này thường được mô tả là “sự cứu rỗi vĩ đại của đấng cứu thế của ngài.” Điều này hao hao giống như “số nhiều biên tập”, trong đó tác giả sử dụng đại từ “chúng tôi” khi nói về chính mình. Việc các tác giả tiếng Hê-bơ-rơ không coi Ê-lô-him là số nhiều thực sự là do họ thường xuyên sử dụng thuật ngữ này với các dạng động từ số ít, các tính từ và đại từ.

William F. Albright đã chỉ ra rằng trong thế giới Ca-na-an ngày càng có xu hướng sử dụng hình thức số nhiều với các vị thần Ca-na-an, như trong tiêu đề Ách-ta-rốt đã sử dụng cho Át-tạt-tê.1 Đây là một nỗ lực nhằm nhấn mạnh đến “tính toàn bộ của các biểu hiện của một vị thần hoặc để tôn vinh một trong những vị thần” bằng cách gọi vị thần đó là “tổng thể của các vị thần.” Mặc dù bối cảnh văn hóa này có thể làm sáng tỏ việc sử dụng số nhiều, nhưng một lý do hợp lý hơn được tìm thấy trong chính Kinh Thánh. Từ Ê-lô-him có thể nói về sự hợp nhất của một Đức Chúa Trời uy nghiêm duy nhất và cũng cho phép có nhiều ngôi vị thần linh trong Ba Ngôi Thiên Chúa (Ê-sai 48:16; Ma-thi-ơ 28:19). Mặc dù chúng ta nhận ra rằng “sự cứu rỗi vĩ đại của đấng cứu thế của ngài” thừa nhận Chúa Ba Ngôi thay vì nêu rõ học thuyết này một cách rõ ràng, việc sử dụng nó trong Cựu Ước cho thấy sự tồn tại của Đức Chúa Trời Ba Ngôi.

 

Eo

Thuật ngữ Eo về cơ bản có nghĩa giống như Ê-lô-him. Từ này có thể là gốc của từ Ê-lô-him được tạo thành từ số nhiều. Eo có thể được sử dụng như một danh xưng chung cho bất kỳ vị thần nào bao gồm cả Đức Chúa Trời chân thật của Y-sơ-ra-ên. Nó được khám phá từ trong các văn bản chữ hình nêm cổ đại được tìm thấy tại Ugarit, thuộc Sy-ri ngày nay, đã chỉ ra rằng thuật ngữ này là cái tên trong tiếng Semitic rất cổ chỉ về thần. Trên thực tế, vị thần tối cao của dân Ca-na-an được đặt tên là Eo.

Các học giả đã quan sát thấy trong Kinh Thánh có xu hướng là danh xưng Eo đi kèm với các văn bản. Nó hiếm khi được sử dụng trong Kinh Thánh mà không có một số từ để mô tả đề cao và phân biệt Đức Chúa Trời chân thật với các giả thần khác mang tên eo (“thần”), và vì vậy Eo được dùng để biểu thị sự vĩ đại và siêu việt thực sự của Đức Chúa Trời so với tất cả các vị thần khác. Theo nghĩa đen thì dịch, Ngài “là Eo vĩ đại “(Giê-rê-mi 32:18),2Eo của các eo” (Đa-ni-ên11:36), “Eo của các từng trời “(Thiên thiên 136:26) và “Eo chí cao” (Sáng thế ký 14:18-19).

Thuật ngữ Eo thường đi kèm với các bản văn mô tả Ngài là Đấng Cứu Thế của Y-sơ-ra-ên. Một lần nữa, các bản dịch theo nghĩa đen chỉ Ngài là “Eo thành tín” (Phục truyền Luật lệ ký 7:9), “Eo thánh khiết” (Ê-sai 5:16). “Eo toàn năng” (Sáng 17:1), “Eo vạn quân” (Ê-sai 9:6), và “Eo hằng hữu” (Sáng 21:33). Một số bản văn khá mang tính cá nhân, chẳng hạn như “Eo là đấng ban sức mạnh cho tôi” (Thi thiên 18:32), “Eo hòn đá của tôi” (42:9), và “Eo là sự cứu rỗi của tôi” (Ê-sai 12:2, NASB).

Trong một số câu kinh thánh, ‘Eo được sử dụng kết hợp với tính từ Ê-ly-ôn trong tiếng Do Thái, có nghĩa là “cao”. Khi được sử dụng cho Chúa, thuật ngữ này có hàm ý so sánh nhất, “cao nhất.” Và vì thế trong Sáng thế ký 14:19 Mên-chi-xê-đéc đã công nhận Ngài là “Đức Chúa Trời Chí Cao” [Eo ê-ly-ôn], Đấng tạo dựng trời và đất”. Người viết Thi thiên vô thần nhớ lại cách Eo ê-ly-ôn là “Hòn đá” và “Đấng Cứu chuộc” của dân sự Ngài (Thi thiên 78:35).

Sự kết hợp Eo Sa-đai là một danh xưng quen thuộc dành cho Đức Chúa Trời. Nguồn gốc của Sa-đai đang được tranh luận. Một số đã liên kết nó với một từ có nghĩa là “dẫy núi”, theo cách đó gọi là “Chúa của những ngọn núi.” Những người khác cho rằng nó xuất phát từ một từ trong tiếng Akkadian, có nghĩa là “ngực”, do đó gợi ý rằng Đức Chúa Trời nuôi dưỡng dân sự của Ngài. Trong Cựu Ước, danh xưng này nhấn mạnh đến sức mạnh và quyền năng của Đức Chúa Trời (ví dụ, xem Sáng thế ký 17:1; 28:3; 35:11; 43:14; 48:3; 49:25). Eo Sa-đai toàn năng có thể và sẽ đại diện cho chính Ngài để đáp ứng nhu cầu của họ và thực hiện lời hứa của Ngài.

 

Ê-lô-a

Chữ Ê-lô-a được sử dụng khoảng sáu mươi lần trong Cựu Ước để chỉ về Đức Chúa Trời. Nguồn gốc chính xác của Ê-lô-a thì không chắc chắn, mặc dù rõ ràng nó có liên quan đến các thuật ngữ EoÊ-lô-him. Việc sử dụng nó thường xuyên trong sách Gióp (bốn mươi mốt lần) đã khiến một số học giả cho rằng nó có thể là một thuật ngữ cổ xưa dành cho Đức Chúa Trời.

Ê-lô-a được sử dụng ba lần song song với từ “hòn đá” như một thuật ngữ mô tả Đức Chúa Trời (Phục truyền Luật lệ ký 32:15; Thi thiên 18:31; Ê-sai 44:8). Nó được dùng trong Châm ngôn 30:5 để mô tả Đức Chúa Trời như một cái thuẫn cho những ai nương náu nơi Ngài. Việc sử dụng nó trong Đa-ni-ên 11:37-39 cho thấy rằng danh xưng này truyền đạt các khái niệm về sức mạnh và quyền năng. Tất cả những điều này cho thấy rằng Ê-lô-a rất mạnh mẽ và có thể an ủi và đảm bảo cho dân sự của Ngài trong những thời điểm cần thiết.

 

A-đô-nai

Từ a-đô-nai có nguồn gốc từ một từ Ugaritic cổ (adn) có nghĩa là “chúa” hoặc “cha”. Thuật ngữ a-đôn thường dùng để chỉ người đàn ông. Sa-ra đã sử dụng nó để nói đến chồng của mình là Áp-ra-ham (Sáng 18:12). Pha-ra-ôn của Ai Cập được gọi bằng tước hiệu này (Sáng thế ký 40:1), và An-ne đã gọi Ê-li là thầy tế lễ, a-đôn (1 Sa-mu-ên 1:15). Trong những câu này, thuật ngữ này được sử dụng như một danh hiệu cao quí và tôn trọng, như là từ “chủ”. Cũng trong nhiều đoạn văn, thuật ngữ này đề cập đến Đức Chúa Trời. Trong Xuất Ê-díp-tô ký 34:23 Đức Chúa Trời gọi chính Ngài là “Chúa [ha a-đôn], là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.” Phục truyền luật lệ ký 10:17 đã sử dụng cấu trúc so sánh nhất, “Chúa của các chúa” (a-đô-nai ha a-đô-nim). Đấng Mê-si có danh hiệu là a-đôn trong Thi thiên 110:1.

Trong khoảng ba trăm đoạn văn, a-đôn xuất hiện ở dạng số nhiều đặc biệt với hậu tố số ít ở ngôi thứ nhất là (a-đô-nai). Hình thức này đã được tìm thấy trong Thi thiên, Ca thương và Các Tiên tri, thuật ngữ này luôn đề cập đến Đức Chúa Trời. Hình thức số nhiều A-đô-nai là dạng số nhiều của sự uy nghiêm, mà chúng ta cũng quan sát thấy có trong danh xưng Ê-lô-him (“Đức Chúa Trời”). Nó làm nổi bật sự vĩ đại của Đức Chúa Trời được thể hiện qua nhiều thuộc tính của Ngài và cho phép sự phát triển sau này của học thuyết về Chúa Ba Ngôi.

 

Thời Kỳ Cổ Đại

Danh xưng “Thời kỳ cổ đại” xuất hiện ba lần trong phần tiếng A-ram của Đa-ni-ên (Đa-ni-ên 7:9, 13, 22). Cụm từ này, cùng với các mô tả thời đại quan trọng trong bối cảnh, để truyền đạt ấn tượng về “sự tôn kính cao quý.”3 Danh xưng này gợi chú ý đến tính đời đời của Đức Chúa Trời, Đấng phán rằng, “Ta là đầu tiên và cuối cùng; ngoài ta không có Ðức Chúa Trời nào khác.”(Ê-sai 44:6, NASB).

 

NHỮNG DANH XƯNG TÂN ƯỚC

Có rất nhiều danh xưng được sử dụng cho Chúa Giê-su trong Tân Ước. I Giăng ghi lại tám danh xưng: Lời, Chiên Con của Đức Chúa Trời, Con của Đức Chúa Trời, Thầy, Đấng Mê-si, Chúa Giê-su người Na-xa-rét, Vua của Y-sơ-ra-ên và Con Người. Những danh hiệu này rất quan trọng và được thảo luận thích đáng trong Cơ Đốc học. 4 Ở đây chúng tôi tập trung vào những danh xưng phổ biến hơn về Đức Chúa Trời trong Tân Ước.

 

Thê-ô

Từ Hy Lạp thê-ô là danh xưng phổ biến nhất cho vị thần trong Tân Ước. Thê-ô được sử dụng trong bản Bảy Mươi để phiên dịch các từ Ê-lô-himEo. Đôi khi nó đề cập đến các giả thần (1 Cô-rinh-tô 8:5; Ga-la-ti 4:8), nhưng thường xuyên nhất nó đề cập đến là Đức Chúa Trời chân thật. Một số câu sử dụng thê-ô của Đấng Christ (Giăng 1:1; Rô-ma 9,5; Tít 2:13;2 Phi-e-rơ 1:1; I Giăng 5:20).

Đôi khi thê-ô được kết hợp với các từ khác để mô tả các thuộc tính của Đức Chúa Trời. Ngài là “Đức Chúa Trời của sự vinh hiển” (Công vụ 7:2), “Đức Chúa Trời của mọi sự yên ủi” (2 Cô-rinh-tô 1:3), “Đức Chúa Trời của tình yêu thương và sự bình an” (13:11). “Đức Chúa Trời của sự hy vọng” (Rô-ma 15:13), “Đức Chúa Trời của sự bình an” (15:33; Phi-líp 4:9), và “Đức Chúa Trời của mọi ân điển” (1 Phi-e-rơ 5:10). Những cụm từ này không chỉ mô tả Đức Chúa Trời, chúng còn chỉ ra rằng Ngài là nguồn của mọi phước lành này. Ngoài ra, Ngài là “Đức Chúa Trời ban sự nhịn nhục và yên ủi (Rô-ma 15:5).

 

Ky-ri-ô

Thuật ngữ ky-ri-ô có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là ky-rô, “quyền lực hoặc sức mạnh” Trong Tân Ước, ky-ri-ô được sử dụng như một danh hiệu của phép lịch sự, như từ “chúa” “chủ nhân” “ngài” Thuật ngữ này xuất hiện hơn chín ngàn lần trong bản Bảy Mươi. Trong phần lớn các trường hợp này thì ky-ri-ô dịch là Giê-hô-va, tên riêng của Đức Chúa Trời. Vào thế kỷ đầu tiên, một số hoàng đế La Mã nhận thấy danh hiệu này hấp dẫn. Hoàng đế Nê-rô (54-68. SC) được mô tả trong một dòng chữ là “ky-ri-ô của cả thế giới.”

Nhiều lần xuất hiện trong Tân Ước, ky-ri-ô đôi khi nói theo nghĩa chung về một người có cấp bậc hoặc quyền hành, chẳng hạn như là chủ (Ê-phê-sô 6:5) hoặc chúa (1 Phi-e-rơ 3:6), hoặc được dùng như một hình thức lịch sự khi xưng hô (Giăng 12:21). Tuy nhiên, hầu hết các lần xuất hiện đều đề cập đến Đức Chúa Trời. Ngài là Chúa, là Chủ, là Người có thẩm quyền tối thượng. “Thuật ngữ ky-ri-ô để chỉ Đức Chúa Trời là Đấng Toàn năng, là Chúa, Đấng sở hữu, Đấng thống trị có quyền lực và thẩm quyền hợp pháp.”5

Trong một số trích dẫn từ Cựu Ước, các trước giả Tân Ước đã thay thế ky-ri-ô cho Giê-hô-va để phù hợp với phong tục của người Do Thái là tránh sử dụng tên riêng của Đức Chúa Trời (ví dụ, trích dẫn Rô-ma 4:8, trích dẫn Thi thiên 32:2; Rô-ma 10:16, trích dẫn Ê-sai 53:1).

Trong suốt Tân Ước, Chúa Giê-su được công nhận là ky-ri-ô. Trong bài giảng đầu tiên của Phi-e-rơ, ông thừa nhận rằng Đức Chúa Trời đã tôn Chúa Giê-su Christ là “Chúa” (Công vụ 2:36). Với Cọt-nây, Phi-e-rơ đã tuyên bố rằng  Đức Chúa Giê-su Christ “là Chúa của loài người” (10:36). Gia-cơ dùng ky-ri-ô để chỉ Chúa Giê-su, người anh em cùng cha khác mẹ của mình (Gia-cơ 1:1). Giu-đe đã viết về Chúa Giê-su Christ là “Chúa” của chúng ta (Giu-đe 4). Phao-lô thường xuyên sử dụng ky-ri-ô của Chúa Giê-su (ví dụ, Rô-ma 10:9; 14:9; 1 Cô-rinh-tô 1:3; 7:25).

 

Father

Thuật ngữ pater, “cha” biểu hiện cho một người là “người nuôi dưỡng, người bảo vệ, hoặc người nâng đỡ.” Trong khi thuật ngữ này thường được sử dụng theo nghĩa thông thường trong Tân Ước, pater cũng được dùng để chỉ Đức Chúa Trời theo nghĩa chung là Đấng Tạo hóa và Khởi nguyên của mọi vật (1 Cô-rinh-tô 8:6; Ê-phê-sô 3:14-15; Hê-bơ-rơ 12: 9). Thuật ngữ này cũng được sử dụng cho các tín hữu có mối quan hệ đặc biệt với Đức Chúa Trời như những đứa con thiêng liêng của Ngài. Bằng đức tin, chúng ta bước vào mối quan hệ này và trở thành “con cái của Đức Chúa Trời” (Giăng 1:12). Trên cơ sở mối quan hệ thiêng liêng này, các tín hữu có thể tiếp cận với “Cha” (Ê-phê-sô 2:18). Chúa Giê-su khuyến khích các môn đồ của Ngài bắt chước “Cha ở trên trời” (Mat 5:45), “Cha trên trời” của họ (5:48). Phao-lô mô tả Đức Chúa Trời là “Cha hay thương xót” (2 Cô-rinh-tô 1:3), và trước giả viết Hê-bơ-rơ đề cập đến vấn đề kỷ luật của Đức Chúa Cha (Hê-bơ-rơ 12:9-10).

Chúa Giê-su đã sử dụng thuật ngữ “Cha” để diễn tả mối quan hệ đặc biệt của Ngài với Đức Chúa Trời ở trong Ba Ngôi. Ngài đã được Đức Chúa Cha sai đến (Giăng 6:37). Ngài đã làm các công việc của Đức Chúa Cha (5:19). Ngài gọi Đức Chúa Trời là Cha của chính Ngài, do đó kẻ thù của Ngài nghĩ rằng Ngài “tự cho mình bằng với Đức Chúa Trời” (5:18). Phúc âm Giăng nhấn mạnh mối quan hệ Cha-Con giữa Chúa Giê-su và Đức Chúa Trời là Cha, khi đề cập đến điều này khoảng tám mươi lần.

Mặc dù Đức Chúa Trời là Cha của các tín hữu. Nhưng Ngài không phải là Cha của họ giống như cách Ngài là Cha của Chúa Giê-su. Bất cứ khi nào Chúa Giê-su nói về mối quan hệ của Ngài với Đức Chúa Trời là Cha thì Ngài luôn sử dụng số ít “Cha tôi” (Ma-thi-ơ 11:27; 25:34; Giăng 20:17; Khải huyền 2:27). Mối quan hệ của Ngài với Đức Chúa Cha đã tồn tại vĩnh viễn trong Ba Ngôi Thiên Chúa, trong khi mối quan hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời là bởi ân điển và thông qua sự tái sanh.

 

Cha

Abba là một thuật ngữ tiếng A-ram để chỉ về “cha”; nó được dùng ba lần trong Tân Ước để nói đến Đức Chúa Trời (Mác 14:36; Rô-ma 8:15; Ga-la-ti 4:6). Trong những câu này, thì thuật ngữ này được dịchtừ bản dịch là, ho pater (“Đức Chúa Cha”) để làm rõ rằng Đức Chúa Trời là có ý nghĩa. Abba có chức năng như một lời cầu xin Đức Chúa Trời và thể hiện mối quan hệ cá nhân mật thiết của người nói chuyện với Đức Chúa Trời.

Abba trong tiếng A-ram bắt nguồn từ điều có thể được gọi là “trò chuyện với trẻ em”. Theo kinh Talmud của người Do Thái, khi một đứa trẻ cai sữa, “nó sẽ học cách nói abba [cha) và imma (mẹ)” (Berakoth 40a; Sanhedrin 70b). Theo thời gian, ý nghĩa của từ này đã được mở rộng để nó không còn là một dạng xưng hô cho trẻ nhỏ nữa mà cũng được dùng cho cả con trai và con gái người trưởng thành. Tính chất trẻ con của từ này đã giảm dần và từ abba chiếm được sự thân thiện, quen thuộc mà chúng ta có thể cảm thấy trong cách diễn đạt như “cha yêu kính”.

Không nơi nào trong Cựu Ước chúng ta tìm thấy được thuật ngữ abba được sử dụng để xưng hô với Đức Chúa Trời. Những người Do Thái sùng đạo cảm thấy có khoảng cách quá lớn giữa họ và Đức Chúa Trời nên sử dụng một cách diễn đạt quen thuộc như vậy. Giáo đường Do Thái giáo có một ví dụ thú vị về từ abba được sử dụng liên quan đến Đức Chúa Trời. Kinh Talmud ghi lại, “Khi thế giới cần mưa, các giáo viên của chúng tôi thường dẫn học sinh đến Giáo sư Hanan ha Nehba (thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên), và họ sẽ nắm lấy vạt áo choàng của ông ấy và gọi rằng: ‘Cha yêu ơi! (abba), cha yêu ơi! [abba], hãy ban mưa cho chúng con.’ Ông nói trước mặt Đức Chúa Trời: “Đấng chủ tể của thế gian này, hãy làm điều đó vì lợi ích của những người không thể phân biệt giữa abba có thể ban cho mưa và một abba không thể ban cho mưa” (Taanith 23b). , “Quyền tể trị thế giới này”, chứ không phải là thuật ngữ abba, trong việc xưng hô với Đức Chúa Trời.

Chúa Giê-su đã sử dụng từ abba khi xưng hô với Đức Chúa Trời là Cha trong lời cầu nguyện của Ngài tại Vườn Ghết-sê-ma-nê. “Abba, thưa Cha,” Ngài nói, “mọi việc Cha làm được cả; xin Cha cất chén nầy khỏi con; nhưng không theo điều con muốn, mà theo điều Cha muốn.” (Mác 14:36). Khi sử dụng cách diễn đạt này, Chúa Giê-su đã nói như một người con nói chuyện với cha của mình. Điều này phản ánh điều gì đó rất gần gũi và tin cậy đặc trưng cho mối quan hệ của Ngài với Đức Chúa Trời.

Khi Đức Thánh Linh làm chứng rằng các tín hữu là con cái của Đức Chúa Trời (Rô-ma 8:16), họ được đề nghị hãy kêu “Abba, Cha ơi” (8:15; Ga-la-ti 4:6). Các tín hữu có thể xưng hô với Đức Chúa Trời theo cách này vì mối quan hệ của họ với Đức Chúa Trời thông qua đức tin. Thật là một sự khích lệ khi biết rằng chúng ta có thể cầu nguyện với Cha cùng một cảm giác ấm áp và thân mật trong mối quan hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời mà Chúa Giê-su đã vui thích.

Các con tôi biết cách đề nghị sự giúp đỡ theo cách mà chúng nhận được phản ứng tích cực. Chúng biết rằng đòi hỏi và cằn nhằn không có tác dụng. Chúng đã học biết rằng cách tôi phản ứng tốt nhất là nói dịu dàng, đáng yêu và tôn trọng. Con gái tôi có thể nói, “Bố yêu quý, có một chiếc váy tuyệt vời đang được bán ở Nordstrom’s. Bố có thể chia sẻ chi phí với con không? “Làm sao tôi có thể nói được điều gì ngoài lời đồng ý với kiểu đề nghị đó? Chúa đã tạo ra những người cha vì mục đích này và chúng tôi có niềm vui khi hoàn thành chức phận của mình!

Khi tôi vui mừng vì sự đáp ứng của các con tôi và đáp ứng nhu cầu của chúng, vậy nên Đức Chúa Trời là Cha rất sẵn lòng đáp ứng những ai gọi Ngài là Abba, “Thưa Cha!” Ngài có cả nguồn cung ứng và giải pháp để đáp ứng những lời cầu nguyện của chúng ta và đáp ứng nhu cầu của chúng ta.

Đây chỉ là một số trong nhiều cách mà Đức Chúa Trời, Chúa Giê-su Christ và Đức Thánh Linh được nhắc đến trong Kinh Thánh. Mary Loeks liệt kê một trăm năm mươi lăm tên và danh xưng của Đức Chúa Trời!7    

 

 

 

 

 

 

 

 

5

Đức Chúa Trời Tự Khải Thị Chính Ngài

TRONG NHỮNG NGÀY TÔI CÒN LÀ SINH VIÊN tại trường Đại Học Oregon, tôi thực sự quan tâm đến những nữ sinh ở đây, tự hỏi liệu Chúa có sắm sẵn cho một người để làm vợ tôi không. Tại một cuộc hội nghị College Life (Đời Sống Sinh Viên Đại Học), được tài trợ bởi Campus Crusade for Christ (Chinh Phục Sinh Viên cho Đấng Christ), một người bạn Cơ đốc đã giới thiệu tôi với em gái của cô ấy, Nancy. Tôi thích Nancy ngay từ đầu. Cô ấy có một sự nhiệt tình và tự nhiên khiến thu hút tôi. Tôi nhớ một trong những buổi hẹn hò đầu tiên của chúng tôi. Khi tôi đưa cô ấy về nhà khoảng 11:30 tối, tôi đột nhiên có một nguồn cảm hứng. Thay vì về nhà, tôi có ý muốn đi leo lên Spencer Butte, Nancy trở thành mục tiêu!

Nửa giờ sau, chúng tôi khởi hành trong bóng tối trên một con đường mòn quanh co dẫn đến đỉnh của mô đất phía nam Eugene. Cuối cùng chúng tôi cũng đã lên đến đỉnh, từ nơi này chúng tôi nhìn chung quanh một khung cảnh tuyệt đẹp, ánh đèn thành phố và bầu trời đêm đầy sao. Sau trải nghiệm đó, tôi cứ thêm lên sự khao khát muốn biết nhiều hơn về cô gái này.

Vì vậy, tôi bắt đầu hỏi Nancy về bản thân cô ấy. Tôi hỏi cô ấy về sở thích, ước muốn, và giấc mơ của cô ấy. Tôi hỏi về đời sống tinh thần của cô ấy. Tôi hỏi về gia đình cô ấy, bố mẹ cô ấy, xuất thân của cô ấy. Tôi chăm chú lắng nghe từng lời cô ấy nói. Càng tìm hiểu về người đẹp có đôi mắt đen này, tôi càng thích cô ấy. Theo thời gian, cái “thích” của tôi đã trở thành “tình yêu”. Mối quan hệ của chúng tôi ngày càng mặn nồng cho đến vài năm sau, tôi đã ngỏ lời cầu hôn cô ấy.

Mặc dù chúng tôi đã kết hôn hơn 25 năm, tôi vẫn phải tìm hiểu thêm về Nancy. Và một trong những cách tốt nhất để tôi biết cô ấy nhiều hơn là hỏi cô ấy về chính bản thân cô. Nếu tôi đặt những câu hỏi phù hợp và chăm chú lắng nghe những gì cô ấy nói, tôi có thể biết được rất nhiều điều về những suy nghĩ và tính cách sâu kín nhất của Nancy khi cô ấy bộc bạch nhiều hơn về bản thân với tôi.

Chương này xem xét một phân đoạn Kinh văn ghi lại một sự kiện mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính Ngài cho Môi-se. Tôi tin rằng đây là một trong những văn bản thần học quan trọng nhất trong Kinh thánh vì đây là phân đoạn duy nhất thực sự ghi lại việc Đức Chúa Trời mô tả chính Ngài, nêu tên các thuộc tính của chính Ngài. Phân đoạn này được trích dẫn bởi các nhà tiên tri sau này, những người đã ghi nhận vị trí trung tâm của nó là văn bản nền tảng để biết Đức Chúa Trời.

Nếu muốn hiểu rõ ai đó hơn, chúng ta cần hỏi chính người đó về bản thân họ. Nếu muốn hiểu rõ hơn về Đức Chúa Trời, chúng ta cần nghiên cứu sự đáp lời của Đức Chúa Trời đối với thỉnh cầu của Môi-se, “Tôi xin Ngài cho tôi xem sự vinh hiển của Ngài” (Xuất. 33:18).

PHÁ VỠ GIAO ƯỚC

Xuất Ê-díp-tô Ký 32 nhắc lại một trong những sa sút thuộc linh trong lịch sử của Y-sơ-ra-ên. Tội thờ hình tượng của nó đã dẫn đến việc phá vỡ giao ước mới vừa được thiết lập với Đức Chúa Trời.

Trong khi dân Y-sơ-ra-ên đóng trại tại Núi Si-nai, Môi-se đã lên núi để gặp Đức Chúa Trời và nhận hai bảng luật. Khi sự việc này mất nhiều thời gian hơn dự kiến, dân sự đã đến gặp A-rôn mà kêu lên rằng, “Nào! Hãy làm các thần để đi trước chúng tôi đi, vì về phần Môi-se nầy, là người đã dẫn chúng tôi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, chúng tôi chẳng biết điều chi đã xảy đến cho người rồi” (Xuất Ê-díp-tô ký 32:1). Ở đây, có thể ghi nhận ba thất bại của dân sự. Họ không ghi nhận lòng trung thành của họ chỉ dành riêng với Chúa; họ không nhận biết rằng chính Đức Chúa Trời, không phải Môi-se, đã giải cứu họ khỏi Ai Cập; và họ đã thất bại trong việc trông cậy vào Môi-se, người làm trung gian giao ước của họ.

A-rôn đã chịu khuất phục trước áp lực của đám đông và làm nên một con bê bằng vàng, sau đó ông cho ra mắt dân sự mà rằng, “Nầy là các thần của ngươi đã đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô” (32:4). Con bê mà A-rôn làm ra gợi nhớ đến tín ngưỡng thờ lạy bò thiêng (Apis) rất thịnh hành ở Memphis, Ai Cập, gần Gô-sen nơi dân Y-sơ-ra-ên sinh sống. Kế đến A-rôn xây một bàn thờ để dân sự thờ con bê! A-rôn tỏ ý rằng hình ảnh này nhằm đại diện cho Chúa, “Sáng mai sẽ có lễ tôn trọng Đức Giê-hô-va” (32:5).

Tại núi Si-nai, Đức Chúa Trời báo cho Môi-se biết về việc thờ lạy hình tượng đã diễn ra trong trại. Chúa cảnh báo hủy diệt dân sự, hứa sẽ dấy lên một dân tộc mới từ dòng dõi Môi-se (32:10). Đây là một thử thách thực sự đối với Môi-se, nhưng ông đã chọn sự bảo tồn mạng sống của dân sự Y-sơ-ra-ên thay vì sự tôn cao của chính mình. Để đáp lại lời cầu xin của Môi-se, Đức Chúa Trời đã rút lại sự phán xét (32:14).

LỜI CẦU XIN CỦA MÔI-SE

Vì sự thất bại của dân sự Y-sơ-ra-ên có liên quan đến con bê vàng, Chúa đã rút sự hiện diện của Ngài khỏi những người trong trại (Xuất Ê-díp-tô ký 33:1-7). Ngài không thể ở cùng những kẻ phạm tội phá bỏ giao ước.

Chắc chắn Môi-se đã rất nản lòng trước sự thất bại của Y-sơ-ra-ên. Ông muốn ở với Chúa, nhưng Ngài đã lìa khỏi trại. Vì vậy, Môi-se dựng một cái lều bên ngoài trại để ông có thể gặp gỡ Đức Chúa Trời.1 Khi suy ngẫm về thời gian này với Đức Chúa Trời, Môi-se viết, “Đức Giê-hô-va đối diện phán cùng Môi-se, như một người nói chuyện cùng bạn hữu mình” (33:11).

Trên hết mọi sự, Môi-se muốn biết rõ hơn về Đức Chúa Trời. Ông cầu nguyện rằng, “Vậy bây giờ, nếu tôi được ơn trước mặt Chúa, xin cho tôi biết đường của Chúa, để cho tôi biết Chúa” (33:13). Thật là tuyệt khi dành thời gian ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời, nhưng Môi-se muốn biết Ngài một cách gần gũi và ngoan hơn bao giờ hết. Với ý tưởng này, Môi-se thưa cùng Chúa rằng, “Tôi xin Ngài cho tôi xem sự vinh hiển của Ngài” (33:18). Kabob Trong tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa là “vinh hiển,” có liên quan đến một động từ có nghĩa là “trở nên một mức độ lớn.” Kabod đôi khi được sử dụng để chỉ “trọng lượng” hay địa vị danh giá của một người (1 Các vua 3:13). Từ này được sử dụng theo cách tương tự để chỉ thực tế và sự chói sáng của sự hiện diện vinh hiển của Đức Chúa Trời. Đôi khi, sự vinh hiển của Ngài được nhìn thấy cùng với đền tạm hoặc đền thờ (Xuất Ê-díp-tô ký 40:34, 1 Các vua 8:11; Ê-xê-chi-ên 9:3).

Thật ra Môi-se đã cầu xin điều gì khi ông cầu nguyện, “Tôi xin Ngài cho tôi xem sự vinh hiển của Ngài”? Môi-se đã biết Đức Chúa Trời, nhưng ông muốn biết Ngài rõ hơn. Ông muốn biết Ngài cách tỏ tường. Môi-se đang cầu xin Ngài tự bày tỏ trọn vẹn về sự vinh hiển của Ngài — một sự mặc khải sẽ nâng đỡ và khích lệ ông với tư cách là người dẫn dắt dân sự Y-sơ-ra-ên.

Đức Chúa Trời đáp lại bằng cách phán cùng Môi-se rằng con người không thể nhìn thấy Đức Chúa Trời mà còn sống (Xuất Ê-díp-tô ký 33:20). Nhưng Ngài chính Ngài đã đáp ứng lời cầu xin của Môi-se và tỏ cho ông biết rằng Ngài sẽ đặt ông vào trong một bộng đá, lấy tay Ngài mà che ông lại, cho đến chừng nào Ngài đã đi qua. Kế đến Đức Chúa trời phán cùng Môi-se rằng, “Ta sẽ rút tay lại, và ngươi thấy phía sau ta; nhưng thấy mặt ta chẳng được” (33:23). Phân đoạn này rất giàu tính nhân hóa (theo thuyết thần nhân đồng hình) quy cho Đức Chúa Trời các đặc điểm của con người như: bàn tay, lưng và khuôn mặt. Vì Đức Chúa Trời không có thân thể hữu hình (Giăng 4:24), nên có vẻ như những thuật ngữ này được dùng để cho thấy rằng Đức Chúa Trời sẽ hiện diện rất riêng tư và thân mật với Môi-se.

 

ĐỨC CHÚA TRỜI BÀY TỎ CÁC THUỘC TÍNH TRONG XUẤT Ê-DÍP-TÔ KÝ 34:6-7

Đức Chúa Trời đã làm trọn lời hứa của Ngài là ban cho Môi-se một sự mặc khải mới mẻ về vinh hiển Ngài. Một lần nữa Môi-se được gọi lên Núi Si-nai (Xuất Ê-díp-tô ký 34:1-2). Ở đó, trên ngọn núi thiêng này, Đức Chúa Trời đã đứng gần Môi-se và “hô danh Giê-hô-va” (34:5).2 Trong Kinh Thánh, tên tuổi của một người gắn liền với danh tiếng của người đó. Tại đây Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính Ngài cho Môi-se, công bố những thuộc tính đặc trưng nhất cho danh vinh hiển của Ngài.

Xuất Ê-díp-tô ký 34:6-7 khác thường ở chỗ đây là nơi duy nhất trong Kinh Thánh mà Đức Chúa Trời liệt kê các thuộc tính của Ngài! Ở đây Đức Chúa Trời nói với chúng ta về chính Ngài. Nhận thấy ý nghĩa của phân đoạn Kinh văn này, các trước giả Kinh thánh đã trích dẫn nó nhiều lần. (Dân số ký 14:18; 2 Sử ký 30:9; Nê-hê-mi 9:17; Thi thiên 86:15; 103:8; 111:4; 112:4; 116:5; 145:8; Giô-ên 2:13; Giăng 4:2; Na-hum 1:3). Khi chúng ta tìm hiểu những thuộc tính này và nhận biết những gì Đức Chúa Trời muốn Môi-se (và chúng ta) biết về Ngài, chúng ta sẽ đồng lòng với tác giả Thi thiên, trong một phân đoạn đã bày tỏ rằng, “Tôi sẽ suy gẫm về sự tôn vinh oai nghi rực rỡ của Chúa, Và về công việc lạ lùng của Ngài” (Thi thiên 145:5).

Lòng trắc ẩn

Tôi không bao giờ hết ngạc nhiên rằng điều đầu tiên Đức Chúa Trời bày tỏ về chính mình cho Môi-se là lòng trắc ẩn của Ngài (Xuất Ê-díp-tô 34:6)—không phải sự thánh khiết, vương quyền, hay tình yêu.

Lòng trắc ẩn nghĩa là gì? Trong tiếng Hê-bơ-rơ rahum (tiếng Anh “compassionate”) đề cập đến một tình yêu sâu sắc bắt nguồn từ một sự ràng buộc tự nhiên.3 Tình yêu này thường là của một kẻ bề trên dành cho một kẻ thấp kém hơn. Tiếng Hê-bơ-rơ có một từ có liên quan được dịch là “womb” (Giê-rê-mi 20:17), điều đó gợi ý rằng tình yêu và lòng trắc ẩn được đề cập ở đây giống như tình yêu của một người mẹ dành cho con mình. Và tình yêu dịu dàng này không giới hạn ở giới tính nữ. Những người cha cũng có lòng trắc ẩn! Trước giả Thi thiên tuyên bố “Đức Giê-hô-va thương xót kẻ kính sợ Ngài, Khác nào cha thương xót con cái mình vậy” (Thi thiên 103:13).

Tính từ rahum xuất hiện mười ba lần trong Cựu ước — mười hai lần để nói đến Đức Chúa Trời và một lần nói đến con người (Thi thiên 112:4). Khi được dùng để nói đến Đức Chúa Trời, từ lòng trắc ẩn truyền đạt một mối gắn kết bền chặt của Đức Chúa Trời đối với những người được Ngài gọi là con cái Ngài. Đức Chúa Trời nhìn dân sự Ngài như một người mẹ và người cha nhìn con cái của họ, với một tình yêu thương dịu dàng. Một khái niệm khác liên quan đến từ lòng trắc trẩn ấy là sự chọn lựa vô điều kiện của Đức Chúa Trời. Ngài có lòng trắc ẩn đối với người mà Ngài chọn (Xuất Ê-díp tô ký 33:19). Lòng trắc ẩn của Đức Chúa Trời cũng gắn liền với sự thành tín của Ngài. Moses chép, “Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi là Đức Chúa Trời hay thương xót sẽ không bỏ ngươi và không hủy diệt ngươi đâu; cũng chẳng quên sự giao ước mà Ngài đã thề cùng các tổ phụ ngươi” (Phục truyền 4:31). Vì Ngài có lòng trắc ẩn, Ngài cũng tha thứ. Trước giả Thi thiên A-sáp đã tuyên bố, “Nhưng Ngài, vì lòng thương xót, tha tội ác cho, chẳng hủy diệt chúng nó”
(Thi thiên 78:38). Lòng trắc ẩn của Đức Chúa Trời là điều cơ bản khiến Ngài tha thứ cho một dân tộc ăn năn khỏi sự phán xét xứng đáng. Phục truyền 30:3 tuyên bố rằng sự ăn năn để từ bỏ tội lỗi sẽ được đáp ứng bởi lòng trắc ẩn và sự phục hồi của Đức Chúa Trời để dẫn đến phước hạnh (cũng xem 2 Sử ký 30:9). Đáng lưu ý là lòng trắc ẩn của Đức Chúa Trời tạo nền tảng cho hy vọng cuối cùng của Y-sơ-ra-ên (Ê-sai 14:1; 49:13; 54:7; Giê-rê-mi 12:15; 33:26; Mi-chê 7:19; Xa-cha-ri 1:16).

Cha mẹ nào cũng yêu con mình, chúng ta yêu vì chúng là con của chúng ta. Chúng ta yêu con cái mình bất chấp sự bất tuân và nổi loạn của chúng. Chúng ta đau xót cho con cái mình khi chúng phải gánh chịu hậu quả từ những sai lầm dại dột của chúng. Chúng ta tận tụy với chúng suốt đời và sẽ luôn cố gắng làm những gì có lợi nhất cho chúng. Một buổi chiều chủ nhật mùa đông, con trai tôi đến với tôi và nói: “Ba ơi, con lạnh lắm. Ba đốt lửa vào lò sưởi nhé?” Tôi có thể bảo nó mặc áo len hoặc tập một vài bài thể dục. Nhưng lòng trắc ẩn của tôi khiến tôi muốn thực hiện yêu cầu của nó nhằm xua đi cơn lạnh mà con tôi đang phải chịu. Vì vậy, tôi chẻ một ít gỗ và đốt một đống lửa lớn. Với tư cách là một người cha, tôi rất muốn đáp ứng yêu cầu của con trai mình và nhìn nó sưởi ấm trước lò sưởi của chúng tôi.

Chúa là Đức Chúa Trời của chúng ta, là Cha nhân từ. Ngài yêu chúng ta vì chúng ta là con cái của Ngài. Ngài sẽ chẳng bao giờ lìa bỏ chúng ta. Ngài luôn sẵn sàng vùa giúp khi chúng ta gặp phải hoàn cảnh khó khăn, tìm kiếm lợi ích cho chúng ta vì sự vinh hiển của Ngài. Mặc dù Ngài là thánh vô cùng, nhưng lòng trắc ẩn của Ngài khiến Ngài đối đãi nhẹ nhàng với những người yếu đuối. Ngài đầy lòng thương xót và nhân từ đối với những đau khổ và những khó nhọc của thân phận dễ hư mất của con người. Ngài luôn sẵn lòng tha thứ tội lỗi và phục hồi chúng ta vì lòng thương xót lớn lao của Ngài.

 

Lòng khoan dung

Phẩm chất thứ hai mà Đức Chúa Trời tự nói về Ngài là lòng khoan dung. Tính từ hannun bắt nguồn từ hanan, có nghĩa là kẻ mạnh hơn đến cứu giúp kẻ yếu hơn là kẻ lâm vào hoàn cảnh khó khăn nhưng không được cầu xin sự đối đãi khoan dung. Đó là một trải nghiệm như một phước hạnh hay ân huệ không đáng có. Từ nầy được sử dụng rất nhiều trong Cựu Ước và lấy Chúa làm chủ thể. Gia-cốp giải thích với anh trai của mình, Ê-sau, rằng sự phát đạt của gia đình và tài sản của ông là nhờ Đức Chúa Trời đã đối xử “khoan dung” với ông (Sáng thế ký 33:5, 11). Đa-vít giải thích lời cầu nguyện và kiêng ăn cho con trai sắp chết của mình mà rằng, “Nào ai biết; có lẽ Đức Giê-hô-va sẽ thương xót ta, và cho đứa trẻ được sống chăng” (2 Sa-mu-ên 12:22). Thường thì ân điển của Đức Chúa Trời được nhìn thấy trong việc Ngài giải cứu chính con cái Ngài khỏi tội lỗi của họ (Ma-la-chi 1:9).

Từ “khoan dung” (hannun) xuất hiện mười ba lần trong Cựu ước, mười một lần trong số đó kết hợp với rahum, “trắc ẩn.” Giống như hình thức động từ, tính từ “khoan dung” nói đến ân huệ được ban cho nhưng không của một người có địa vị cao hơn. Tất cả những lần xuất hiện của từ này, ngoại trừ một lần chỉ về Chúa luôn ưu ái đối với những người khốn khổ và thiếu thốn. Trường hợp ngoại lệ, Thi thiên 112:4, sử dụng tính từ để mô tả người kính sợ Đức Chúa Trời có cùng đặc điểm với Đức Chúa Trời. Nhưng với con người, thuộc tính này không được hoàn hảo cũng không lâu dài. Với Đức Chúa Trời, chúng ta luôn có thể trông cậy vào sự nhân từ trọn vẹn của Ngài. Và vì Ngài là như vậy, Ngài sẽ nghe tiếng kêu cầu của người nghèo khó. (Xuất Ê-díp-tô ký 22:27), Ngài sẽ không từ chối kẻ ăn năn (2 Sử ký 30: 9), và Ngài sẽ không bao giờ từ bỏ con cái mình (Nê-hê-mi 9:17, 31).

Ân điển của Đức Chúa Trời được đề cao trong cả Cựu ước và Tân ước, nhấn mạnh cơ sở thần học cho mọi hành vi đối xử nhân từ của Đức Chúa Trời với dân Ngài. Charles Ryrie có viết rằng, “Cơ đốc giáo khác biệt với tất cả các tôn giáo khác bởi vì nó là một thông điệp ân điển. Chúa Giê-su Christ là sự mặc khải tối cao về ân điển của Đức Chúa Trời; sự cứu rỗi là bởi ân điển; ân điển chi phối và tạo sức mạnh cho cuộc sống của Cơ đốc nhân. Không có ân điển Cơ đốc giáo không là gì cả.”4

Thật đáng khích lệ khi biết rằng Đức Chúa Trời đối xử với chúng ta không phải theo những gì chúng ta xứng đáng, mà là bởi ân điển. Trong khi chúng ta xứng đáng với sự phán xét của Ngài, Ngài đã nhân từ ban đến một Đấng Cứu Chuộc để chịu thay hình phạt cho tội lỗi của chúng ta. Dựa trên ân điển, chúng ta có thể nhận được sự ban cho cách hào phóng là sự cứu rỗi và sự sống đời đời của Ngài.

 

Chậm giận

Đức Chúa Trời không vô cớ khi nổi giận trước tội lỗi và sự không vâng lời của dân sự Ngài, những người làm Ngài đau lòng và không vâng lời (Xuất Ê-díp-tô 32:10). Cơn giận của Đức Chúa Trời, mặc dù sự nóng giận (Giê-rê-mi 25:37), không phải là tội lỗi hay xấu xa. Đặc tính thánh khiết của Đức Chúa Trời bị xúc phạm một cách thẳng thừng bởi sự phản nghịch đầy tội lỗi của các tạo vật Ngài. Cơn giận của Đức Chúa Trời thường dẫn đến sự sửa phạt (Thi thiên 6:1; Ê-sai 12: 1) và hình phạt dân sự Ngài (2 Sa-mu-ên 6: 7; Giê-rê-mi 44: 6).

Thuộc tính chậm giận này của Đức Chúa Trời là tin đáng mừng cho chúng ta. Cụm từ “chậm giận” được sử dụng chín lần trong Kinh thánh để nói đến sự chịu đựng của Đức Chúa Trời trong việc đối xử với những người mà tội lỗi của họ khơi dậy cơn thịnh nộ của Ngài. Trong tiếng Hê-bơ-rơ, cụm từ “chậm giận” bao gồm một tính từ có nghĩa là “dài” và danh từ số nhiều “mũi”. Một người tức giận thường biểu lộ cảm xúc của mình qua vẻ ngoài của mũi (mũi đỏ và lỗ mũi loe ra). Ý tưởng đằng sau cách diễn đạt, “chậm giận,” là Đức Chúa Trời phải chịu đựng một thời gian dài trước khi nổi giận. Giống như thể Ngài hít một hơi dài và sâu trước khi bày tỏ sự tức giận của Ngài.

Bởi vì Đức Chúa Trời là thánh, Ngài phải đáp lại bằng cơn thịnh nộ và sự phán xét lên tội lỗi và sự không vâng lời. Sự công bình của Ngài khiến Ngài không thể không trừng phạt kẻ gian ác. Sự khoan dung như vậy sẽ trái với tính cách thánh thiện của Ngài. Nhưng Đức Chúa Trời không vội trừng phạt kẻ có tội. Thay vào đó, Ngài ban cho họ nhiều cơ hội để quay lại và ăn năn. Sự chịu đựng của Đức Chúa Trời trong việc đối phó với kẻ ác không nên được hiểu theo cách tự cho rằng tội lỗi không là vấn đề hoặc không có gì nghiêm trọng. Đúng hơn, sự kiên nhẫn của Đức Chúa Trời nhằm khiến kẻ ác có cơ hội ăn năn. Như Phi-e-rơ đã viết, Đức Chúa Trời “không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn” (2 Phi-e-rơ 3:9).

Đức Chúa Trời không vội phán xét tội nhân. Sẽ có một ngày họ phải đứng trước Ngai Trắng và Lớn của Ngài và chịu phán xét tùy theo việc làm của họ (Khải huyền 20:11-15). Nhưng trong khi chờ đợi, Đức Chúa Trời tiếp tục bày tỏ sự chịu đựng và ân điển của Ngài. Cơn giận của Ngài đang bị tội lỗi của loài người đốt nóng, nhưng cơn giận của Ngài không bị thổi bùng cách nhanh chóng.

Nhiều người trong chúng ta đã trải nghiệm được sự chịu đựng của Đức Chúa Trời trong những khi phạm tội và không vâng lời. Trong năm đầu sinh viên đại học, tôi đã chạy khỏi Chúa, sống theo người đời. Tôi lấy làm lạ trước sự chịu đựng và uốn nắn nhẹ nhàng của Ngài trong khi tôi đáng phải chịu trừng phạt bởi cơn thịnh nộ của Ngài! Sự dung chịu của Đức Chúa Trời đối với tôi là một lời nhắc nhở rằng tôi cần phải chịu đựng đối với những người yếu đuối, chưa trưởng thành và đang vật lộn với tội lỗi.

 

Đầy dẫy tình yêu thương

Điều tiếp theo Đức Chúa Trời nói với Môi-se về chính Ngài là “đầy dẫy ân huệ và thành thực.” Từ “đầy dẫy” (có nghĩa đen là lớn lao) mô tả những gì hiện tại dồi dào và áp dụng rõ ràng cho lòng nhân từ của Đức Chúa Trời và lẽ thật của Ngài. Cụm từ “Lòng nhân từ và lẽ thật” xuất hiện khoảng hai mươi lăm lần cùng nhau và có thể là một ví dụ về hình ảnh lời nói trong đó hai từ đại diện cho một khái niệm hoặc tư tưởng. Theo cách này “lòng nhân từ và lẽ thật” có thể nói đến “tình yêu đích thực” hoặc “tình yêu thành tín” của Đức Chúa Trời. Vì chúng ta không biết chắc rằng các từ nên được kết hợp với nhau hay không, chúng ta sẽ giải quyết từng từ riêng biệt.

Tiếng Hê-bơ-rơ được phiên dịch thành “lòng nhân từ” (NASB), “tình yêu” (NIV), “nhân từ” (JB), hay “tìn yêu lâu bền” (NRSV) là hesed, “tình yêu không hư mất” hay “lòng trung thành.” Cựu ước bằng tiếng Hy Lạp sử dụng từ eleos (“lòng thương xót” hay “lòng trắc ẩn”) phiên dịch thành hesed. Tiếng Hê-bơ-rơ “stork” dựa trên từ hesed, có lẽ vì con cò được chú ý vì tình yêu và lòng từ đối với con non của nó. Vì lý do này, con cò thường được kết hợp với trẻ sơ sinh và tình mẫu tử. Rõ ràng rằng một tình yêu mạnh mẽ, kiên định là điều cơ bản đối với ý nghĩa của hesed.6 Nhưng có một từ tiếng He-bơ-rơ khác cho “tình yêu”, ấy là, ahaba. Vậy điều gì là độc đáo và khác biệt của hesed?

Năm 1927 Nelson Glueck công bố luận án tiến sĩ bằng tiếng Đức, sau đó được dịch sang tiếng Anh với tiêu đề Hesed in the Bible.7 Glueck chỉ ra rằng các hiệp ước cổ đại sử dụng sự dối trá để mô tả mối quan hệ giao ước giữa các vị vua và thần dân của họ. Nhà vua được mong đợi bày tỏ hesed đối với thần dân là những kẻ mà ông vừa lập giao ước, do vậy các thần dân phải bày tỏ hesed đối với vua của họ. Tình yêu này là chung của nhau và là của cầm trong giao ước — một “tình yêu theo giao ước.” Nó bao gồm các ý tưởng về lòng trung thành, sự phục vụ và sự vâng lời. Khi các vua thời xưa bắt đầu mối quan hệ với thần dân của họ được thể hiện qua tình yêu thương theo giao ước, nên Chúa khi thiết lập giao ước của Ngài với dân Y-sơ-ra-ên đã hứa trung thành với những lời hứa giao ước của Ngài và kêu gọi dân Ngài trung thành.

Không phải tất cả đều đồng ý với phân tích của Glueck về hesed. Những người khác cho rằng hesed thể hiện tình yêu theo một nghĩa chung hơn, nhấn mạnh sự tự do của Đức Chúa Trời để yêu mà không có bất kỳ nghĩa vụ nào như trong mối quan hệ giao ước. Tôi không tin rằng nó phải là cách này hay cách khác. Chắc chắn mối quan hệ của Đức Chúa Trời với dân Y-sơ-ra-ên của Ngài đã được chính thức hóa và xác định bằng một giao ước (Xuất Ê-díp-tô 19:5; 24:8; 31:16; 34:10). Nhưng cũng có tự do, sáng kiến và ân sủng trong hesed của Đức Chúa Trời. Tất cả ân huệ của Đức Chúa Trời đều dựa trên tình yêu thương của Ngài (Phục truyền Luật lệ ký 7:8). Đức Chúa Trời đã thiết lập một giao ước với dân sự Ngài để bảo đảm sự lâu bền của tình yêu này.

Tình yêu của Ngài là một tình cảm chọn lọc, không xứng đáng mà qua đó, Ngài ràng buộc chính Ngài với dân sự theo cách dẫn đến sự cứu chuộc và phước hạnh của họ. Ngài có toàn quyền trong việc ban cho các ân tứ và phước lành vượt quá những gì chúng ta có thể trông mong và bất luận những gì chúng ta đáng được nhận. Lòng nhân từ (hesed) của Đức Giê-hô-va hằng còn đến đời đời, vì điều nầy được thiết lập trên cam kết giao ước của Ngài. Trước giả Thi thiên khích lệ chúng ta “Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện; Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời” (Thi thiên 136:1).

 

Đầy dẫy sự Thành tín

Bên cạnh sự “lớn lao” trong tình yêu vững bền của Ngài, Đức Chúa Trời cũng rất mực thành tín. Từ ’emet, dựa trên động từ ‘aman, có nghĩa là “hỗ trợ, thiết lập, xác nhận.” Ý tưởng cơ bản là sự quả quyết, chắc chắn và đáng tin cậy. Cựu ước thường áp dụng từ emet chỉ về đặc tánh bản chất của Đức Chúa Trời. Từ nầy mô tả Đức Chúa Trời là Đấng đã dẫn tôi tớ của Áp-ra-ham tìm đến đúng người để Y-sác lấy làm vợ (Sáng 24:27). Ngoài ra, thuật ngữ này cũng được áp dụng một cách thích hợp cho lời của Đức Chúa Trời (Thi thiên 119:142, 151, 160). Là một đặc tính của Đức Chúa Trời, emet trở thành phương tiện để con người nhận biết và phục vụ Đức Chúa Trời (I Các vua 2: 4; Thi thiên 25: 5; 26: 3).

Nhiều người không thể tin được rằng họ sẽ giữ lời hứa mình. Họ thất hứa, vắng mặt trong các cuộc hẹn, và không làm theo các cam kết và bổn phận của họ. Thật đáng khích lệ biết bao khi biết rằng có một Đấng luôn đáng tin cậy, lời Ngài là chân thật, và luôn làm trọn lời mình. Đức Chúa Trời luôn luôn thành thực với chính Ngài và các thuộc tính của Ngài. Ngài giống như Đá tảng Gibraltar trong một thế giới đầy rung chuyển bởi sự bất ổn. Ngài là Đấng mà chúng ta luôn có thể trông cậy trong lúc khó khăn.

Giữ Lòng Yêu Thương đối với Nhiều Người

Tình yêu đặc trưng của tính cách Đức Chúa Trời không phải là một thuộc tính đơn thuần để thảo luận và chiêm ngưỡng. Ấy là tình yêu sốt sắng can dự vào việc dành tấm lòng thương xót thiêng liêng cho những kẻ gặp cảnh khó khăn. Trong Xuất Ê-díp-tô Ký 34:7, từ được phiên dịch là “yêu thương” cùng chung một từ hesed mà chúng ta đã đề cập đến trước đó trong chương này. Nó nói đến tình yêu không dời đổi của Đức Chúa Trời, tình yêu này thường được thể hiện với dân sự Ngài là sự thành tín với giao ước. Ở đây chúng ta thấy Đức Giê-hô-va đã dành tình yêu thương dư dật của Ngài cho nhiều người. Từ được dịch là “gìn giữ” có nghĩa là Đức Chúa Trời dành thuộc tính này trong việc giúp đỡ những kẻ gặp khó khăn. Hình thức phân từ của động từ cho thấy tính liên tục. Đức Chúa Trời không ngừng dành tình yêu thương của Ngài cho hàng ngàn người cần đến sự đến sự can thiệp nhẹ nhàng của Ngài.

Xá Điều Gian Ác, Phản Nghịch, và Tội Lỗi

Một sự thật khác mà Đức Chúa Trời muốn chúng ta biết về Ngài là Ngài sẵn sàng tha thứ tội lỗi của dân Ngài. Từ “tha thứ” (nasa’) có nghĩa là “cất khỏi, mang, lấy đi.” Xuất Ê-díp-tô Ký 34:7 sử dụng từ nầy theo theo nghĩa bóng nói về việc Đức Chúa Trời “cất đi” tội lỗi. Khái niệm Đức Chúa Trời xóa bỏ tội lỗi của chúng ta được nhấn mạnh cách mạnh mẽ trong Thi thiên 103:12, “Phương đông xa cách phương tây bao nhiêu, Thì Ngài đã đem sự vi phạm chúng tôi khỏi xa chúng tôi bấy nhiêu.”

Đức Chúa Trời đã dùng ba từ trong phân đoạn này để chỉ những hành động và thái độ mà Ngài đã tha thứ. Từ đầu tiên, “sự gian ác,” là từ một động từ có nghĩa là “uốn cong hoặc bóp méo”. Khi đó, điều gian ác nói đến hành vi không thật thà, quay lưng lại với con đường ngay thẳng và hẹp. Từ này được dùng trong Kinh Thánh để xác định các loại vi phạm dân sự, xã hội và đạo đức. Từ thứ nhì, “phản nghịch,” đề cập đến sự vi phạm các mối quan hệ, dân sự hoặc tôn giáo, giữa hai bên. Trong bối cảnh của các mối quan hệ quốc tế, hình thức động từ nói đến một cuộc nổi dậy chống lại những kẻ thống trị. Về tôn giáo, từ nầy ám chỉ sự nổi loạn chống lại thẩm quyền của Đức Chúa Trời. Từ thứ ba, “tội lỗi,” có liên quan đến động từ “lầm đường.” Thiếu hụt tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời hoặc không đáp ứng các yêu cầu của Ngài cấu thành một hành động tội lỗi. Tất cả tội lỗi đều không thể coi thường và khiến ngăn cách loài người với Đức Chúa Trời. Vì Đức Chúa Trời là thánh nên Ngài không thể bỏ qua tội lỗi. Tội lỗi phải được xử lý. Đây là nơi mà sự tha thứ cần đến.

“Forgives” là một động từ, nó nhấn mạnh việc đang xảy ra và tính liên tục của sự tha thứ của Đức Chúa Trời. Ngài luôn tha thứ cho những ai thừa nhận tội lỗi của họ và ăn năn. Mi-chê đã suy ngẫm về đặc tính tha thứ của Đức Chúa Trời khi ông nói, “Ai là Đức Chúa Trời giống như Ngài, tha thứ sự gian ác, và bỏ qua sự phạm pháp của dân sót của sản nghiệp Ngài? Ngài không cưu giận đời đời, vì Ngài lấy sự nhân từ làm vui thích (hesed)” (Mi-chê 7:18). Thật may mắn cho chúng ta rằng “Ngài không đãi chúng tôi theo tội lỗi chúng tôi,
Cũng không báo trả chúng tôi tùy sự gian ác của chúng tôi” (Thi thiên 103:10). Chúng ta rất biết ơn về điều đó! Nhờ sự tha thứ của Đức Chúa Trời, mà Đa-vít có thể thốt lên: “Phước thay cho người nào được tha sự vi phạm mình, Được khỏa lấp tội lỗi mình!” (32:1).

Không Để Kẻ Có Tội không bị trừng phạt

Thuộc tính tiếp theo là đặc trưng cho mặt khác của ân điển tha thứ của Đức Chúa Trời. Vì lòng nhân từ và ân điển vô hạn của Ngài, Chúa vui thích trong việc tha thứ và phục hồi tội nhân cho chính Ngài. Nhưng ân điển của Ngài không thể đánh mất sự công bình của Ngài. Con người phải trách nhiệm cách nghiêm khắc trước một Đức Chúa Trời thánh khiết, phẫn nộ khi họ không chịu ăn năn.

Câu nầy được hiểu theo nghĩa đen, “Ngài chắc hẳn sẽ không tha bổng kẻ có tội.” “Tha bổng” (naqa) có nghĩa là “sạch sẽ, tinh khiết hoặc không tì vết.” Trong ngữ cảnh thuộc tòa án, nó có nghĩa là “không bị trừng phạt.” Người chồng sẽ “vô tội”, khi tuyên bố vợ mình phạm tội ngoại tình, tuân theo các thủ tục pháp lý theo quy định của pháp luật (Dân số ký 5:31). Từ này đôi khi được dùng với hàm ý tiêu cực, mang ý nghĩa cảnh cáo hoặc khiển trách mạnh mẽ. Trong Châm ngôn 6:29, cho chúng ta thấy một ví dụ về điều này, kẻ nào đi tới cùng vợ người lân cận mình, ắt “chẳng được khỏi bị phạt.” Trong Xuất Ê-díp-tô ký 34:7 động từ được sử dụng với phủ định từ “không” để tăng thêm mức độ cảnh báo: Đức Chúa Trời sẽ không coi tội nhân không ăn năn là vô tội.

Ân điển của Đức Chúa Trời vô cùng phong phú và rộng rãi, người ta tự hỏi tại sao có người lại từ chối tình yêu thương miễn thứ và tha tội của Ngài. Nhưng con người sa đọa và si mê đến mức từ chối món quà tối thượng của Đức Chúa Trời. Vì Ngài là thánh khiết và công bình, cũng như yêu thương và tha thứ, những kẻ ác không ăn năn phải đối mặt với hậu quả nghiêm trọng nhất do tội lỗi và sự phản nghịch của họ gây ra.

Không xóa bỏ hậu quả của tội lỗi

Cụm từ cuối cùng trong sự tự mặc khải của Đức Chúa Trời với Môi-se trong Xuất Ê-díp-tô Ký 34: 6-7 đề cập đến hậu quả của tội lỗi. Mặc dù bản chất của Đức Chúa Trời là tha thứ, nhưng Ngài không trừ bỏ những hậu quả tự nhiên sanh ra do hành vi tội lỗi và dại dột. Mệnh đề, “Ngài nhân tội tổ phụ phạt đến con cháu trải ba bốn đời,” đôi khi bị hiểu nhầm có nghĩa là Đức Chúa Trời trừng phạt con cái vì những tội lỗi riêng của cha mẹ và tổ tiên của chúng. Tuy nhiên, những câu khác cho thấy không phải như vậy.

Chắc chắn rằng sẽ là bất công nếu Chúa trừng phạt những đứa trẻ vì tội lỗi của cha mẹ chúng. Tuy nhiên, đây là những gì một số người đã nói vào thời Ê-xê-chi-ên. Người ta đã sáng tác ra một câu tục ngữ, “Cha ăn trái nho chua, mà con ghê răng” (Ê-xê-chi-ên 18:2). Người ta cảm thấy rằng Đức Chúa Trời trừng phạt họ vì tội lỗi của tổ tiên họ qua việc cho phép người Ba-by-lôn phá hủy Giê-ru-sa-lem. Đức Chúa Trời đáp lại bằng cách nói rằng họ không nên sử dụng câu tục ngữ đó nữa. Ngài công bố, “Linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết. Con sẽ không mang sự gian ác của cha, và cha không mang sự gian ác của con. Sự công bình của người công bình sẽ được kể cho mình, sự dữ của kẻ dữ sẽ chất trên mình” (18:20).

Vậy, Xuất Ê-díp-tô ký 34:7 không có nghĩa là Đức Chúa Trời sẽ trừng phạt con cái vì tội lỗi của cha mẹ họ. Thay vào đó, Đức Chúa Trời cho phép con cái và con cháu phải trải qua hậu quả của hành vi tội lỗi. Trong khi Đức Chúa Trời hầu như sẵn sàng tha thứ và xá tội, Ngài không xóa bỏ hậu quả của hành vi tội lỗi. Nhiều đứa trẻ đã phải gánh chịu hậu quả khi lớn lên trong một gia đình có cha mẹ nghiện rượu hoặc bạo hành. Khi cha mẹ bị ở tù, con cái thực sự đau khổ. Đức Chúa Trời không đảo ngược hậu quả tự nhiên của những hành động dại dột và tội lỗi của chúng ta. Thật không may, những đứa trẻ thường gặt hái những gì do tội lỗi cha mẹ chúng đã gieo.

 

SỰ ĐÁP LẠI CỦA MÔI-SE

Môi-se cầu xin, “Tôi xin Ngài cho tôi xem sự vinh hiển của Ngài” (Xuất Ê-díp-tô ký 33:18) đã được nhậm lời. Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính Ngài cho Môi-se theo một cách độc đáo. Đức Chúa Trời đi qua trước mặt Môi-se và công bố các thuộc tính của Ngài. Môi-se đã đáp lại như thế nào?

Ông không lấy ngay tấm bản đất sét gần nhất để viết ra những gì Đức Chúa Trời đã nói về chính Ngài. Ông cũng không bắt đầu chú giải những thuộc tính này để hiểu rõ hơn về chúng, thảo luận chúng với Giô-suê và A-rôn, hay tranh luận về chúng với những nhà lãnh đạo khác. Ông đáp lại sự tự mặc khải của Đức Chúa Trời bằng sự thờ phượng. “Môi-se lật đật cúi đầu xuống đất và thờ lạy” (34:8).

Khi Môi-se nhìn thấy Đức Chúa Trời theo cách Ngài tự khải thị, ông đã nhìn thấy chính mình với cái nhìn sâu sắc mới. Ông liền sấp mình xuống đất và thờ lạy Chúa. Nguyện chúng ta noi theo Môi-se khi chúng ta ngày càng hiểu biết rõ hơn về Đức Chúa Trời. Xin cho chúng ta đến gần Ngài trong sự thờ phượng, đầu phục và phục vụ khi Ngài bày tỏ chính Ngài cho chúng ta qua Lời của Ngài.

 

 

– 6 –

Ngũ Kinh Dạy Gì Về Đức Chúa Trời

THÔNG THƯỜNG, trong giai đoạn đầu của một mối quan hệ mới chớm nở, thì người ta có một số khám phá rất quan trọng về người mới đó. Điều này đúng với một người bạn câu cá cùng học lớp giáo lý. Tôi gặp Mike tại nhà thờ và ngay lập tức bị anh ấy thu hút. Chẳng bao lâu sau, chúng tôi thấy rằng chúng tôi và những người của chúng tôi đã cùng nhau có những buổi tối vui vẻ với nhau. Điều này đã cho tôi cơ hội để hiểu rõ hơn về Mike. Một lần Mike mời tôi đi du lịch và câu cá cuối tuần tại một trong những hồ trên núi Oregon. Kinh nghiệm đó đã đánh dấu mối quan hệ của chúng tôi. Trong những năm qua, chúng tôi đã dành vô số ngày cuối tuần để ngồi trong một chiếc bè cao su, bị ướt đẫm vì cơn mưa lạnh, để chờ đợi những con cá hồi tiếp theo cắn câu.

Tôi đã làm bạn với Mike khoảng 25 năm nay. Nhưng hầu hết những gì tôi biết được về tính cách của anh ấy, là vì tôi đã nhận biết được trong những năm đầu tiên những khi chúng tôi dành thời gian bên nhau. Trong những năm đầu tiên của tình bạn giữa chúng tôi, tôi đã nhận biết rằng Mike là một Cơ đốc nhân tin kính, nhiệt thành. Anh ấy là một người sống đạo với niềm tin vững vàng về các vấn đề đạo đức và tín lý. Tôi chưa từng thấy điều gì trong đời sống của anh ấy kể từ những năm đầu tiên quen biết nhau đã làm thay đổi quan điểm này.

Cũng như đối với tình bạn, tôi tin rằng chúng ta nhận biết một số khía cạnh quan trọng về bản tính của Đức Chúa Trời trong những cuốn sách đầu tiên của Kinh Thánh. Những sách này ghi lại nhiều cuộc gặp gỡ của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham, Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên. Giai đoạn này có thể được coi là giai đoạn bắt đầu của một tình bạn. Những gì chúng ta khám phá về Đức Chúa Trời trong các sách đầu tiên của Kinh Thánh được xác nhận và mở rộng xuyên suốt Lời của Đức Chúa Trời.

Chương này thảo luận về những gì năm sách đầu tiên của Kinh Thánh bày tỏ về Đức Chúa Trời. Những sách này là do Môi-se viết, ghi lại khoảng thời gian từ khi sáng tạo thế gian đến khi Y-sơ-ra-ên chuẩn bị cho cuộc chinh phục Ca-na-an. Cơ đốc nhân thường gọi những cuốn sách này là “Ngũ kinh”, thuật ngữ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “năm cuốn sách”. Năm sách này—Sáng thế ký, Xuất Ê-díp-tô ký, Lê-vi Ký, Dân số ký và Phục truyền luật lệ ký—bày tỏ những lẽ thật nền tảng về Đức Chúa Trời. Mỗi cuốn sách nêu bật một thuộc tính đặc biệt quan trọng của Đức Chúa Trời giúp chúng ta hiểu biết Ngài rõ hơn.

 

SÁNG THẾ KÝ: QUYỀN TỂ TRỊ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Chủ đề thần học của Sáng thế ký là quyền tể trị của Đức Chúa Trời, tức là quyền lực tối cao và tuyệt đối của Ngài với tư cách là Đấng cai trị trên tất cả mọi tạo vật của Ngài. Giê-rê-mi khẳng định, “Nhưng CHÚA là Đức Chúa Trời chân thật; Ngài là Đức Chúa Trời hằng sống, là Vua đời đời ” (Giê-rê-mi 10:10). Trong khi các vị vua trên đất cai trị bằng một quyền thống trị cá nhân trong khoảng thời gian giới hạn, thì Đức Chúa Trời cai trị trên cả hoàn vũ và đời đời. Đa-vít đã tuyên bố, “Ðức Giê-hô-va đã lập ngôi Ngài trên các từng trời, Nước Ngài cai trị trên muôn vật.” (Thi 103:19) Và một tác giả Thi thiên khác nói rằng: “Ðức Giê-hô-va làm Vua đến đời đời vô cùng” (10:16). Trong khi Sáng thế ký không có tuyên bố, “Đức Chúa Trời là Đấng tể trị”, sự thật này được nêu bật trong suốt cuốn sách.

Bằng chứng đầu tiên về quyền tể trị của Đức Chúa Trời trong Sáng thế ký là sự sáng tạo của Ngài về vũ trụ vật chất, “các tầng trời và trái đất” (Sáng thế ký 1:1). Đức Chúa Trời không cần phải hỏi bất cứ ai xem việc sáng tạo vũ trụ có được không. Ngài không cần phải báo cáo cho bất cứ ai khi Ngài đã hoàn thành. Ngài không cần phải phụ thuộc vào bất cứ ai để cung cấp các vật liệu cần thiết. Đức Chúa Trời chỉ đơn giản là phán và vũ trụ đã hình thành! Sự sáng, bầu trời, đất khô, cây cỏ, các vì sao, các loài động vật và loài người đều hiện hữu để đáp ứng cho lời phán toàn năng, uy quyền của Ngài.

Quyền tể trị của Đức Chúa Trời cũng được chứng minh trong Sáng thế ký bằng sự sắp đặt của Ngài đối với con người. Ngài truyền lệnh cho A-đam và Ê-va: “Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn; nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến” (2:16-17). Ngài cũng thực thi quyền tể trị của Ngài bằng cách lên án và phán xét tội lỗi của họ (3:14–19). Quyền tể trị của Đức Chúa Trời đối với sự sáng tạo của Ngài càng được chứng minh bằng sự phán xét của Ngài đối với thế giới gian ác vào thời Nô-ê. Chỉ một Đức Chúa Trời tối cao mới có thể phán, “Ta sẽ hủy diệt khỏi mặt đất loài người mà ta đã dựng nên” (6:7).

Quyền tể trị của Đức Chúa Trời được minh họa một cách mạnh mẽ trong việc Ngài chọn Áp-ra-ham làm tổ phụ cho một dân tộc sẽ mang lại phước hạnh cho các quốc gia trên thế giới (12:1-3). Đức Chúa Trời không chỉ chọn Áp-ra-ham cách uy quyền, mà Ngài còn thể hiện quyền tể trị của Ngài bằng cách lập giao ước vô điều kiện với Áp-ra-ham và con cháu của ông—những lời hứa sẽ ảnh hưởng đến mọi dân tộc mãi mãi. Quyền tể trị của Đức Chúa Trời đã được bày  tỏ trên Núi Mô-ri-a, nơi vào thời điểm quan trọng, Đức Chúa Trời đã cung ứng một con chiên đực để thế chỗ của Y-sác (22:8, 13-14), để minh họa việc Ngài cung ứng Chiên Con, là Chúa Giê-su Christ, để thế chỗ cho chúng ta.

Một trong những minh họa lớn nhất về quyền tể trị của Đức Chúa Trời là câu chuyện về Giô-sép. Việc bán Giô-sép sang Ai Cập, rồi bị cầm tù, cuối cùng được thăng chức lên vị trí rất cao trong triều đình Ai Cập, và việc cung ứng cho gia đình Gia-cốp trong nạn đói khủng khiếp, đều nằm trong kế hoạch và mục đích tối cao của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã làm cho Giô-sép trở nên thịnh vượng trong bất cứ việc gì ông làm (39:23), và Giô-sép thừa nhận rằng chính Đức Chúa Trời đã sai ông đến Ai Cập để  bảo toàn sự sống (45:5).

Một trong những tuyên bố quan trọng nhất trong Kinh thánh về quyền tể trị của Đức Chúa Trời xuất hiện trong Sáng thế ký 50 sau cái chết của Gia-cốp. Các anh của Giô-sép sợ rằng ông sẽ trừng phạt họ vì đã làm sai trái với ông. Giô-sép đáp: “Các anh đừng sợ chi, vì tôi há thay mặt Ðức Chúa Trời sao? Các anh toan hại tôi, nhưng Ðức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi, hầu cho cứu sự sống cho nhiều người, y như đã xảy đến ngày nay, và giữ gìn sự sống của dân sự đông đảo.” (50:19-20 ). Giô-sép thừa nhận những gì anh em mình làm là xấu xa, nhưng ông sẽ không hành động như một quan tòa phán xử của họ. Tuy nhiên, ông nhận ra rằng Đức Chúa Trời đã sử dụng những hành động xấu xa của họ để hoàn thành điều tốt lành! Thật ngạc nhiên, Đức Chúa Trời có thể hoàn thành các mục đích tối cao của Ngài thông qua các hành động tội lỗi của con người.

Điều này không có nghĩa là mọi người không chịu trách nhiệm về hành động của họ. Quyền tể trị của Đức Chúa Trời không loại bỏ trách nhiệm của chúng ta trong việc làm điều đúng đắn. Nói cách khác, khi chúng ta làm sai, chúng ta không thể đổ lỗi cho Đức Chúa Trời. Nhưng Ngài có thể sử dụng một điều sai trái để hoàn thành một điều gì đó tốt đẹp. Một minh họa hữu ích về sự kiện này là sự đóng đinh của Chúa Giê-su Christ. Khi rao giảng cho người dân thành Giê-ru-sa-lem về cái chết của Chúa Giê-su, Phi-e-rơ tuyên bố: “Người đó bị nộp, theo ý định trước [‘kế hoạch định trước,’ NASB] và sự biết trước của Ðức Chúa Trời, các ngươi đã mượn tay độc ác mà đóng đinh Người trên thật tự giá và giết đi” (Công vụ 2:23). Việc đóng đinh là theo kế hoạch đã định trước của Đức Chúa Trời, nhưng đó là một việc làm xấu xa của những người không tin kính. Trong sự đóng đinh của Đấng Christ, điều ác đã hoàn thành điều tốt, nhưng những người đóng đinh Ngài phải chịu trách nhiệm về điều đó. Đức Chúa Trời có quyền tể trị trên điều ác, nhưng Ngài không phải bị đổ lỗi cho điều đó.

Sự thật về quyền tể trị của Đức Chúa Trời được nhấn mạnh trong suốt Kinh Thánh. Có lẽ văn bản kinh điển của Tân Ước là Rô-ma 8:28, “Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Ðức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định.” Và Phao-lô gọi Đức Chúa Trời là Đấng “theo mạng của Ðấng làm mọi sự hiệp với ý quyết đoán” (Ê-phê-sô 1:11). Cả hai câu đều chỉ ra rằng quyền tể trị của Ngài trải dài trên “mọi sự.” Không có gì nằm ngoài quyền tối cao và sự kiểm soát tuyệt đối của Đức Chúa Trời.

Quyền tể trị của Đức Chúa Trời là một tín lý rất thực tế, mang lại cho các tín đồ sự an ủi và khích lệ to lớn khi đối diện với những hoàn cảnh khó khăn hoặc thậm chí là bi kịch. Khi anh trai tôi bị giết trong một vụ tai nạn ô tô ở tuổi mười lăm, lẽ thật về quyền tối cao của Đức Chúa Trời đã nâng đỡ gia đình chúng tôi qua nỗi buồn và sự thương tiếc. Đây không phải là một “tai nạn” hay trường hợp không may mắn mà trong đó Đức Chúa Trời mất quyền kiểm soát và anh trai tôi ở ngoài sự gìn giữ của Ngài. Không phải vậy! Nhưng cái chết của anh trai tôi là một phần trong kế hoạch tối cao và yêu thương của Đức Chúa Trời—một kế hoạch mà tôi không hiểu, nhưng một kế hoạch mà tôi có thể tin cậy vào một Đức Chúa Trời tối cao, Đấng biết rõ và làm điều tốt nhất.

 

XUẤT Ê-DÍP-TÔ KÝ: SỰ CỨU RỖI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Sự cứu rỗi mà Đức Chúa Trời cung ứng là một trong những chủ đề lớn của Kinh Thánh. Điều này được nhấn mạnh trong Sách Xuất Ê-díp-tô ký, trong đó Ngài được trình bày như là Đức Chúa Trời hành động trong sự cứu rỗi để giải cứu chính Ngài. Chúng ta thấy chủ đề này được giới thiệu trong lời tuyên bố của Đức Chúa Trời với Môi-se, “Ta ngự xuống đặng cứu dân nầy khỏi tay người Ê-díp-tô, dẫn từ xứ ấy lên đến một xứ kia đẹp đẽ và rộng rãi, đượm sữa và mật, tức là nơi dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít và dân Giê-bu-sít ở.” (Xuất Ê-díp-tô ký 3:8). Đức Giê-hô-va không giống như các thần của Ca-na-an, là những kẻ bất lực và không giá trị (1 Các vua 18:27). Ngài là Đức Chúa Trời quyền năng Đấng có quyền can thiệp và cứu rỗi. Như Môi-se đã hát, “Ðức Giê-hô-va là sức mạnh và sự ca tụng của tôi: Ngài đã trở nên Ðấng cứu rỗi tôi” (Xuất Ê-díp-tô ký 15:2).

Chủ đề về sự cứu rỗi được trình bày một cách mạnh mẽ trong Xuất Ê-díp-tô Ký thông qua ghi chép về sự ra đời của dân tộc Y-sơ-ra-ên. Chúa đã giải cứu dân Ngài khỏi ách nô lệ ở Ai Cập một cách kỳ diệu, mở đường cho họ vượt qua Biển Đỏ, cung ứng nhu cầu cho họ trong đồng vắng, ban cho họ Luật pháp và hướng dẫn họ về đền tạm. Tất cả những hành động này đều bày tỏ đặc tính cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Ngài quyền năng và sẵn sàng giải cứu.

Lễ Vượt Qua đầu tiên (được ghi lại trong Xuất Ê-díp-tô-ký 12) là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử của Y-sơ-ra-ên. Ở đây, Đức Chúa Trời đã đặt ra một khuôn mẫu cho sự cứu chuộc mà Ngài cho phép những thỏa thuận trong tương lai với dân Ngài. Lễ Vượt Qua dạy về nền tảng của sự cứu chuộc của Đức Chúa Trời và hướng tới công việc cứu chuộc của Đấng Christ tại thập tự giá. Lễ Vượt Qua phải được hiểu trong bối cảnh bản án tử hình giáng xuống toàn bộ Ai Cập vì Pha-ra-ôn ngoan cố không cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi (11:4-8). Đức Chúa Trời loan báo rằng tất cả các con đầu lòng trong xứ Ai Cập sẽ chết. Điều đó bao gồm người Ai Cập, nô lệ và dân Y-sơ-ra-ên. Nhưng Đức Chúa Trời của sự phán xét cũng là Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi, và Ngài đã cung ứng một giải pháp để những đứa con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên được giải thoát khỏi bản án tử hình.

Đức Chúa Trời phán mỗi gia đình phải chuẩn bị một con vật nhỏ từ đàn của họ để dâng của lễ. Kể từ đó, khi cử hành Lễ Vượt Qua mỗi năm, người Do Thái thường hy dâng của lễ là một con cừu, hoặc một con dê cũng có thể được sử dụng vào Lễ Vượt Qua đầu tiên đó. Sau khi bị giết, máu của con vật sẽ được bôi lên các cột cửa và mày cửa của nhà người Y-sơ-ra-ên (12:7). Máu là biểu tượng cho cái chết của người thay thế. Rồi Đức Chúa Trời loan báo: “Huyết bôi trên nhà các ngươi ở, sẽ dùng làm dấu hiệu; khi ta hành hại xứ Ê-díp-tô, thấy huyết đó, thì sẽ vượt qua, chẳng có tai nạn hủy diệt các ngươi” (12:13). Điều này tạo nên một tuyên bố thần học sâu sắc về sự cứu chuộc. Đức Chúa Trời phán rằng huyết của con vật sẽ được chấp nhận thay cho huyết của con đầu lòng. Hành động của sự thay thế này dự báo trước công việc của Đấng Christ, là Đấng đã chết thay cho tất cả chúng ta, những người đáng chịu bản án của sự chết đời đời.

Của lễ hy sinh trong Lễ Vượt Qua không nên được hiểu là một công việc mà dân Y-sơ-ra-ên xứng đáng có được sự giải cứu của họ. Sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời luôn luôn là một sự ban cho ân điển của Ngài và không bao giờ là kết quả của nỗ lực hay việc làm xứng đáng. Sau đó, khi dân Y-sơ-ra-ên đương đầu với Biển Đỏ và quân đội Ai Cập đang áp sát từ phía sau, Môi-se nói: “Chớ sợ chi, hãy ở đó, rồi ngày nay xem sự giải cứu Ðức Giê-hô-va sẽ làm cho các ngươi; vì người Ê-díp-tô mà các ngươi ngó thấy ngày nay, thì chẳng bao giờ ngó thấy nữa. Ðức Giê-hô-va sẽ chiến cự cho, còn các ngươi cứ yên lặng.” (14:13-14). Đức Chúa Trời không yêu cầu dân Y-sơ-ra-ên giúp Ngài để cứu họ. Về bản chất, Ngài chỉ nói: “Hãy đứng lại và xem Ta làm điều đó.”

Vì vậy, việc hy sinh và bôi máu không phải là một “công việc”, mà là một minh chứng về sự đáp ứng của những người đã nghe kế hoạch giải cứu của Đức Chúa Trời và tin vào kế hoạch đó. Dân Y-sơ-ra-ên được cứu bởi đức tin, không phải bởi việc làm của chính họ. Và khuôn mẫu đó được thể hiện xuyên suốt Kinh Thánh. Sự cứu rỗi luôn luôn là bởi ân điển, nhờ đức tin, dựa trên huyết—sau cùng là huyết của Đấng Christ (Hê-bơ-rơ 10:4, 10-14).

Sự cứu rỗi của Đức Giê-hô-va lên đến đỉnh điểm trong lịch sử cứu chuộc khi Chúa Giê-su, Chiên Con của Đức Chúa Trời, đổ huyết Ngài ra cho một thế giới của những tội nhân đang hư mất và hấp hối. Tất cả các Lễ Vượt Qua trước đây đều chỉ đến sự kiện đặc biệt này. Khi suy ngẫm về sự hy sinh của Đấng Christ tại thập tự giá, Phao-lô viết: “Vì Ðấng Christ là con sinh lễ Vượt Qua của chúng ta, đã bị giết rồi” (1 Cô-rinh-tô 5:7). “tin mừng” của phúc âm là sự cứu rỗi thông qua Đấng Christ, Đấng Cứu Rỗi của thế gian.

 

LÊ-VI KÝ: SỰ THÁNH KHIẾT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời và hậu quả là sự phân rẽ giữa những người được Ngài chọn ra khỏi tội lỗi và sự ô uế là chủ đề chính của Lê-vi Ký. Nhưng Kinh Thánh muốn nói gì khi sử dụng thuật ngữ thánh? Kô-đéc, là tiếng Do Thái chỉ sự thánh khiết, truyền đạt ý tưởng về “sự biệt riêng” (Lê-vi ký 20:26). Từ kô-đéc nghĩa chính của nó không phải về mặt đạo đức, mặc dù sự thánh khiết về mặt đạo đức hoặc luân lý xuất phát từ ý tưởng về sự biệt riêng (11:44; 19:2). Những gì là “thánh” thì được đánh dấu nổi bật, được biệt riêng và tách khỏi cách dùng thông thường. Sự thánh khiết được coi là đối lập với , “ô uế,” tức là “sự thô tục” (10:10; Ê-xê-chi-ên 22:26). Thực tế là sự thánh khiết không nhất thiết đề cập đến sự trong sạch về đạo đức được nhìn thấy ở chỗ một gái điếm trong đền thờ người Ca-na-an bị tách ra cho một nghi thức tôn giáo và được gọi là kô-dê-sa (Phục truyền Luật lệ ký 23:18), nhưng tất nhiên đây là mối quan hệ bất khiết.

Khi chúng ta đọc biết rằng Chúa là thánh, chúng ta phải hiểu rằng Ngài hoàn toàn và tuyệt đối tách biệt khỏi bất cứ điều gì làm ô uế hoặc trái ngược với đặc tính của Ngài. Trong khi thuộc tính “sự thánh khiết” nhấn mạnh tính siêu việt của Đức Chúa Trời, chúng ta khám phá ra rằng sự thánh khiết của Ngài không phải là duy nhất, nhưng cuốn hút những người khác đến với Ngài. Đối với dân Y-sơ-ra-ên, Ngài phán: “Ðối cùng ta các ngươi hãy nên thánh, vì ta, Ðức Giê-hô-va, là thánh; ta đã phân rẽ các ngươi với các dân, để các ngươi thuộc về ta. (Lê-vi ký 20:26). Ngay cả những đồ vật vô tri vô giác, chẳng hạn như của lễ dâng (2:3) hoặc một ngôi nhà (27:14), có thể được coi là “thánh” nếu chúng được biệt riêng cho Đức Chúa Trời. Khi dân sự được yêu cầu biệt riêng hoặc dành riêng cho Đức Chúa Trời, là Đấng công bình, thì sự thánh khiết mang ý nghĩa của sự trong sạch về mặt đạo đức—phù hợp với các tiêu chuẩn và luật công bình của Đức Chúa Trời (20:7-8).

Một trong những bài học mạnh mẽ nhất về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời được tìm thấy trong Lê-vi ký 10. Vào đúng ngày các thầy tế lễ được phong chức và dâng các của lễ hàng ngày bắt đầu, thì hai người con trai của A-rôn, là Na-đáp và A-bi-hu, đã bị mất mạng vì vi phạm nghi lễ của thầy tế lễ. Trong sự phấn khích trước ngọn lửa từ trời giáng xuống thiêu rụi của tế lễ trên bàn thờ, Na-đáp và A-bi-hu đã lạm dụng một số quyền tự do cá nhân, dâng hương không đúng thời điểm và không đúng cách (10:1). Loại lửa này là “không được phép” vì nó trái với nghi lễ tế lễ đã được quy định. Kết quả là Na-đáp và A-bi-hu đã bị Chúa giết chết trong đền tạm.

Hành động của các thầy tế lễ này có gì tồi tệ đến mức phải trả giá bằng mạng sống của họ? Môi-se đã giải thích về cái chết của họ cho A-rôn: “Đây là điều mà CHÚA đã bày tỏ khi ngài phán: “Ta sẽ nhờ những kẻ lại gần ta mà được tôn thánh và được vinh hiển trước mặt cả dân sự” (10:3). Tội lỗi của Na-đáp và A-bi-hu là họ đã thất bại trong việc coi Đức Chúa Trời là thánh. Nếu thuộc tính này bị bỏ qua hoặc lờ đi, thì Ngài sẽ chứng tỏ sự thánh khiết của Ngài qua sự phán xét tội lỗi.

Lê-vi ký 20:22-26 chứa đựng những lẽ thật chính yếu của sách liên quan đến sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Thứ nhất, Đức Chúa Trời là thánh, vừa siêu việt vừa tách biệt khỏi mọi ô uế đạo đức. Thứ hai, Y-sơ-ra-ên đã được biệt ra khỏi các quốc gia khác bởi sự lựa chọn tối cao của Đức Chúa Trời. Thứ ba, vì dân Y-sơ-ra-ên được biệt riêng ra khỏi các quốc gia khác để phụng sự và tôn vinh Đức Chúa Trời, nên dân chúng phải tuân theo các mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va, vốn đã được quy định đường lối cho một đời sống biệt riêng và trong sạch về mặt đạo đức.

Dân Y-sơ-ra-ên phải sống cuộc sống thánh khiết, biệt riêng cho Đức Giê-hô-va là thánh và dân sự của Ngài có liên hệ mật thiết với Ngài. Sự trong sạch về mặt đạo đức là một sự phát triển hợp lý của khái niệm về sự thánh khiết. Những người được biệt riêng cho Chúa phải sống phù hợp với các tiêu chuẩn công bình của Ngài.

Giống như quyền tể trị và sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Sự thánh khiết của Ngài là một chủ đề thần học được khai triển xuyên suốt Kinh thánh. Môi-se nói về Đức Chúa Trời là Đấng “vinh hiển trong sự thánh khiết” (Xuất 15:11). Phi-e-rơ xưng nhận Chúa Giê-su là “Đấng Thánh của Đức Chúa Trời” (Giăng 6:69), và ông gọi Chúa Giê-su là “Đấng Thánh và Công bình” (Công vụ 3:14). Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời được công nhận bởi bốn “sinh vật sống” trong khải tượng của Giăng, chúng đã tuyên bố “Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Chúa, là Ðức Chúa Trời, Ðấng Toàn năng” (Khải huyền 4:8). Và trong Khải huyền 15:4 các thánh trên trời hát một bài hát bao gồm các từ “Chỉ một mình Ngài là thánh.” Phi-e-rơ đã kêu gọi con cái Đức Chúa Trời trở nên giống như Cha của họ trong sự thánh khiết của tấm lòng và đời sống: “Nhưng, như Ðấng gọi anh em là thánh, thì anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn ở mình, bởi có chép rằng: Hãy nên thánh, vì ta là thánh” (1 Phi-e-rơ 1:15-16).

 

DÂN SỐ KÝ: SỰ THẠNH NỘ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Sách Dân số ký giới thiệu cho chúng ta một khía cạnh dễ bị hiểu lầm về tính cách của Đức Chúa Trời, về cơn giận thánh của Ngài. Trong Cựu Ước, các thành ngữ “cơn thịnh nộ của CHÚA”, “cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời” và “cơn giận dữ của CHÚA” xảy ra với tần suất đáng ngạc nhiên—khoảng 375 lần. Trên thực tế, Kinh Thánh bao gồm nhiều đề cập đến sự tức giận, cơn giận dữ và thịnh nộ của Đức Chúa Trời hơn là tình yêu và sự dịu dàng của Ngài.

Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời là phản ứng hợp lý và cần thiết của sự thánh khiết và sự công bình của Ngài đối với sự hiện diện của tội lỗi. Cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va là sự bày tỏ tự nhiên về sự thánh khiết của Ngài, chính sự biểu lộ này chống lại tội lỗi cố ý và sự phản nghịch.

Ví dụ về cơn thịnh nộ thánh của Đức Chúa Trời nghịch lại tội lỗi được thấy trong Dân số ký 11:1-3. Chỉ sau ba ngày đi từ Núi Si-na-i, dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu lẩm bẩm và phàn nàn về tình trạnh của họ. Điều này phản ánh lòng biết ơn của họ đối với Đức Chúa Trời đối với sự nhân từ trong quá khứ của Ngài và sự thiếu đức tin của họ vào sự cung ứng của Ngài cho những nhu cầu hiện tại. “cơn thạnh nộ Ngài nổi lên, lửa của Ðức Giê-hô-va cháy phừng phừng giữa dân sự và thiêu hóa đầu cùng trại quân.” (Dân số Ký 11: 1). Môi-se đặt tên nơi này là Tha-bê-ra (“cháy”) vì lửa của Ðức Giê-hô-va đã cháy giữa dân sự (11:3).

Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời lại nổi lên khi dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu ăn chim cút mà Đức Chúa Trời đã sai vào trại. Môi-se thuật lại: “Thịt vẫn còn nơi răng, chưa nhai, thì cơn giận của Ðức Giê-hô-va nổi lên cùng dân sự, hành dân sự một tai vạ rất nặng” (11:33). Môi-se đặt tên cho nơi này là Kíp-rốt—Ha-tha-va (“nấm mồ của lòng tham”), cho thấy có lẽ họ thiếu niềm tin vào sự cung ứng đầy đủ của Đức Chúa Trời (Dân số Ký 11:34). Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời được tái hiện khi phán xét Mi-ri-am (12:9-10) và sự hủy diệt đối với những người theo phe nổi dậy Cô-rê  (16:31-33).

Dân số ký dạy chúng ta rằng nhờ lòng thương xót và sự kiên nhẫn của Ngài (14:18), Chúa có thể để cho cơn thịnh nộ của Ngài hành động một cách nhẹ nhàng, để tạo cơ hội cho tội nhân ăn năn. Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời cũng có thể được làm nguôi hoặc xoay chuyển bằng một của lễ hoặc bằng sự cầu thay. Khi dân Y-sơ-ra-ên nổi loạn chống lại Chúa tại Ca-đe Ba-nê-a và tìm kiếm một người lãnh đạo để đưa họ trở lại Ai Cập, lời cầu nguyện của Môi-se đã ngăn chặn sự đoán phạt của Đức Chúa Trời (14:11-20). Khi dân Y-sơ-ra-ên phàn nàn rằng Môi-se và A-rôn đã gây ra cái chết của Cô-rê và những người theo ông, bệnh dịch đã bày tỏ cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời đã được kiểm chứng bằng sự hy sinh của Môi-se (16:46-48).

A-sáp người viết thi thiên nhớ lại cơn giận của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên: “cơn giận của Ðức Chúa Trời nổi lên cùng chúng nó (Thi 78:31). Trong Thi thiên 90, là thi thiên duy nhất được viết bởi Môi-se, nhà lãnh đạo vĩ đại của Y-sơ-ra-ên nói về cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời: “Ai biết sức sự giận của Chúa? Tùy theo sự kính sợ xứng đáng cho Chúa, ai biết sức sự nóng nả Chúa?” (90:11). Nhiều câu khác cũng nói về cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời, bao gồm Thi thiên 21:9; 95:11; 106:23; Ê-sai 10:6; 60:10; Giê-rê-mi 7:29; 10:10; Ô-sê 5:10; 13:11. Một số người đã đặt câu hỏi liệu cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời có phù hợp với tình yêu thương thiêng liêng của Ngài hay không. Thực ra không có gì mâu thuẫn khi khẳng định cả hai. Leon Morris đưa ra nhận xét hữu ích này: “Tình yêu của Đức Chúa Trời là một tình yêu ghen tị vì lẽ phải và điều tốt với người yêu mến đến nỗi nó bùng cháy trong cơn thịnh nộ dữ dội để chống lại mọi thứ gian ác.”2 Nếu không có cơn thịnh nộ của Ngài, “Đức Giê-hô-va sẽ không còn là công bình trọn vẹn nữa và tình yêu thương của Ngài sẽ biến thành tình yêu đa cảm.” Ngoài ra, như J. I. Packer chỉ ra cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời “luôn luôn mang tính phán xét—tức là cơn thịnh nộ của vị quan án, cai trị công bằng.” Rô-ma 2:5-6 nhấn mạnh rằng cơn thịnh nộ của Ngài dựa trên công lý, không phải sự độc ác bất công.

Trong khi cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời nổi lên trong Cựu Ước, nó cũng được bày tỏ trong Tân Ước. Chỉ có đức tin nơi Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã thỏa mãn cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời (Rô-ma 3:25; 1 Giăng 2:2), mới có thể cứu tội nhân khỏi sự phán xét thiên thượng.

 

PHỤC TRUYỀN LUẬT LỆ KÝ: TÌNH YÊU CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Phục truyền Luật lệ ký trình bày rõ ràng nhất về tình yêu thương của Đức Giê-hô-va đối với dân Ngài và điều cần thiết để dân Ngài đáp lại tình yêu thương đối với Ngài. William Moran đã chỉ ra rằng tình yêu của Đức Chúa Trời trong Phục truyền Luật lệ ký là một tình yêu được xác định và cam kết trong giao ước là—một “tình yêu thuộc giao ước”. Các văn bản ngoại Kinh có niên đại từ thế kỷ thứ mười tám đến thế kỷ thứ bảy trước Công nguyên sử dụng thuật ngữ tình yêu để mô tả lòng trung thành và tình bạn hợp nhất các vị vua độc lập với nhau, cũng như các vị vua với thần dân của họ. Vì người cai trị được mong đợi là yêu thần dân của mình, vì vậy người dân cũng phải yêu người cai trị của họ.

Một phân đoạn quan trọng về tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong Phục truyền Luật lệ ký là 7:7-11. Đức Giê-hô-va không yêu dân Y-sơ-ra-ên vì họ nhiều hơn hay tốt hơn dân các nước khác (7:7). Đúng hơn, Đức Chúa Trời đã giữ giao chính Ngài đối với dân sự tuân theo giao ước của Ngài đã lập với các tổ phụ của họ. Tình yêu thương của Đức Giê-hô-va là tình cảm có chọn lọc, không xứng đáng của Ngài, qua đó Ngài ràng buộc chính Ngài với dân sự của Ngài và dẫn đến sự cứu chuộc họ khỏi cảnh nô lệ. Do đó, những người được cứu chuộc có nghĩa vụ phải thể hiện đáp lại tình yêu của họ đối với Đức Chúa Trời.

Các vị vua thời xưa yêu cầu thần dân của họ phải tuyên thệ trung thành, thể hiện dưới dạng tình yêu. Vì vậy, Đức Giê-hô-va, khi thiết lập giao ước của Ngài với Y-sơ-ra-ên, cũng đòi hỏi dân Ngài phải yêu thương và vâng phục. Đức Chúa Trời phán với họ: “Ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi.” (6:5). Đây là một tình yêu thương có thể là mệnh lệnh bắt buộc và được định nghĩa với thuật ngữ là lòng trung thành (11:1,22), sự phục vụ (10:12; 11:13) và sự vâng phục (10:12; 19:9).

Khái niệm về tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong Phục truyền Luật lệ ký đã làm rõ sự thật rằng mối quan hệ của Ngài với dân Ngài theo giao ước là mối quan hệ của tình yêu thương chứ không phải là luật pháp (4:37; 7:13; 33:3). Tình yêu này là tấm lòng tôn kính cá nhân được tạo thành và duy trì bởi Đức Chúa Trời trong tấm lòng con người (30:6). Tình yêu đối với Đức Giê-hô-va bao gồm cả tấm lòng, linh hồn và sức mạnh—toàn bộ nhân cách của mỗi người. Tình yêu này không phải là thể hiện qua sự vâng phục bề ngoài mà cũng không phải là kết quả của sự xác tín của tấm lòng chân thành (6:5; 13:3). Theo bối cảnh đó, những lời của Chúa Giê-su có ý nghĩa lớn hơn: “Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ gìn các điều răn ta.” (Giăng 14:15).

Trong khi tình yêu của Đức Chúa Trời được giới thiệu trong Phục truyền Luật lệ ký, chủ đề này được làm nổi bật qua Kinh thánh. Sách Ô-sê sử dụng những bi kịch trong cuộc sống hôn nhân và gia đình của nhà tiên tri để minh họa tình yêu thương không ngừng của Đức Chúa Trời dành cho dân sự Ngài bất chấp sự bất trung của họ (Ô-sê 1-3). Đức Chúa Trời tiếp tục yêu thương ngay cả khi dân sự của Ngài không giữ lòng trung tín. Tội lỗi và thất bại không làm giảm đi tình yêu thương của Đức Chúa Trời, mặc dù những điều đó có thể dẫn đến những hậu quả không dễ chịu cho chúng ta.

Giăng 3:16 dạy rằng Đức Chúa Trời yêu thương người nam và người nữ đến nỗi đã ban Con của Ngài là Chúa Giê-su để chết thay vì tội lỗi của chúng ta. Tình yêu của Đức Chúa Trời là tình yêu ban cho, hy sinh. Trong Rô-ma 5:8, Phao-lô nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời chủ động thực hiện tình yêu thương. ” Nhưng Ðức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Ðấng Christ vì chúng ta chịu chết.” Phao-lô đã trình bày gương yêu thương hy sinh của Đức Chúa Trời như một khuôn mẫu cho các tín đồ noi theo (Ê-phê-sô 5:1-2).

Trong bài giải thích kinh điển của mình về tình yêu, Giăng đã viết, “Đức Chúa Trời là tình yêu thương” (1 Giăng 4:8), một tình yêu đã được minh chứng một cách sâu sắc trong sự nhập thể của Chúa Giê-su Christ (4:10). Là tín đồ, chúng ta phải yêu vì Ngài đã yêu chúng ta trước (4:11,19). Trong tác phẩm The Brothers Karamazov của Dostoevsky, Cha Zossima nói rằng thiếu tình yêu thương là sự trừng phạt cũng giống như bản chất của tội lỗi. Đối với câu hỏi “Địa ngục là gì?” Cha Zossima trả lời: “Tôi khẳng định rằng đó là nỗi đau khổ khi không thể yêu.” Sau đó, ông lại đưa ra lời kêu gọi: “Hãy yêu một người ngay cả đối với tội lỗi của người ấy, vì đó là vẻ bên ngoài của tình yêu Thiên thượng và là tình yêu cao cả nhất trên thế gian này.”

 

BÀI HỌC TỪ NGŨ KINH

Năm cuốn sách đầu tiên của Kinh Thánh dạy chúng ta một số bài học căn bản về Đức Chúa Trời. Đây là những lẽ thật nền tảng mà bất cứ ai muốn biết Đức Chúa Trời rõ hơn thì phải nhận biết và áp dụng. Những điều này quan trọng đến mức tôi phải yêu cầu các học sinh lớp giáo lý của tôi học thuộc lòng.

 

  • Sáng thế ký: Đức Chúa Trời là Đấng Chủ Tể tối cao.
  • Xuất Ê-díp-tô ký: Đức Chúa Trời là Đấng Cứu thế quyền năng.
  • Lê-vi ký: Đức Chúa Trời là Đấng thánh khiết tuyệt đối.
  • Dân số ký: Đức Chúa Trời là một Quan án phẫn nộ.
  • Phục truyền Luật lệ ký: Đức Chúa Trời giàu lòng yêu thương.

 

Tổng hợp lại, những lẽ thật này đã bày tỏ nhiều điều về Đức Chúa Trời và các mục đích của Ngài: Đức Chúa Trời tối cao, là Đấng thánh khiết tuyệt đối, đã phải phản ứng bằng cơn thịnh nộ trước sự phô bày của tội lỗi. Nhưng giàu tình yêu thương, Ngài cung ứng một giải pháp cứu rỗi cho những ai đầu phục Ngài bởi đức tin.

 

 

 

 

 

 

 

9

Những Hình Ảnh Về Đức Chúa Trời

THẬT THÚ VỊ khi khám phá những gì người ta tưởng Đức Chúa Trời là như vậy. C. S. Lewis kể một câu chuyện hài hước về một cậu học sinh được hỏi về những gì cậu đã hình dung về Chúa. Cậu ta trả lời rằng, theo như anh ta có thể xác định, Chúa là “loại người luôn rình mò để xem có ai đang vui thích với bản thân không rồi tìm cách ngăn chặn điều đó.”1

Đức Chúa Trời thực sự như thế nào? Những người viết Kinh Thánh cổ đại muốn dân Y-sơ-ra-ên được biết, nhưng họ sống trong thời kỳ mà các phương pháp giao tiếp khá hạn chế. Chúng ta có thể tưởng tượng mình đang sống trong một thế giới không có tivi, radio, máy đèn chiếu,  trình phát video và đồ họa máy tính không? Những người sống trong thời của Kinh Thánh lúc bấy giờ không có những phương tiện này. Những gì họ có là từ ngữ. Vì vậy họ đã sử dụng từ ngữ để tạo ra những hình ảnh tinh thần về Đức Chúa Trời. Những “hình ảnh từ ngữ” này đặc biệt nổi bật trong các phần thơ văn của Kinh Thánh, nơi có rất nhiều hình ảnh và ẩn dụ.

Sử dụng hình ảnh là một cách tuyệt vời để truyền đạt lẽ thật về Chúa, vì một số lý do. Thứ nhất, những hình ảnh tinh thần dường như lưu lại trong ký ức của chúng ta tốt hơn những giới luật trừu tượng. Hãy nghĩ về một quảng cáo mà chúng ta vừa xem gần đây. Trong tâm trí chúng ta luôn lưu lại một số hình ảnh của những quảng cáo mà chúng ta vừa mới xem! Thứ nhì, hình ảnh tinh thần hấp dẫn cảm xúc cũng như tâm trí. Người ta được thông báo bằng lời nói, nhưng được cảm động bởi những bức tranh nói thay lời. Thứ ba, những hình ảnh trình bày lẽ thật về Đức Chúa Trời có thể dễ dàng được truyền đến cho người khác. Chẳng hạn, trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn đều có thể hiểu hình ảnh mà Chúa Giê-su dùng trong lời tuyên bố của ngài, “Ta là người chăn nhân lành.” Trong chương này, chúng ta sẽ xem những hình ảnh mà Kinh Thánh giúp chúng ta hiểu rõ hơn về Đức Chúa Trời.

ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ VẦNG ĐÁ CỦA CHÚNG TA

Trong số bảy mươi lăm lần xuất hiện của từ “đá” trong Kinh Thánh, ba mươi ba lần là tượng trưng cho Đức Chúa Trời. Môi-se là người đầu tiên gọi Đức Chúa Trời là “Vầng Đá” (Phục-truyền.  32:4; 32:15), nhưng khi đề cập đến các dân tộc ngoại giáo, Môi-se nói: “Vầng đá của họ không giống Vầng Đá đá của chúng ta” (32:31). Đa-vít công bố rằng, “Đức Giê-hô-va là hòn đá và đồn lũy tôi, Đấng giải cứu tôi.  Đức Chúa Trời tôi là hòn đá tôi, nơi tôi sẽ nương náu mình, Là thuẫn đỡ tôi, sừng chửng cứu tôi, Ngọn tháp cao và nơi nương dựa của tôi; Hỡi Đấng che chở tôi!” (2 Sa-mu-ên 22:2-3). Hình ảnh vầng đá cũng nổi bật trong Thi thiên.2

Trong tiếng Hê-bơ-rơ sur, “rock,” không đề cập đến một viên đá hoặc viên sỏi nhỏ, mà là một tảng đá lớn, khối đá, vách đá, hoặc có thể là núi. Chúng ta biết gì về những tảng đá khiến các trước giả Kinh Thánh sử dụng chúng làm hình ảnh cho Đức Chúa Trời? Thứ nhất, những tảng đá lớn không thể chuyển dời được. Chúng có xu hướng đứng yên. Thứ nhì, đá tồn tại rất lâu. Dưới mái vòm của tảng đá đền thờ Giê-ru-sa-lem là tảng đá của Núi Mô-ri-a nơi Áp-ra-ham dâng Y-sác (Sáng thế ký 22). Sau gần bốn nghìn năm, đến nay tảng đá đó vẫn còn. Chúng ta có thể nhìn thấy tảng đá đó khi đến thăm Giê-ru-sa-lem. Thứ ba, những tảng đá có thể đem lại sự che chở. Người ta có thể ẩn sau chúng khi bị kẻ thù tấn công. Thứ ba, đá có thể cung cấp sự bảo vệ. Bạn có thể ẩn sau chúng khi kẻ thù của bạn tấn công. Cả những mũi tên nhọn và đá bắn ra từ ná, đều không thể xuyên thủng một pháo đài bằng đá vững chắc. Những tảng đá lớn cũng có thể tạo ra bóng râm che chắn sức nóng gay gắt của mặt trời trong một vùng hoang dã cằn cỗi đầy đá sỏi.

Với những sự thật này trong tâm trí, chúng ta có thể hiểu tại sao các trước giả Kinh Thánh gọi Chúa là “Tảng đá của chúng ta.” Ngài chắc chắn, vững vàng, không lay chuyển và ban cho sự bảo vệ. Ngài hoàn toàn đáng tin cậy. Ngài không chịu ảnh hưởng của thời gian. Trong khi các pháo đài nhân tạo đổ nát và sụp đổ, Chúa là “vầng đá của các thời đại” (Ê-sai 26:4). Sau hàng ngàn năm, Ngài vẫn không hề thay đổi. Như một tảng đá, Đức Chúa Trời là đồn lũy và nơi ẩn náu của chúng ta (Thi thiên 18:2). Ngài là Đấng mà chúng ta có thể chạy đến khi bị kẻ thù tấn công hoặc gặp lúc đau khổ và khó khăn. Là “hòn đá về sự cứu rỗi tôi” (89:26), Ngài là Nguồn sức lực và sự giải cứu chắc chắn của chúng ta. Người nào nương cậy vào Chúa như Tảng đá mình sẽ được an ninh (62:2, 6).

Ê-sai đề cập đến Đấng Mê-si là “hòn đá vấp ngã, vầng đá vướng mắc cho cả hai nhà Y-sơ-ra-ên, và là bẫy cùng lưới cho dân cư thành Giê-ru-sa-lem vậy” (Ê-sai 8:14). Hễ ai đến với Ngài phải nhận biết Ngài. Một số vấp ngã và Ngài khiến kẻ ấy đổ vỡ để ăn năn. Những kẻ khác vấp ngã và bị chính tảng đá đè nát, tức là họ bị phán xét vì tội lỗi mình. Chúa Cứu Thế cũng là “Hòn đá đã bị người xây nhà bỏ ra” (Thi thiên 118:22; Ma-thi-ơ 21:42). Nhưng ai tin vào Tảng đá này sẽ không hổ thẹn (Ê-sai 28:16; 1 Phi-e-rơ 2:6). Trong thời gian ở đồng vắng, Môi-se đã đập vào hòn đá và nước chảy ra cho dân Y-sơ-ra-ên đang khát (Xuất 17: 6; Phục truyền 8:15; Thi thiên 78:15). Phao-lô đồng nhất tảng đá này với Đấng Christ (1 Cô-rinh-tô 10:4). Hình ảnh tảng đá trong Kinh thánh cuối cùng chỉ về Chúa Giê-su, Vầng đá cứu rỗi của chúng ta.

 

ĐỨC CHÚA TRỜI NƠI ẨN NÁU CỦA CHÚNG TA

Hình ảnh Chúa là nơi ẩn náu của chúng ta khá giống với Chúa là vầng đá của chúng ta. Trên thực tế, những hình ảnh này đôi khi xuất hiện dưới dạng các thuật ngữ song song. Trong Thi thiên 62:7 Đa-vít viết rằng Đức Chúa Trời “Hòn đá về sức lực tôi, và nơi nương náu mình.” Từ nguyên Hê-bơ-rơ hasa, “tìm nơi ẩn náu,” và danh từ mahseh, “nơi ẩn náu” được sử dụng chủ yếu trong Thi thiên và các sách văn thơ khác. Những từ này được sử dụng theo nghĩa đen là trú ẩn khỏi cơn mưa bão (Ê-sai 4:6; 25:4) hoặc trú ẩn khỏi nguy hiểm trên các núi cao (Thi thiên 104:18). Nhưng những từ này thường được dùng theo nghĩa bóng để nói về việc tìm kiếm sự nương tựa nơi Đức Chúa Trời.

Những trước giả Thi thiên thường xác định Đức Giê-hô-va là nơi ẩn náu. “Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi, tôi nương náu mình nơi Ngài” (7:1). “Tôi nương náu mình nơi Đức Giê-hô-va” (11:1). “Linh hồn tôi nương náu nơi Chúa” (57:1). “Thà nương náu mình nơi Đức Giê-hô-va còn hơn tin cậy loài người” (118:8).

Những trước giả Thi thiên muốn nói gì về hình ảnh này? Rõ ràng là Đức Chúa Trời không đem đến sự bảo vệ theo cách mà những bức tường phòng thủ hay một pháo đài vững chắc ở đời nầy mang lại. Lấy Đức Chúa Trời làm nơi nương náu nghĩa là “tin cậy” nơi Ngài. Đây là hình ảnh có tính văn thơ thể hiện sự tin chắc vào Đức Chúa Trời quyền năng của chúng ta, Đấng cung cấp sự an toàn cho những người không nơi nương tựa, gặp cảnh khó khăn. Như những núi cao cung cấp nơi ẩn náu an toàn cho những người đang gặp gian nguy (Giô-suê 2:22), Đức Chúa Trời là “nơi nương náu vững bền” (Thi 71:7). Ngài như một “cái thuẫn cho mọi người nương náu mình nơi Ngài” (2 Sa-mu-ên 22:31).

Trong tiếng Hê-bơ-rơ có một từ khác được sử dụng để chỉ các thành ẩn náu (Dân số ký 35), người ta không thể không thấy mối liên hệ giữa họ và Đức Chúa Trời như một nơi ẩn náu. Sáu thành lánh nạn đã cung cấp nơi cư trú cho một người Y-sơ-ra-ên phạm tội ngộ sát. Chừng nào kẻ có tội vẫn còn trong các bức tường của thành, kẻ báo thù huyết không thể thi hành hình phạt. Cũng giống như vậy, Chúa Giê-su Christ là “nơi nương náu” cho những tội nhân (Hê-bơ-rơ 6:18). Ngài là nơi nương náu vững bền và an toàn cho những ai tin cậy nơi Ngài.

ĐỨC CHÚA TRỜI – ĐẤNG CHIẾN TRẬN CHO CHÚNG TA

Hầu hết người ta không nghĩ về bằng các thuật ngữ quân đội. Nhưng vì Y-sơ-ra-ên thường bị ngoại bang tấn công, dân sự của Đức Chúa Trời hình dung Chúa của họ như một chiến binh dũng mãnh có thể vừa bảo vệ vừa minh oan cho họ. Đức Giê-hô-va đã chiến trận cho dân Ngài không phải bằng gươm và giáo, nhưng bởi những phép lạ thiên thượng. Sau khi Đức Chúa Trời đánh bại người Ai Cập, dìm quân đội của Pha-ra-ôn ở Biển Đỏ, Môi-se và dân sự Y-sơ-ra-ên đã hát một bài hát như sau: “Đức Giê-hô-va là một chiến sĩ; Danh Ngài là Giê-hô-va. Ngài đã ném xuống biển binh xa Pha-ra-ôn và cả đạo binh của người; Quan tướng kén chọn của người đã bị đắm nơi Biển Đỏ” (Xuất Ê-díp-tô ký 15:3-4). Hình ảnh về Đức Giê-hô-va như một chiến binh phổ biến và quan trọng đến mức trọn một cuốn sách đã được viết về chủ đề này.3 Tiếng Hê-bơ-rơ được dịch “chiến binh” trong đoạn văn này đề cập đến một người đã học được nghệ thuật chiến tranh và đã chứng tỏ bản thân trên chiến trường.

Làm sáng tỏ chủ đề về Giê-hô-va là chiến binh, Ê-sai tuyên bố, “Đức Giê-hô-va sẽ ra như người mạnh dạn; giục lòng sốt sắng như người lính chiến; kêu la quát tháo; ra sức cự lại kẻ thù nghịch mình” (Ê-sai 42:13). Còn Sô-phô-ni đã giục lòng dân sự mình như sau, “Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ở giữa ngươi; Ngài là Đấng quyền năng sẽ giải cứu ngươi” (3:17). Trong những phân đoạn này, trong tiếng Hê-bơ-rơ từ được dịch là “chiến binh” là một tính từ có nghĩa là “mạnh mẽ” hoặc “hùng mạnh.” Khi được sử dụng cho một cá nhân, nó nói lên một người đàn ông mạnh mẽ hoặc dũng cảm. Khi được sử dụng cho Đức Chúa Trời, thuật ngữ này nhấn mạnh quyền năng của Ngài để bảo vệ dân sự Ngài và đánh bại kẻ thù của họ.    Vì “Đức Giê-hô-va mạnh dạn trong chiến trận” (Thi thiên 24:8), Đa-vít tuyên bố, “Nguyện Đức Chúa Trời chỗi dậy, khiến thù nghịch Ngài tản lạc, Và làm cho những kẻ ghét Ngài phải trốn trước mặt Ngài” (68:1).

Hình ảnh về Chúa như một chiến binh dũng mãnh cuối cùng sẽ được ứng nghiệm bởi sự trở lại của Đấng Cứu Thế “sẽ ra đánh cùng các nước đó” là những nước nhóm lại tranh chiến cùng Giê-ru-sa-lem (Xa-cha-ri 14:3). Giăng đã hình dung sự trở lại của Chúa Giê-su trên một “con ngựa trắng” (Khải huyền 19:11), ngựa của chiến binh thắng trận. Đáng để ý là nhà lãnh đạo La Mã Vespasian đã cưỡi một con ngựa trắng trong chiến thắng của mình trước Giu-đê.4 Trong Trận chiến Ha-ma-ghê-đôn, Đấng Cứu Thế sẽ “đánh các dân” bằng “một lưỡi gươm bén” và sẽ “cai trị họ bằng một cây gậy sắt” (Khải huyền 19:15).

Thật an ủi khi biết rằng chúng ta có một Đấng Che Chở mạnh mẽ, Đấng có thể đánh bại kẻ thù vô hình mạnh sức nhất là kẻ chống Chúa, tiên tri giả và ma quỷ (Khải huyền 19:20; 20:1-2, 10). Vì Ngài có thể ban cho họ những gì họ xứng đáng, nên không kẻ thù nào có thể chống nổi sự đáp trả của Ngài. Như Phao-lô tuyên bố, “Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta?” (Rô-ma 8:31). Không thế lực nào có thể đánh bại chúng ta khi chúng ta đứng bên cạnh Chúa Giê-su, Đấng Che Chở là Chúa Cứu Thế của chúng ta.

ĐỨC CHÚA TRỜI ĐẤNG TRÔNG NOM CHÚNG TA

Một trong những hình ảnh quen thuộc nhất trong Kinh Thánh là hình ảnh người chăn chiên. Vì nhiều người trong Y-sơ-ra-ên là những người chăn cừu, chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi tìm thấy hình ảnh này trong Kinh thánh. Trên thực tế, phép ẩn dụ người chăn chiên đã được sử dụng khắp vùng Cận Đông cổ đại để nói về chức vụ cho những người cai trị cả đời nầy và thuộc linh. Trong một bài thánh ca cổ của người Su-me, thần Enlil được coi là “người chăn trung thành” của tất cả các tạo vật sống. Trong phần mở đầu của bộ luật nổi tiếng của mình, vua Ba-by-lon Hammurabi đã tự mô tả mình là một người chăn chiên được thần Enlil lựa chọn cho dân tộc mình. Trong Cựu Ước, ẩn dụ về người chăn chiên được áp dụng cho cả Chúa (Sáng thế ký 49:24; Thi thiên 80: 1; 95: 7) và những người lãnh đạo đời này (78:70-72; Xa-cha-ri 11:4-14).

Thi thiên hai mươi ba quen thuộc bắt đầu bằng những lời, “Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi.” Ê-sai đã tiên đoán về chức vụ giống như người chăn chiên của Đấng Cứu Thế. “Ngài sẽ chăn bầy mình như người chăn chiên; thâu các con chiên con vào cánh tay mình và ẵm vào lòng; từ từ dắt các chiên cái đương cho bú” (Ê-sai 40:11). Sử dụng hình ảnh người chăn chiên, Ê-xê-chi-ên kết tội các nhà lãnh đạo quốc gia, những người giống như những người chăn giả. Họ bóc lột dân chúng thay vì chăm sóc nhu cầu của họ như một người chăn nhân lành nên làm (Ê-xê-chi-ên 34: 2-4). Sau đó, Ê-xê-chi-ên tiên báo cách Đức Giê-hô-va sẽ trở thành Người chăn chiên của Y-sơ-ra-ên là thể nào. Ngài sẽ đem bầy Y-sơ-ra-ên bị phân tán trở lại đất của họ (34:13). Ngài sẽ “chăm nom” bầy của mình, “Tìm con nào đã mất, dắt về con nào đã bị đuổi,” và “rịt thuốc cho con nào bị gãy, và làm cho con nào đau được mạnh” (34:14, 16).

Hình ảnh người chăn có sự ứng nghiệm cuối cùng trong Chúa Giê-su, “người chăn hiền lành” (Giăng 10:11). Ngài là Người Chăn Hiền Lành vì Ngài chăm sóc đàn chiên, cung cấp cho đàn chiên và phó mạng sống của mình cho đàn chiên (10:12-15). Bầy chiên biết tiếng của Người chăn chúng và đi theo Người (10:2-4). Ngài cũng được gọi là “Đấng chăn chiên lớn” (Hê-bơ-rơ 13;20) và là “Đấng làm đầu các kẻ chăn chiên” (1 Phi-e-rơ 5:4). Nếu có dịp đến thăm vùng đất Y-sơ-ra-ên, chúng ta sẽ được nhìn thấy nhiều người chăn chiên cùng với đàn chiên của họ. Chúng ta sẽ thấy những người chăn gọi bầy của mình bằng những âm thanh nghe rất lạ. Bạn sẽ thấy những con chiên đáp lại và đi theo người chăn chúng. Chúng biết rằng chúng có thể tin cậy người ấy bảo vệ và cung cấp những nhu cầu của chúng. Và với tư cách là những người tin Chúa, chúng ta là thành viên trong bầy của Đức Chúa Trời, “bầy chiên của đồng cỏ Ngài” (Thi thiên 100:3). Chúa Giê-su có thể sử dụng tất cả các nguồn cung cấp thiêng liêng của Ngài với tư cách là Người Chăn Hiền Lành trong việc chăm sóc và cung cấp cho đàn chiên của Ngài.

ĐỨC CHÚA TRỜI CHÚNG TA CHIM ƯNG BAY LƯỢN

Một hình ảnh đẹp như tranh vẽ nhưng có lẽ đáng ngạc nhiên về Chúa là hình ảnh chim ưng. Sau cuộc Xuất hành khỏi Ai Cập, Đức Chúa Trời phán với dân Ngài rằng: “Các ngươi đã thấy điều ta làm cho người Ê-díp-tô, ta chở các ngươi trên cánh chim ưng làm sao, và dẫn các ngươi đến cùng ta thế nào” (Xuất Ê-díp-tô ký 19:4). Trong một kiệt tác thi ca tiếng Hê-bơ-rơ, Môi-se đã ví mối quan hệ của Đức Chúa Trời với dân Y-sơ-ra-ên như một chim ưng chăm sóc con non. “Ngài săn sóc người… như phụng hoàng phấp phới giỡn ổ mình, Bay chung quanh con nhỏ mình, Sè cánh ra xớt nó, Và cõng nó trên chéo cánh mình thể nào” (Phục truyền 32:10-11).

Đa-vít thích hình ảnh đôi cánh của Đức Chúa Trời. Ông đã cầu nguyện, “Hãy ấp tôi dưới bóng cánh của Chúa” (Thi thiên 17:8). Ông tỏ lòng biết ơn về đôi cánh của Đức Chúa Trời cung cấp nơi ẩn náu cho ông hỏi nguy hiểm: “Tôi nương náu mình dưới bóng cánh của Chúa, Cho đến chừng tai họa đã qua” (57:1; 61:4; 91:4). Nhận biết sự an ninh được tìm thấy trong bóng cánh của Đức Chúa Trời là một nguồn vui cho những người tin. Đa-vít tuyên bố, “Vì Chúa đã giúp đỡ tôi, Dưới bóng cánh của Chúa tôi sẽ mừng rỡ” (63:7).

Trong một phép ẩn dụ tương tự, Chúa Giê-su nói với vẻ buồn bã về việc Ngài bị dân thành Giê-ru-sa-lem từ chối. “Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem, ngươi giết các đấng tiên tri và ném đá những kẻ chịu sai đến cùng ngươi, bao nhiêu lần ta muốn nhóm họp các con ngươi như gà mái túc con mình lại ấp trong cánh, mà các ngươi chẳng khứng!” (Ma-thi-ơ 23:37). Khi từ chối Đấng Cứu Thế, dân Y-sơ-ra-ên khước từ sự bảo vệ được cung cấp dưới “đôi cánh” của Đức Chúa Trời. Sự tàn phá Giê-ru-sa-lem bởi Ti-tớt và quân đội La Mã của ông ngay sau đó  (23:38; 24:2).

Là những người tin vào Chúa Giê-su Christ, chúng ta biết ơn về sự bảo vệ yêu thương mà Đức Chúa Trời ban cho dưới đôi cánh quyền năng của Ngài. Đây là một bức tranh tuyệt vời về sự an toàn của chúng ta trong Ngài và sự chăm sóc, bảo vệ khỏi bị tổn hại và tình yêu thương của Ngài.

ĐỨC CHÚA TRỜI – THUẪN ĐỠ CỦA CHÚNG TA

Sáng thế ký 15:1 ghi lại những lời yên ủi của Đức Chúa Trời đối với Áp-ram, “Hỡi Áp-ram! Ngươi chớ sợ chi; ta đây là một cái thuẫn đỡ cho ngươi.” Từ được dịch là “cái thuẫn” (magen) bắt nguồn từ động từ tiếng Đức, “bảo vệ hoặc đặt một tấm chắn.” Trong thời cổ đại, các chiến binh sử dụng hai loại tấm chắn. Tấm magen là tấm lá chắn tròn nhỏ hơn và phổ biến hơn được bộ binh hạng nhẹ mang theo. Tấm sinna là một tấm lá chắn hình chữ nhật lớn hơn nhiều, giống như cái được mang bởi người hầu của Goliath (I Sa-mu-ên 17:7, 41), có thể bảo vệ toàn bộ cơ thể. Những tấm chắn ban đầu được làm bằng gỗ hoặc đan dệt và được lợp bằng da. Đôi khi chúng được gia cố bằng đồng. Lá chắn là vật dụng thiết yếu để phòng thủ của một người lính. Nhờ tấm chắn, người lính có thể làm chệch hướng những đòn tấn công của kiếm, giáo và mũi tên của kẻ thù.

Vì Đức Chúa Trời là Đấng bảo vệ dân sự Ngài, nên chẳng có gì lạ khi Ngài được mô tả theo phép ẩn dụ là “Ngài là cái khiên cho những kẻ nào nương náu mình nơi Ngài” (Thi thiên 18:30). Môi-se nhắc cho dân Y-sơ-ra-ên nhớ rằng Đức Giê-hô-va là “Ngài là cái thuẫn giúp đỡ ngươi” (Phục Truyền 33:29). Là một chiến binh, David biết tầm quan trọng của lá chắn trong việc phòng thủ cá nhân trên chiến trường. Trong một bài Thi thiên mà Đa-vít đã viết khi chạy trốn Áp-sa-lôm, ông nói, “Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài là cái khiên chở che tôi” (Thi thiên 3:3). Trong một Thi thiên khác ông viết rằng, “Đức Chúa Trời là cái khiên tôi, Ngài là Đấng cứu rỗi những kẻ có lòng ngay thẳng” (7:10).

Được Đức Chúa Trời che chở ngụ ý đến sự cứu rỗi dành cho dân sự Ngài (Thi thiên 18:2), Người dân Y-sơ-ra-ên được khuyến khích “hãy nhờ cậy nơi Đức Giê-hô-va” vì “Ngài là sự tiếp trợ và cái khiên của họ” (115:9-11). Biết được Đức Chúa Trời là lá chắn của mình đã đem lại cho Đa-vít sự dạn dĩ khi đối mặt với sự tranh chiến. Ông viết, “Đức Giê-hô-va là sức mạnh và là cái khiên của tôi; Lòng tôi đã nhờ cậy nơi Ngài” (28:7).

Mặc dù Đa-vít thường xuyên sử dụng magen để mô tả Đức Chúa Trời là lá chắn và người bảo vệ dân Ngài, nhưng ông đã sử dụng sinna trong Thi thiên 5:12 (xem thêm I Các vua 10:16; Thi thiên 35:2; 91:4). Một nhóm binh lính có thể sử dụng những chiếc khiên này để tạo một mái che bảo vệ trên đầu của họ, những người lính La Mã sau này đã thành thạo nghệ thuật di chuyển qua chiến trường bị bao vây bọc theo cách này. Họ gọi cách tiếp cận này là đội hình pha lăng (đội hình sát cánh nhau). Đức Chúa Trời “sẽ ban phước cho người công bình, Lấy ơn vây phủ người khác nào bằng cái khiên” (5:12). Thật khích lệ biết bao khi biết rằng Đức Chúa Trời che chở và bảo vệ những người tin Ngài chống lại các cuộc tấn công của Sa-tan, kẻ sử dụng những “mưu chước” tinh ranh (2 Cô-rinh-tô 2:11; Ê-phê-sô 6:11) để tìm cách lừa dối và tiêu diệt chúng ta (1 Phi 5:8).

ĐỨC CHÚA TRỜI ĐẤNG CỨU CHUỘC CHÚNG TA

Mười tám lần trong Cựu Ước, Đức Chúa Trời được gọi là Đấng Cứu Chuộc. Gióp có thể là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này về Đức Chúa Trời, khi ông nói, “Còn tôi, tôi biết rằng Đấng cứu chuộc tôi vẫn sống” (Gióp 19:25). Đa-vít người viết thi thiên có chép, “Hỡi Đức Giê-hô-va là hòn đá tôi và là Đấng cứu chuộc tôi, Nguyện lời nói của miệng tôi,
Sự suy gẫm của lòng tôi được đẹp ý Ngài” (Thi thiên 19:14). Ê-sai rất yêu thích hình ảnh này; ông đã sử dụng hình ảnh ấy đến mười ba lần. Ông viết, “Đấng chuộc ngươi tức là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên” (Ê-sai 54:5). Chúng ta có thể đã quá quen thuộc với danh xưng của Đức Chúa Trời là “Đấng Cứu Chuộc” của chúng ta đến nỗi chúng ta không nhận ra rằng điều đó thật ra là một phép ẩn dụ.

Từ “Đấng Cứu Chuộc” đến từ gaal có nghĩa là “thực hiện vai trò của một người thân và do đó cứu chuộc họ hàng của mình khỏi khó khăn hoặc hoạn nạn.”5 Điều nầy ngụ ý những công việc mà một người nhân đức và thành thật sẽ làm cho một người thân đang gặp cảnh khó khăn. Người họ hàng gần [“người bà con (nam),”] có trách nhiệm chuộc lại một mảnh ruộng mà trước đó đã được bán khi gặp cảnh khó khăn nhằm giữ lại tài sản của gia đình (Lê-vi 25:25). Người đó cũng có trách nhiệm mua lại và giải thoát cho một người họ hàng đã bán mình làm nô lệ vì nghèo đói (25:48-49). Người họ hàng cũng phải trả thù kẻ sát hại thành viên trong gia đình (Dân số ký 35:16-19). Ý tưởng đằng sau việc thi hành bổn phận này là sự thiệt mạng phải trả bằng mạng sống của kẻ sát nhân. Mỗi công việc “chuộc tội” này phải do người thân ruột thịt thực hiện.

Ba yêu cầu đối với một người chuộc lại. Thứ nhất, vì việc chuộc lại là nghĩa vụ của gia đình, nên chỉ người thân ruột thịt mới có quyền chuộc lại. Thứ nhì, vì việc chuộc lại rất tốn kém, nên người đó phải có đủ nguồn tài sản chuộc lại. Thứ ba, vì việc chuộc lại đòi hỏi phải có hành động dứt khoát, nên người ta phải có quyết tâm để chuộc lại. Sách Ru-tơ mô tả một “người bà con có quyền chuộc sản nghiệp” là người có quyền và tài sản để chuộc lại đất của Na-ô-mi và Ru-tơ nhưng không muốn làm như vậy (Ru-tơ 4: 1-8).

Khi Chúa được mô tả là Người Bà Con – Đấng Cứu Chuộc của chúng ta, hình ảnh cuối cùng nói đến Chúa Giê-su Christ. Đấng Christ đã trở thành người bà con của chúng ta khi Ngài mặc lấy thân xác con người và nhập thể qua sự hạ sinh bởi nữ đồng trinh (Ma-thi-ơ 1:18; Giăng 1:14). Là Người Bà Con – Đấng Cứu Chuộc của chúng ta, Đấng Christ có nguồn huyết báu của chính Ngài để trả giá cho sự cứu chuộc chúng ta (I Phi-e-rơ 1:18-19). Và Ngài đã quyết hy sinh mạng sống mình để cứu chuộc chúng ta (Mác 10:45). Chỉ một mình Chúa Giê-su Christ có thể ban cho “sự cứu rỗi [khỏi tội] bởi huyết Ngài” (Ê-phê-sô 1:7) và bởi ân điển Ngài (Rô-ma 3:24). Được làm dân sự của Đức Chúa Trời thật phước hạnh biết bao, khi biết rằng trong Ngài, họ có Đấng Cứu Chuộc mạnh mẽ (Giê-rê-mi 50:34).

ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ NƠI ẨN NÁU CỦA CHÚNG TA

Đa-vít cầu nguyện cùng Chúa rằng, “Chúa là nơi ẩn núp tôi; Chúa bảo hộ tôi khỏi sự gian truân” (Thi thiên 32:7). Hình ảnh này lại xuất hiện trong Thi thiên 119:114, “Chúa là nơi ẩn náu và cái khiên của tôi”. Đa-vít bày tỏ lòng tin tưởng rằng “trong ngày hoạn nạn” Đức Giê-hô-va sẽ “che khuất tôi trong đền của Ngài, Giấu tôi nơi kín mật của trại Ngài” (27:5).

Đường hầm Malinta nằm trên đảo Corregidor ở Vịnh Manila. Đường hầm này từng là kho vũ khí trước Thế chiến thứ hai. Nhưng khi Quân đội Nhật Bản xâm lược Philippines vào năm 1941, Đường hầm Malinta đã trở thành một bệnh viện quân đội và là tổng hành dinh của Tướng Douglas MacArthur. Sau nầy, khi máy bay chiến đấu Nhật Bản ném bom lên đảo Corregidor, đường hầm này đã đem lại sự sự che chở cho binh lính Mỹ và Philippines. Mặc dù ngày nay bị bỏ hoang, nhưng Đường hầm Malinta vẫn là một nhân chứng thầm lặng về sự bảo vệ mà nó mang lại cho những người lính khỏi các cuộc bắn phá chết người. Tôi hy vọng rằng không ai trong chúng ta từng phải đối mặt với những trận ném bom của máy bay chiến đấu. Nhưng thường thì dân sự của Đức Chúa Trời trải qua sự thù ghét của một thế giới đầy gian ác và không tin Chúa. Đối mặt với sự tấn công thuộc linh, các tín đồ có một nơi ẩn náu chắc chắn trong Đức Chúa Trời của chúng ta.

Yêu cầu duy nhất đối với những người tìm kiếm lối vào nơi ẩn náu của Đức Chúa Trời là một thái độ ăn năn và đức tin. Sô-phô-ni đã chỉ dẫn những người trong thời của ông “tìm kiếm sự công bình” và “tìm kiếm sự nhu mì.” Kế đến ông khích lệ họ mà rằng, “hoặc giả các ngươi sẽ được giấu kín trong ngày thạnh nộ của Đức Giê-hô-va” (Sô-phô-ni 2:3).

Đức Chúa Trời là “nơi ẩn náu”, nơi con dân Ngài có thể tìm thấy sự an toàn và nương náu trong lúc nguy nan. Ngài là Đấng mà chúng ta có thể đến khi không ai khác biết hoặc hiểu những gì chúng ta đang trải qua. Là nơi ẩn náu của chúng ta, Ngài có thể ban sự che chở khi sự bảo đảm của con người bị thất bại.

 

ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ NGUỒN NƯỚC SỐNG CỦA CHÚNG TA

Nếu Kinh thánh được viết ở Oregon là nơi có nhiều mưa chứ không phải tại xứ Y-sơ-ra-ên, thì hình ảnh về Đức Chúa Trời như một nguồn nước của chúng ta đã có thể không được nói đến. Nhưng phần lớn đất của Y-sơ-ra-ên chỉ hưởng được lượng mưa khá ít ỏi, nên nước ở đó rất quý báu. Trong những tháng mùa hè, khi mặt trời chiếu trực tiếp, rất dễ trở nên quá nóng và mất nước. Khi tôi đưa sinh viên đến Y-sơ-ra-ên, tôi nhắc họ mang theo nước trong các chuyến đi thực tế và uống thường xuyên.

Trong một vùng đất khô khan, Đức Giê-hô-va được tuyên bố là “nguồn nước sống của Y-sơ-ra-ên” (Thi thiên 68:26, NASB). Đa-vít thưa cùng Đức Chúa Trời rằng, “Vì nguồn sự sống ở nơi Chúa” (36:9). Qua diều này, ông muốn nói rằng Đức Chúa Trời là nguồn sự sống và sự tươi mát tâm linh cho những ai tin cậy Ngài.

Khi dân Y-sơ-ra-ên vào Xứ Đồi Núi sau cuộc chinh phục Ca-na-an, họ phát hiện ra rằng nhiều thành phố được xây dựng gần với suối nước tự nhiên. Ví dụ, Giê-ru-sa-lem cổ đại có Suối nước Gihon luôn chảy là nguồn nước chính của cư dân ở đó. Đây được gọi là “nước sống” vì trong dòng chảy liên tục của nó, nó sống động như thật và mang lại sự sống. Những con suối như vậy đã cung cấp cho dân Y-sơ-ra-ên một nguồn nước ngọt, trong lành. Nhưng khi các thành phố phát triển, nhu cầu về nước của họ thật sự cần phải đề cập đến. Nhu cầu này được đáp ứng bằng cách khoét các lỗ trên đá vôi và dẫn nước mưa vào các bể chứa trát vữa để sử dụng trong mùa khô kéo dài sáu tháng mỗi năm. Loại nước mưa này không ngọt và ngon như nước suối, đặc biệt khi có cặn hoặc tảo trong bể chứa. Nhưng vẫn còn hơn là không có nước!

Chúa đã sử dụng hình ảnh loại nước này khi khiển trách người Giu-đa trong Giê-rê-mi. 2:13. “Dân ta đã làm hai điều ác: Chúng nó đã lìa bỏ ta, là nguồn nước sống, mà tự đào lấy hồ, thật, hồ nứt ra, không chứa nước được.” Ở đây chúng ta khám phá ra rằng con người khao khát lẽ thật của Đức Chúa Trời, nhưng họ đang tìm kiếm sự thỏa mãn ở những nơi sai lầm. Họ tìm đến những “bể chứa” đầy bụi bặm và rạng nứt trong khi họ có thể tìm đến Nguồn nước sống làm nguôi cơn khát.

Hình ảnh về Đức Chúa Trời như một nguồn nước sống tâm linh và sự tươi mát đã cuối cùng được ứng nghiệm trong Chúa Giê-su. Ngài đã ban cho người nữ Sa-ma-ri “nước sự sống” (Giăng 4:10). Những ai uống từ giếng của Gia-cốp sẽ còn khát nữa, nhưng Chúa Giê-su phán, “Hễ ai…” (4:14). Chỉ có Chúa mới có thể làm dịu cơn khát thuộc linh của chúng ta và ban cho chúng ta sự sống đời đời.

Đó là lý do tại sao Chúa Giê-su nói về nhu cầu thuộc linh của chúng ta mà rằng, “Nếu người nào khát, hãy đến cùng ta mà uống” (7:37). Thật đáng lưu tâm rằng chương cuối cùng của Kinh Thánh chứa đựng lời mời mọi người hãy thỏa mãn cơn khát thuộc linh của họ trong Đấng Christ: “Ai khát, khá đến. Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không” (Khải huyền 22:17).

ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ CHỒNG CỦA CHÚNG TA

Leo Perdue đã chỉ ra rằng mối quan hệ hôn nhân được sử dụng như một “lăng kính thần học để hiểu về Đức Chúa Trời và dân Y-sơ-ra-ên.”6 Đức Chúa Trời được miêu tả là “mẹ” (Dân số ký 11:12; Phục truyền 32:18), người đã thụ thai và sinh ra Y-sơ-ra-ên; với tư cách là một “người cha” (Phục truyền 32:6; Ma-la-chi 2:10), người đã nuôi dưỡng và yêu thương con trai mình là Y-sơ-ra-ên; và với tư cách là “chồng”, người đã cưới Y-sơ-ra-ên làm vợ (Giê-rê-mi 2:2).

Hình ảnh Đức Chúa Trời là người chồng được áp dụng cho Y-sơ-ra-ên như một thể hiệp nhất. Đối với Y-sơ-ra-ên Đức Chúa Trời công bố, “Vì chồng ngươi tức là Đấng đã tạo thành ngươi; danh Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân” (Ê-sai 54:5). Hình ảnh Đức Chúa Trời là người chồng được Ê-xê-chi-ên giới thiệu trong lời tường thuật của ông về Y-sơ-ra-ên là một người vợ ngoại tình (Ê-xê-chi-ên 16). Trong trường hợp tương tự, Ê-xê-chi-ên nói về việc Đức Chúa Trời tìm thấy Y-sơ-ra-ên như một đứa trẻ thờ ơ, bị bỏ rơi và được dẫn đến với Ngài. Theo cách ví von đầy quyền năng của Ê-xê-chi-ên, khi dân Y-sơ-ra-ên trưởng thành, Đức Chúa Trời lập giao ước hôn nhân với dân Ngài. “Khi ta qua gần mầy, và nhìn mầy, nầy, tuổi mầy nầy, mầy đã đến tuổi yêu mến. Ta lấy áo ngoài ta trùm trên mầy, che sự trần truồng mầy. Phải, ta thề cùng mầy và kết giao ước với mầy, thì mầy trở nên của ta, Chúa Giê-hô-va phán vậy” (16:8).

Các nhà tiên tri đặc biệt thích hình ảnh Đức Chúa Trời là chồng của dân Ngài. Trong Giê-rê-mi, mối quan hệ hôn nhân đóng vai trò như một nỗi niềm để ăn năn. “Hỡi con cái bội nghịch, hãy trở về; vì ta là chồng ngươi” (Giê-rê-mi 3:14). Giê-rê-mi mô tả cách Y-sơ-ra-ên phá bỏ giao ước cũ, một sự vi phạm gây sốc hơn vì “dầu rằng ta làm chồng chúng nó” (31:32).

Trong lời quở trách mạnh mẽ đối với những kẻ thờ hình tượng đã vi phạm giao ước, Chúa  tuyên bố, “Hãy kiện mẹ các ngươi, hãy kiện đi; vì nó chẳng phải là vợ ta, còn ta chẳng phải là chồng nó! Nó hãy cất bỏ sự dâm loạn khỏi trước mặt nó, và sự ngoại tình khỏi giữa vú nó đi” (Ô-sê 2:2). Nhưng Ô-sê đã đoán trước sẽ đến một ngày hôn nhân của Đức Chúa Trời với dân Y-sơ-ra-ên sẽ được phục hồi và đổi mới. “Trong ngày đó ngươi sẽ gọi ta là: Chồng tôi; … ta sẽ cưới ngươi cho ta trong sự thành tín, và ngươi sẽ biết Đức Giê-hô-va” (2:16, 20).

Hình ảnh Đức Chúa Trời là chồng cũng xuất hiện trong Tân Ước, ở đây Đấng Christ được giới thiệu là Chàng rể hoặc Chồng của dân sự Ngài, tức là hội thánh (Ê-phê-sô 5:23-32). Khi mô tả sự trở lại được dự đoán trước của Đấng Christ, Giăng nói về “lễ [tiệc] cưới Chiên Con” và “tiệc cưới Chiên Con” (Khải huyền 19:7,9). Giăng cũng hình dung về Giê-ru-sa-lem Mới, nơi cư ngụ đời đời của dân Đức Chúa Trời, từ trời xuống “sửa soạn sẵn như một người vợ mới cưới trang sức cho chồng mình” (21:2).

Hình ảnh nầy về Đức Chúa Trời với tư cách là một người chồng, ấy là điều mang tính dạy dỗ. Là chồng, Đức Chúa Trời cung cấp và bảo vệ dân Ngài. Là chồng, Đức Chúa Trời yêu mến dân Ngài bằng một tình yêu đời đời. Với tư cách là người chồng, Đức Chúa Trời chia sẻ sự thân mật với dân Ngài. Là nàng dâu của Đức Chúa Trời, dân sự của Ngài phải trung thành với Ngài. Chúng ta không bao giờ được dành sự quan tâm hay tình cảm của mình cho người khác; chúng ta đừng bao giờ cho phép bất cứ điều gì chiếm vị trí của Đức Chúa Trời trong cuộc sống chúng ta. Là nàng dâu của Đức Chúa Trời, chúng ta phải giữ mình trong sạch về tâm hồn và thể xác. Chúng ta phải phục tùng sự chỉ dạy của Ngài, biết rằng các luật lệ của Ngài bắt nguồn từ tình yêu sâu sắc và bền vững của Ngài.

ĐỨC CHÚA TRỜI NGƯỜI TRỒNG NHO CỦA CHÚNG TA

Cây nho là hình ảnh quen thuộc của Y-sơ-ra-ên trong Thi thiên và các sách Tiên tri. (Thi thiên 80:8-16; Giê-rê-mi 5:10; 12:10; Ê-xê-chi-ên 15:1-8; Ô-sê 10:1). Đức Chúa Trời phán cùng dân sự Ngài, “Ta đã trồng ngươi như cây nho tốt, giống đều rặc cả; mà cớ sao ngươi đã đốc ra nhánh xấu của gốc nho lạ cho ta?” (Giê-rê-mi 2:21). Ê-sai đã viết một câu chuyện ngụ ngôn mô tả cách Đức Chúa Trời chuẩn bị một cánh đồng, trồng một vườn nho và mong đợi một mùa bội thu. Nhưng vườn nho chỉ sinh ra toàn trái nho hoang (Ê-sai 5:1-2). Đức Chúa Trời mong muốn vườn nho của Ngài — Y-sơ-ra-ên và Giu-đa — sinh hoa kết trái “công bình” và “ngay thẳng”, nhưng đến mùa Ngài gặt toàn là “đổ máu” và “những tiếng kêu than đau khổ” (5:7). Vì vậy, Đức Chúa Trời quyết định phá bỏ vườn nho hoang nầy. Dân sự Ngài có thể phải đón nhận giao ước rủa sả thay vì phước lành.

Hình ảnh của Đức Chúa Trời là Người Trồng nho cũng xuất hiện trong những lời dạy tương tự của Chúa Giê-su về thân cây nho và cành. Ngài phán, “Ta là gốc nho thật, Cha ta là người trồng nho” (Giăng 15:1). Chúa Giê-su là “cây nho thật” trái ngược với cây nho biến tính — dân Y-sơ-ra-ên vô tín. Từ “người trồng nho” (“người làm vườn”; theo nghĩa đen, “người lao động trên ruộng vườn”) đề cập đến việc một người nông dân chuẩn bị đất để trồng trọt. Sau đó, Chúa Giê-su mô tả hai loại “cành” và hai hành động được thực hiện bởi Người trồng nho. Ngài chặt bỏ những cành không trái (15:6) và Ngài tỉa sửa những cành có trái để chúng có thể sinh nhiều bông trái hơn nữa (15:2).

Chúng ta có thể học biết những gì về Đức Chúa Trời qua hình ảnh của người trồng nho? Sự thật cơ bản nhất là Đức Chúa Trời làm cho sinh hoa kết trái. Thật vô lý khi một người nông dân chuẩn bị đất và gieo hạt mà không mong muốn gì đến ra một vụ mùa. Đức Chúa Trời mong đợi những ai được kết hiệp với Ngài bởi đức tin cá nhân để sinh bông trái thuộc linh. Chúa Giê-su phán cùng các môn đệ Ngài, “ta đã chọn … để các ngươi đi và kết quả” (15:16).

Chúng ta cũng học được từ phân đoạn này rằng Đức Chúa Trời làm cho chúng ta “có kết quả”. Như đã nói, những cành có trái thì được cắt tỉa để chúng có thể sinh nhiều trái hơn (15:2). Qua việc trồng nho ở sân sau đem lại cho tôi một số hiểu biết về nhu cầu cắt tỉa cây nho. Mỗi năm vào mùa thu những cành già cỗi cần được loại bỏ để chuẩn bị cho các nhành non mới. Vào mùa xuân, cần tước bỏ các chồi non khỏi thân và các cành chính. Trong mùa hè, các cành nho tạo thành chùm phải được tỉa thưa và các chồi dài, vượt trội được ngắt bỏ. Khi người làm vườn cắt bỏ những gì có thể gây trở ngại đến việc sanh bông trái của cây nho, cũng vậy Đức Chúa Trời là Cha, qua kỷ luật yêu thương (thanh tẩy, gột rửa, làm cho sạch), loại bỏ những thứ không góp phần vào việc sinh bông trái thiêng liêng khỏi đời sống của các tín hữu. Trước giả Hê-bơ-rơ có thể đã nhận lấy sự bày tỏ này khi ông chỉ ra rằng Đức Chúa Trời sửa phạt con cái Ngài (Hê-bơ-rơ 12:6).

Một bài học khác có thể học được từ hình ảnh của Đức Chúa Trời với tư cách là Người trồng nho, ấy là Chúa hài lòng khi dân sự của Ngài sinh hoa kết trái. Chúa Giê-su phán, “Nầy, Cha ta sẽ được sáng danh là thể nào: Ấy là các ngươi được kết nhiều quả” (Giăng 15:8). Chúng ta không thể thêm gì vào các thuộc tính của Chúa. Nhưng chúng ta có thể tôn vinh Ngài, góp phần vào việc bày tỏ trước mọi người về sự vĩ đại và nhân từ của Ngài qua cách chúng ta sống và những việc chúng ta làm. Chúa Giê-su phán, “Sự sáng các người hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời” (Ma-thi-ơ 5:16).

 

 

 

10
Đức Chúa Trời Ba Ngôi

GẦN ĐÂY TÔI CÓ THAM DỰ đám cưới con trai của một đồng nghiệp tại Chủng viện Western. Khi buổi lễ bắt đầu, người chủ lễ thông báo cho bạn bè và những người thân rằng họ sắp chứng kiến lễ tuyên thệ một giao ước—giao ước hôn nhân. Những lời hứa nguyện sẽ được trao cho nhau, ràng buộc Bill và Julie bên nhau trọn đời. Nhưng không chỉ hội chúng sẽ chứng kiến sự khởi đầu của giao ước, mục sư chủ lễ giải thích. Những người có mặt cũng sẽ chứng kiến một phép lạ, vì trong hôn nhân, hai người thực sự trở thành một. Như Đức Chúa Trời đã phán, “Bởi vậy cho nên người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ nên một thịt” (Sáng thế ký 2:24). Mặc dù Bill và Julie sẽ vẫn duy trì cá tính và tính cách của riêng họ, nhưng thực tế theo lẽ mầu nhiệm trong Kinh Thánh – họ sẽ kết hiệp làm một không thể tách rời và trở thành một thực thể tâm linh.

Lẽ mầu nhiệm của sự kết hợp trong hôn nhân có thể dùng để minh họa một điều gì đó về Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Trong lễ cưới của họ, Bill và Julie đã thắp lên một ngọn nến hiệp nhất để biểu thị rằng hai người đang trở thành một trong hôn nhân. Theo một cách tương tự nhưng hoàn toàn độc đáo và đặc biệt, Đức Chúa Trời là Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh là một trong thần tánh. Họ là ba ngôi riêng biệt hợp nhất với nhau trong một Chúa Ba Ngôi.

Chương này xem xét tín lý về Chúa Ba Ngôi, hay ba thân vị, chú trọng vào những câu hỏi sau: Có cơ sở Kinh Thánh cho tín lý này không? Các Cơ đốc nhân có luôn đồng ý về Chúa Ba Ngôi không? Ý nghĩa thực tiễn của tín lý này là gì? Làm thế nào để sự nhận thức về tín lý Chúa Ba Ngôi có thể giúp chúng ta hiểu biết rõ hơn về Đức Chúa Trời hơn?

NỀN TẢNG KINH THÁNH VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI BA NGÔI

Từ Chúa Ba Ngôi, theo nghĩa đen có nghĩa là “trạng thái hoặc tính cách của ba thân vị”, có thể để lại ấn tượng rằng Cơ đốc nhân thờ phượng ba vị thần. Theo Charles Ryrie, Tôi thích từ Triunity hơn vì nó diễn tả cụ thể hơn những gì chúng ta tin về Đức Chúa Trời.1 Kinh Thánh dạy rằng trong Đức Chúa Trời Ba Ngôi, có ba thân vị riêng biệt – Cha, Con và Thánh Linh – một Chúa Ba Ngôi. Nhưng theo lẽ mầu nhiệm và siêu nhiên, cả ba hợp nhất — Đức Chúa Trời Ba Ngôi Hiệp Một.

Chứng Cứ của Sự Hiệp Nhất

Kinh Thánh tuyên bố khá dứt khoát rằng chỉ có một Đức Chúa Trời thật. Điều này được minh chứng trong kinh Shema, được đọc vào mỗi ngày Sa-bát trong các giáo đường Do Thái. “Hỡi Y-sơ-ra-ên! [‘s‘ma], Hãy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai” (Phục truyền 6:4). Đây là một tuyên bố mạnh mẽ về tính hiệp nhất và duy nhất của Đức Chúa Trời. Bản văn này đôi khi được trích dẫn để làm bằng chứng chống lại giáo lý về Chúa Ba Ngôi. Nhận xét về Phục truyền luật lệ ký 6:4, một nhà bình luận người Do Thái có nói, “Niềm tin rằng Đức Chúa Trời được kết hiệp từ một số thân vị, chẳng hạn như niềm tin Cơ đốc giáo vào Chúa Ba Ngôi, là một sự xuất phát từ quan niệm thuần túy về Sự Hiệp Nhất của Đức Chúa Trời.”2 Tuy nhiên, các nhà thần học bất đồng về việc liệu từ ehad trong tiếng Hê-bơ-rơ có ám chỉ đến sự hợp nhất của Đức Chúa Trời, sự độc nhất của Đức Chúa Trời, hay cả hai.3 Có lẽ ehad, có nghĩa là sự hợp nhất theo nghĩa ba ngôi vị của Chúa Ba Ngôi là một, bởi vì trong Sáng thế ký 2:24, cùng một từ tiếng Hê-bơ-rơ được sử dụng để chỉ A-đam và Ê-va là “một”, tức là hai ngôi vị riêng biệt được xem như một thể hiệp nhất. Mặt khác, Wolf gợi ý rằng cả bối cảnh rộng lớn của Phục truyền luật lệ ký và bối cảnh trước mắt của Phục truyền luật lệ ký 6:4 đều nhấn mạnh sự thật về sự duy nhất của Đức Chúa Trời và rằng dân Y-sơ-ra-ên có lòng trung thành với Ngài là một Đức Chúa Trời duy nhất (5:9; 6:5).4 Với điều này trong tâm trí, cụm từ “Giê-hô-va có một không hai” có thể được dịch là “Chỉ một mình Yahweh!”

Trong số tất cả các vị thần làm cho tuyển dân Y-sơ-ra-ên tập chú đến, bao gồm cả Asherah và Anath, Baal và Marduk, nhưng chỉ có một vị thần thực sự xứng đáng được thờ phượng – chỉ mình Đức Giê-hô-va!

Điều Răn thứ nhất trong Mười Điều Răn nhắc nhở dân Y-sơ-ra-ên rằng họ chỉ được thờ phượng một mình Đức Chúa Trời chân thật duy nhất (Xuất Ê-díp-tô 20:3; Phục truyền 5:7) Môi-se thay mặt dân sự Y-sơ-ra-ên nhắc nhở họ về công việc của Đức Chúa Trời, ông  nói: “Giê-hô-va, ấy là Đức Chúa Trời, chớ không ai khác hơn Ngài” (4:35). Tân Ước cũng rõ ràng khẳng định rằng “chỉ có một Đức Chúa Trời” (1 Cô-rinh-tô 8: 6; xem thêm Ê-phê-sô 4:4-6; Gia-cơ 2:19).

 

Chứng Cứ về Ba Thân Vị

Trong số các tôn giáo lớn trên thế giới, Cơ đốc giáo là tôn giáo duy nhất chấp nhận giáo lý về ba ngôi vị thánh trong một Chúa Ba Ngôi. Thần uy của ba ngôi vị này được chứng minh rõ ràng trong Kinh Thánh.5 Trước hết, Chúa Cha được gọi là Đức Chúa Trời (1 Cô-rinh-tô 8:6). Chúa Giê-su đã nhìn nhận Chúa Cha là Đức Chúa Trời. Ngài phán, “Hãy làm việc, chớ vì đồ ăn hay hư nát, nhưng vì đồ ăn còn lại đến sự sống đời đời, là thứ Con người sẽ ban cho các ngươi; vì ấy là Con, mà Cha, tức là chính Đức Chúa Trời, đã ghi ấn tín của mình” (Giăng 6:27). Phi-e-rơ cũng đề cập đến “Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha” (1 Phi-e-rơ 1:2).

Thứ nhì, Đức Chúa Con được gọi là Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 1:8). Trong Rô-ma 9:5, Phao-lô đề cập đến “Đấng Christ, là Đấng trên hết mọi sự, tức là Đức Chúa Trời đáng ngợi khen đời đời!” Là kẻ nghi ngờ đã nhìn thấy Chúa Giê-su phục sinh, Thô-ma thưa rằng: “Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi!” (Giăng 20:28). Những tuyên bố của Chúa Giê-su về sự toàn tri (Ma-thi-ơ 9: 4), sự toàn năng (28:18) và sự toàn tại (28:20) cho thấy Ngài là Đức Chúa Trời. Trong Giăng 8:58 Ngài công bố, “trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có ta!” Cụm từ “Ta là” (tiếng Hy Lạp, ego eimi) là một sự đề cập rõ ràng về Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha, Đấng đã xác định chính Ngài trong Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14 là “Ta là Đấng tự hữu hằng hữu.” (Xem thảo luận trong phần “Câu hỏi về Danh Đức Chúa Trời (Xuất Ê-díp-tô ký 3:13-15]” ở chương 3.) Những người Do Thái khi nghe Chúa Giê-su thừa nhận lời khẳng định rằng Ngài là Đức Chúa Trời thì nhặt đá để ném Ngài vì tội báng bổ (Giăng 8:59). Chúa Giê-su khẳng định sự bình đẳng của Ngài với Đức Chúa Trời bằng mà rằng, “Ta với Cha là một” (10:30). Bằng chứng thêm nữa về thần tính của Đấng Christ được chứng minh bằng các phép lạ của Ngài (20:30-31) và Ngài có quyền tha tội (Mác 2:1-12)—là những công việc mà chỉ Đức Chúa Trời mới có thể làm.

Thứ ba, Đức Thánh Linh được gọi là Đức Chúa Trời. Trong Công vụ 5:3-4, chúng ta được biết Phi-e-rơ quở trách A-na-nia là thể nào về sự lừa dối của ông về món tiền mà ông dâng cho hội thánh. “Hỡi A-na-nia, sao quỉ Sa-tan đã đầy dẫy lòng ngươi, đến nỗi ngươi nói dối cùng Đức Thánh Linh, mà bớt lại một phần giá ruộng đó?” Kế đến Phi-e-rơ nói thêm, “ấy chẳng phải ngươi nói dối loài người, bèn là nói dối Đức Chúa Trời.” Nói cách khác, nói dối Đức Thánh Linh cũng là nói dối Đức Chúa Trời. Đức Thánh Linh có các thuộc tính của Đức Chúa Trời, bao gồm toàn tri (1 Cô-rinh-tô 2:10), toàn năng (Gióp 33:4) và toàn tại (Thi 139:7). Thêm nhiều chứng cứ nữa về thần tính của Đức Thánh Linh được tìm thấy trong các công việc mà Ngài đã làm, bao gồm việc tái sanh (Tít 3:5), cầu thay (Rô-ma 8:26) và sự làm cho được nên thánh (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:13).

 

Chứng cứ của Chúa Ba Ngôi

Bằng chứng đầu tiên về Ba Ngôi của Đức Chúa Trời trong Tân Ước được thấy trong phép báp têm của Chúa Giê-su, khi Cha, Con và Thánh Linh đều có dự phần (Ma-thi-ơ 3:13-17). Khi Chúa Giê-su chịu Giăng làm phép báp têm cho mình, “Thánh Linh của Đức Chúa Trời” (3:16) ngự trên Ngài và Đức Chúa Cha từ trời phán rằng: “Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng” (3:17).

Chúa Giê-su phán bảo các sứ đồ của Ngài khiến mọi người trở nên môn đệ, làm báp têm cho những người mới tin “nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh” (28:19). Ba ngôi vị thánh được xác định — Cha, Con và Thánh Linh — nhưng Chúa Giê-su đã sử dụng từ “danh” (số ít) thay vì “danh” (số nhiều). Như vậy, Chúa Giê-su đã nhận biết Ba Ngôi của Đức Chúa Trời.

Trong lời chúc phước của Phao-lô trong 2 Cô-rinh-tô 13:13 thêm vào sự củng cố cho Ba Ngôi Đức Chúa Trời: “Nguyền xin ơn của Đức Chúa Jêsus Christ, sự yêu thương của Đức Chúa Trời, và sự giao thông của Đức Thánh Linh ở với anh em hết thảy.” Chỉ ba câu trước đó Phao-lô đã nói đến “Đức Chúa Trời sự yêu thương và sự bình an” (13:11). Phao-lô tin vào một Đức Chúa Trời duy nhất (1 Cô-rinh-tô 8:4), nhưng ông thừa nhận rằng các phước lành thiêng liêng đến từ Đức Chúa Trời là Cha, Đức Chúa Giê-su Christ và Đức Thánh Linh.

Phải chăng Ba Ngôi Đức Chúa Trời chỉ là một tín lý Tân Ước, hay chúng ta cũng tìm thấy chứng cứ cho điều đó trong Cựu Ước? Bằng chứng không được nêu trực tiếp hoặc rõ ràng, nhưng Ê-sai 48:16 có lẽ đề cập rõ ràng nhất về Chúa Ba Ngôi trong Cựu Ước. Ở đây Ê-sai đã ghi lại những lời của Đấng Cứu Thế với tư cách là Tôi tớ: “Các ngươi hãy đến gần ta, và nghe điều nầy: Từ lúc ban đầu ta chưa từng nói cách kín giấu. Vừa lúc có sự ấy, ta đã ở đó rồi. Vả, bây giờ, Chúa Giê-hô-va, và Thần của Ngài, sai ta đến.” Hãy để ý dòng cuối cùng – “CHÚA Giê-hô-va” (Đức Chúa Trời là Cha), “ta” (Đấng Cứu Thế), và “Thánh Linh của Ngài” (Đức Thánh Linh). Ba ngôi vị của Đức Chúa Trời Ba Ngôi được liên kết chặt chẽ trong mối quan hệ dường như là một mối quan hệ đồng đẳng, một Đức Chúa Trời Ba Ngôi. Trong một đoạn tương tự, Ê-sai đã cho biết rằng Đức Chúa Trời là Cha (“Chúa Giê-hô-va”) đã xức dầu cho Đấng Cứu Thế (“ta”) bằng Thánh Linh của Ngài (61:1).

Ở một phân đoạn Kinh Thánh khác, Ê-sai đã tiên báo về sự ra đời và cai trị vương quốc của Đấng Cứu Thế. “Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an” (9:5). Bằng cách gọi Đấng Cứu Thế là “Đức Chúa Trời quyền năng”, Ê-sai khẳng định rõ ràng thần tính của Đấng Christ. Khi tiên báo về sự ra đời của Đấng Cứu Thế tại Bết-lê-hem, tiên tri Mi-chê đã viết rằng “gốc tích của Ngài bởi từ đời xưa, từ trước vô cùng.” (Mi-chê 5:1,). Đây là bằng chứng cho sự hiện hữu và tính đời đời của Đấng Cứu Thế.

Cựu ước nói đến Thiên sứ của Chúa cũng hỗ trợ cho khái niệm nhiều thân vị trong một Chúa Ba Ngôi. Gia-cốp vật lộn với một “người”, một “thiên sứ” theo Ô-sê 12:4, người sau này được xác định là Đức Chúa Trời. Gia-cốp đặt tên cho nơi này là “Phê-ni-ên” (nghĩa đen là “mặt của Chúa”), vì ông nói, “Tôi đã thấy Đức Chúa Trời đối mặt cùng tôi” (Sáng Thế ký 32:30). Con “người” mà Gia-cốp đã vật lộn dường như là ngôi hai của Chúa Ba Ngôi, Chúa Giê-su Christ trước khi Ngài nhập thể. Trong một phân đoạn khác “người đã đến cùng tôi ngày nọ” (người của Chúa) được xác định là “Thiên sứ của Đức Giê-hô-va,” hiện đến với một cặp vợ chồng người Y-sơ-ra-ên để báo cho biết về sự ra đời của Sam-sôn (Các Quan Xét 13:3). Vào cuối cuộc gặp gỡ, Ma-nô-a, người chồng, kết luận, “Quả thật chúng ta sẽ chết, vì đã thấy Đức Chúa Trời!” (13:22). Một lần nữa chúng ta thấy bằng chứng cho thấy một “người đàn ông” được công nhận là thần linh. Đây là một minh chứng khác về Đấng Christ, ngôi thứ hai của Chúa Ba Ngôi, trước khi Ngài nhập thể. Những đề cập đến Thiên sứ của Chúa cho thấy có ít nhất có hai ngôi vị thánh đồng đẳng.5

Nhiều nhà thần học và nhà bình luận Cơ đốc đã thấy bằng chứng về Ba Ngôi của Đức Chúa Trời trong từ số nhiều chỉ Đức Chúa Trời, Elohim. Trong khi hình thức số nhiều của ‘El (“thần”) cho phép và phù hợp với sự mặc khải sau này về Chúa Ba Ngôi, nó không đòi hỏi sự thông giải này. Điều này có thể hiểu là hình thức số nhiều Elohim là một số nhiều chỉ về nhà vua nhấn mạnh sự đầy trọn bản tánh và thuộc tánh của Đức Chúa Trời. Chẳng hạn, những người bạn Do Thái của chúng ta nhận biết hình thức số nhiều nhưng không chấp nhận tín lý Chúa Ba Ngôi. Tuy nhiên, hình thức số nhiều được sử dụng để chỉ về Chúa Ba Ngôi, điều này được nói rõ ràng hơn trong sự mặc khải sau này.

Xem xét sự mặc khải của cả Tân ước và Cựu ước, chúng tôi kết luận rằng có bằng chứng Kinh Thánh mạnh mẽ cho Ba Ngôi của Đức Chúa Trời.6 Chỉ có một Đức Chúa Trời, nhưng trong sự hợp nhất của Chúa Ba Ngôi trong ba thân vị đồng đẳng và đời đời – Cha, Con và Thánh Linh.

Người ta vận dụng nhiều nỗ lực để minh tín lý về Chúa Ba Ngôi. Một số trong số này là hữu ích vì chúng cho phép chúng ta nhận ra những sự vật trong tự nhiên là ba trong một. Một quả trứng là ba trong một, có vỏ, lòng trắng và lòng đỏ. Các bộ phận khác nhau, nhưng tất cả đều tạo nên một quả trứng. Tuy nhiên, minh họa này không phù hợp vì các bộ phận của quả trứng không sở hữu các đặc tính hoặc “thuộc tính” của nhau. Ryrie sử dụng mặt trời để minh họa Chúa Ba Ngôi.7 Có ba phương diện khác biệt của mặt trời — quả cầu khí hydro phát nổ, ánh sáng phát ra từ khí đốt và năng lượng hay năng lượng bức xạ có thể làm nóng trái đất và làm cho mọi thứ phát triển. Bản thân mặt trời giống như Chúa Cha, ánh sáng giống như Chúa Con, và năng lượng giống như Đức Thánh Linh. Trên trái đất, chúng ta nhìn thấy ánh sáng của mặt trời, không phải chính mặt trời. Tuy nhiên, ánh sáng chiếu xuống trái đất sở hữu các đặc tính của mặt trời và cho chúng ta biết được một điều gì đó về bản chất của mặt trời. Năng lượng của mặt trời sở hữu những đặc tính của mặt trời nhưng lại riêng biệt với nó. Mặt trời, với ánh sáng và năng lượng của nó, có thể giúp một số người hiểu được tín lý rắc rối này về Chúa Ba Ngôi.

Những người theo đạo Cơ đốc ngày xưa đã sử dụng sơ đồ sau đây để minh họa Đức Chúa Trời Ba Ngôi. Nó giúp hình dung ý tưởng rằng các ngôi vị của Chúa Ba Ngôi là khác biệt, nhưng họ cùng chung trong một Đức Chúa Trời Ba Ngôi.

Chúng ta phải cẩn thận với những hình ảnh minh họa này vì chúng không hoàn hảo và không đủ để mô tả sự mầu nhiệm lớn lao của Đức Chúa Trời. Là tín đồ, chúng ta phải công nhận rằng Ba Ngôi của Đức Chúa Trời là một giáo lý chân chính trong Kinh Thánh. Nhưng đó là một khía cạnh của Đức Chúa Trời mà chúng ta sẽ không thể hiểu hết được khía cạnh này của thiên đàng. Ngay cả Phao-lô cũng thừa nhận rằng “chúng ta hiểu biết chưa trọn vẹn” (1 Cô-rinh-tô 13:9). Kế đến ông nói thêm, “Ngày nay chúng ta xem như trong một cái gương, cách mập mờ: Đến bấy giờ chúng ta sẽ thấy hai mặt đối nhau; ngày nay tôi biết chưa hết: Đến bấy giờ tôi sẽ biết như Chúa đã biết tôi vậy” (13:12). Ở thiên đàng chúng ta sẽ hiểu rõ hơn sự thật này. Nhưng ngày nay chúng ta xem tín lý về Chúa Ba Ngôi từ xa, như thể sử dụng ống nhòm trong sương mù. Bình luận của Bromiley rất hữu ích trong vấn đề này. Một người tin Chúa sẽ “không ngạc nhiên nếu một yếu tố bí ẩn vẫn tồn tại bất chấp những phân tích cuối cùng hoặc những điều chưa rõ ràng, vì chúng ta chỉ là một con người và Chúa là Đức Chúa Trời.”8 Một ngày nào đó chúng ta có thể hiểu tín lý này rõ hơn, nhưng ngay cả khi đó chúng ta cũng có thể không hiểu hết điều này.

PHẢI CHĂNG HỘI THÁNH LUÔN TÁN THÀNH?

Chúa Ba Ngôi là một chủ đề rất khó giảng giải, không có gì ngạc nhiên khi biết rằng giáo lý này đã trở thành chủ đề tranh luận trong nhà thờ. Tất nhiên, cuộc tranh luận tập trung vào mối quan hệ của Chúa Cha, Chúa Con, và Đức Thánh Linh với nhau.

Tín lý về Chúa Ba Ngôi nảy sinh từ nhu cầu của các Cơ đốc nhân để phân biệt Chúa Giê-su với Đức Chúa Trời, song đồng nhất Ngài với Đức Chúa Trời. Tertullian (vào khoảng 160-220), Nhà lý luận và nhà thần học Bắc Phi, là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Chúa Ba Ngôi” và bắt đầu trình bày một cách có hệ thống về tín lý này. Nhưng quan điểm của ông liên quan đến sự hạ thấp tầm quan trọng của Chúa Con đối với Chúa Cha. Origen (vào khoảng 185-254) tiến thêm một bước nữa, lập luận rằng Chúa Con là thuộc cấp của Chúa Cha về bản chất cơ bản của Ngài, và Đức Thánh Linh là thuộc cấp của Chúa Con.

Vào thế kỷ thứ hai, Theodotus xứ Byzantium đã trình bày chi tiết quan điểm rằng Chúa Giê-su chỉ là một con người đơn thuần, người chịu ảnh hưởng bởi quyền năng của Đức Thánh Linh khi Ngài chịu phép báp têm và sau đó được gọi là “Con Đức Chúa Trời.” Quan điểm này được gọi là “Chủ nghĩa quân chủ năng động” bởi vì điều này khẳng định “quyền tể trị duy nhất” (chế độ quân chủ) hoặc quyền tối cao của Đức Chúa Cha, nhưng vẫn công nhận “chức năng” thuộc linh của con người Giê-su.

Trong khi Chủ Nghĩa Quân Chủ Năng Động thực sự phủ nhận tín lý về Chúa Ba Ngôi, một hình thức khác của Chủ nghĩa quân chủ đã tìm cách khẳng định điều đó nhưng đã làm như vậy bằng cách hạ thấp các thân vị của Đức Chúa Trời Ba Ngôi với các phương thức hoặc biểu hiện khác nhau của một Đức Chúa Trời.

Chú thích:

Modalistic (modalism – hình thức thuyết)

Monarchianism (duy nhất thần thuyết)

Học thuyết Duy nhất thần hình thức (Modalistic Monarchianism) được thúc đẩy bởi Sabellius (chúng ta được biết đến qua các tác phẩm của Tertullian), người hoạt động ở Rome vào đầu thế kỷ thứ ba sau Công nguyên. Ông dạy rằng có một Đức Chúa Trời có thể được tôn vinh là Cha, Con hoặc Thánh Linh. Cách giải thích theo kiểu thể thức đối với sự mầu nhiệm của Chúa Ba Ngôi là cách thu nhỏ “ba ngôi” của Đức Chúa Trời thành những tên gọi, vai trò hoặc hoạt động khác nhau.

Sự nhầm lẫn liên quan đến Chúa Ba Ngôi cuối cùng đã tạo tiền đề cho những lời dạy của Arius (khoảng năm 250-336), một vị trưởng lão người Hy Lạp ở Alexandria, Ai Cập, người có lập luận một cách logic rằng nếu Chúa Cha sinh ra Chúa Con, thì đã có lúc Chúa Con chưa hiện hữu. Arius và những người theo ông đã phủ nhận thần tính trọn vẹn của Chúa Con bằng cách cho rằng Ngài là tạo vật đầu tiên của Chúa Cha, và Thánh Linh là tạo vật đầu tiên của Chúa Con.

Sự nhầm lẫn liên quan đến Chúa Ba Ngôi bắt đầu được giải quyết vào thế kỷ thứ tư. Năm 325, Hội đồng Nicaea được Hoàng đế Constantine triệu tập để đối phó với chủ nghĩa Arian,  vốn đe dọa sự thống nhất của giáo hội. Sau khi nghe những cáo buộc chống lại Arius, ba trăm giám mục có mặt đã tìm cách trình bày một thể thức bày tỏ quan điểm chính thống của Cơ đốc giáo. Tín điều của họ khẳng định rằng Chúa Giê-su Christ là “Con Đức Chúa Trời, sinh ra từ Cha, chỉ sinh ra, ấy là thực thể (ousia) của Cha, Thần của Đức Chúa Trời, Ánh sáng của Ánh sáng, Đức Chúa Trời thật của Đức Chúa Trời thật, không được tạo ra từ vật chất (homoousion) bởi Cha.” Thể thức nhấn mạnh rằng Chúa Cha và Chúa Con tồn tại khác biệt, mặc dù về cơ bản là một. Công đồng Constantinople, được triệu tập bởi hoàng đế La Mã Theodisius I vào năm 381, đã áp dụng từ khóa homoousia (“cùng thực thể”) với Thánh Linh. Bằng cách khẳng định rằng Đức Thánh Linh là “cùng thực thể” với Chúa Cha, thần tính đầy trọn của Đức Thánh Linh đã được khẳng định.

Thật không may, các quyết định của các hội đồng ban đầu này đã không giải quyết được vấn đề về Ba Ngôi của Đức Chúa Trời cho các Cơ đốc nhân ở mọi thời đại. Sự dạy dỗ sai lầm có xu hướng được lặp lại, và vào khoảng năm 550 Johannes Askunages và Johannes Philiponus cho rằng có ba thực thể thần thánh (ousiai) trong Chúa Ba Ngôi. Về cơ bản, họ lập luận rằng có ba vị thần chứ không phải ba thân vị trong Chúa Ba Ngôi. Những người theo thuyết nhất thể đã sai lầm khi coi Chúa Giê-su Christ như một con người đơn thuần và Đức Thánh Linh chỉ là một năng lực hoặc ảnh hưởng. Chứng Nhân Giê-hô-va và Người Mặc Môn có chung quan điểm dị giáo khi họ phủ nhận thần tính của Đấng Christ.

Ý NGHĨA THIẾT THỰC CỦA BA NGÔI ĐỨC CHÚA TRỜI

Giáo lý về Chúa Ba Ngôi không chỉ đơn thuần là một vấn đề để các nhà thần học suy ngẫm. Điều này còn có ý nghĩa thiết thực đối với việc hiểu các công việc của Đức Chúa Trời, sự cứu rỗi cá nhân của chúng ta và đời sống Cơ đốc.

Chúa Ba Ngôi trong sự sáng tạo

Kinh thánh bắt đầu với cụm từ, “Ban đầu Đức Chúa Trời [elohim] dựng nên trời đất” (Sáng thế ký 1:1). Đây là một lời giới thiệu chung về sự sáng tạo. Nghiên cứu sâu hơn chỉ ra rằng các thân vị của Chúa Ba Ngôi đã đóng những vai trò riêng biệt trong công cuộc lớn lao này. Đức Chúa Trời là Cha, “muôn vật bởi Ngài mà ra” (1 Cô-rinh-tô 8:6), đã dựng nên thế giới và mọi vật (Công vụ 17:24-26). Ngài là Kiến trúc sư có chủ quyền trên sự sáng tạo, là Đấng “đã định trước cho chúng ta được điều đó, theo mạng của Đấng làm mọi sự hiệp với ý quyết đoán” (Ê-phê-sô 1:11).

Đức Chúa Con đã thi hành mệnh lệnh của Đức Chúa Trời bằng cách thực hiện công việc tạo dựng. Giăng có chép “Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài” (Giăng 1:3). Điều này được khẳng định trong Cô-lô-se 1:16, “Vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài, … bởi Ngài và vì Ngài mà được dựng nên.”

Đức Thánh Linh cũng hoạt động trong việc sáng tạo. Sáng thế ký 1:2 ghi lại rằng “Thần Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước.” Tiếng Hê-bơ-rơ được dịch là “bay lượn” được sử dụng trong Phục truyền 32:11 về hình ảnh của một con đại bàng bay chung quanh con non của nó nhằm theo dõi và bảo vệ. Và vì vậy Đức Thánh Linh đã hoạt động tích cực trong việc sáng tạo, bay lượn trên nó, đảm bảo mọi sự diễn ra an toàn.

Chúa Ba Ngôi trong Sự Nhập thể

Ba Ngôi Đức Chúa Trời cũng được thể hiện rõ ràng trong sự nhập thể và sự sống của Chúa Giê-su Christ. Kinh thánh cho biết rằng Đức Chúa Trời là thần linh (Giăng 4:24) và vô hình (Cô-lô-se 1:15). Ngài không có thể chất, hình thể. Nhưng để cho mọi người biết đến Đức Chúa Trời, “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta” (Giăng 1:14). Trong thân vị của Chúa Giêsu Christ, Đức Chúa Trời đã mặc lấy hình thể con người và đến sống trên thế gian. Như Sứ đồ Giăng có chép, “Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời; chỉ Con một ở trong lòng Cha, là Đấng đã giãi bày Cha cho chúng ta biết” (1:18). Là ngôi Lời (logos, 1:1, 14), Đấng Christ dự phần sự thân mật cách sâu nhiệm nhất với Đức Chúa Cha và do đó có thể bày tỏ những lẽ thật sâu sắc về Chúa Cha. Chúa Giê-su, Ngôi Lời thiên thượng, được tỏ ra (exegeomai, “công bố” [NKJV] hay “giãi bày” [NASB] ) tính cách của Đức Chúa Trời. Do vậy Phao-lô chép rằng, “Chính Ngài [Giê-su] là hình ảnh [eikon] của Đức Chúa Trời không thấy được” (Cô-lô-se 1:15). Từ eikon được sử dụng trong thời xưa để chỉ hình ảnh hoàng đế trên đồng xu. Hầu hết người La Mã chưa bao giờ nhìn thấy hoàng đế, nhưng họ biết ông ấy từ hình ảnh trên đồng tiền của họ. Cũng vậy đối với Đức Chúa Trời. Trong sự nhập thể của Chúa Giê-su Christ, loài người đã có được cái nhìn thoáng qua về Đức Chúa Trời là Cha. Như Chúa Giê-su đã phán, “Ai đã thấy ta, tức là đã thấy Cha”  (Giăng 14:9).

Giăng đã sử dụng cụm từ “chỉ Con một ở trong lòng Cha” (1:18) để mô tả mối quan hệ của Chúa Giê-su với Đức Chúa Trời. Bản dịch theo (NASB), “con một từ Cha” đã dẫn đến sự nhầm lẫn về mối quan hệ giữa Cha và Con trong Ba Ngôi. Nếu Chúa Con được “sinh ra”, thì làm sao Ngài có thể hiện hữu đời đời và đồng đẳng với Chúa Cha? Để giải quyết song đề này, các nhà thần học đã lập luận rằng Chúa Giê-su “được sinh ra từ trước vô cùng” và do đó không có sự khởi đầu. Tôi tin rằng có một cách giải thích hợp lý hơn.

Có một số tranh luận về việc cụm từ trong tiếng Hy Lạp được dịch là “con một” (monogenes) có nguồn gốc từ gennao (“được sinh ra”) hay genos (“thực thể”). Tiền tố mono nghĩa là “một.” Chúa Giê-su hoặc là “con một” hoặc “một thực thể”. Từ monogenes cũng được sử dụng đối với Y-sác (Hê-bơ-rơ 11:17), người không phải là trai một của Áp-ra-ham (Sáng thế ký 16:15-16), nhưng ấy là “một thực thể” con trai theo lời hứa của ông. Sức nặng của bằng chứng ngôn ngữ cho thấy Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời “duy nhất” hay “độc nhất vô nhị”.9 Bản NIV dịch thành, “Con Một” trong Giăng 1:14 (cũng như 3:16) có thể chinh phục quan điểm này. Đức Thánh Linh dự phần như thế nào trong sự nhập thể của Đấng Christ? Ma-thi-ơ tường thuật lại rằng Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã ngự đến trên Ngài khi Ngài chịu phép báp têm. (Ma-thi-ơ 3:16). Phi-e-rơ đã chỉ ra tầm quan trọng của sự kiện này trong bài giảng luận của ông với Cọt-nây khi ông giảng giải rằng “Đức Chúa Trời đã xức cho Đức Chúa Jêsus ở Na-xa-rét bằng Đức Thánh Linh và quyền phép” (Công vụ 10:38; xem Ê-sai 61:1). Chúa Giê-su phán rằng Ngài đã làm những công việc phi thường “bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời” (Ma-thi-ơ 12:28). Tất cả điều này cho thấy rằng Chúa Giê-su đã thực hiện chức vụ nhập thể của Ngài bởi quyền năng của Đức Thánh Linh.

Ba ngôi trong công cuộc cứu rỗi

Ba Ngôi của Đức Chúa Trời rất rõ ràng trong các bản văn Kinh thánh giãi bày sự cứu rỗi của người tin Chúa. Trong phần giới thiệu thư tín đầu tiên của mình, Phi-e-rơ đã đề cập đến những người “theo sự biết trước của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha, và được nên thánh bởi Đức Thánh Linh, đặng vâng phục Đức Chúa Jêsus Christ và có phần trong sự rải huyết Ngài: nguyền xin ân điển và bình an thêm lên cho anh em” (1 Phi-e-rơ 1:2). Ở đây chúng ta nhận thấy rằng mỗi thân vị trong Chúa Ba Ngôi có một vai trò riêng biệt: Chúa Cha chọn, Chúa Con cứu chuộc, và Thánh Linh làm cho nên thánh.

Sự khác biệt này về các vai trò trong sự cứu rỗi người tin Chúa cũng được thấy rõ ở Ê-phê-sô. Đức Chúa Trời là Cha đã “chọn” và “định trước” chúng ta (Ê-phê-sô 1:4-5). Trong Đức Chúa Con “Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài” (1:7). Đức Thánh Linh có vai trò quan trọng trong việc bắt phục những người không tin “Khi Ngài đến thì sẽ khiến thế gian tự cáo về tội lỗi, về sự công bình và về sự phán xét” (Giăng 16:8). Khi một người đến với Đấng Christ bởi đức tin, người ấy được “ấn chứng bằng Đức Thánh Linh là Đấng Chúa đã hứa, Đấng ấy làm của cầm về cơ nghiệp chúng ta” (Ê-phê-sô 1:13-14). Ngày xưa, con dấu được sử dụng như một dấu hiệu nhận biết, thể hiện quyền sở hữu hợp pháp đối với vật được đóng ấn. Và do đó, chức vụ được ấn chứng của Thánh Linh đánh dấu các tín đồ là sự chứng nhận của chính Đức Chúa Trời, bảo đảm sự an ninh cho họ đến đời đời.

Ba Ngôi trong Sự Khải Thị

Ba Ngôi của Đức Chúa Trời được bày tỏ một cách đầy uy nghi trong quá trình bày tỏ lẽ thật thiêng liêng. Đức Chúa Trời là nguồn của sự mặc khải thiêng liêng (2 Phi-e-rơ 1:21; Khải huyền 1:1). Phao-lô chép rằng “Cả Kinh thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn” (2 Ti-mô-thê 3:16). Từ “soi dẫn” (theopnieustos) theo nghĩa đen “Đức Chúa Trời hà hơi,” theo bản Kinh thánh NIV (New International Version). Cả Kinh thánh đều đến từ Đức Chúa Trời như là “ hơi thở” của lẽ thật và sự mặc khải thiêng liêng của Ngài. Đức Chúa Con là chủ đề của sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su cho biết rõ điều này khi Ngài phán cùng các môn đồ, “Đoạn, Ngài phán rằng: Ấy đó là điều mà khi ta còn ở với các ngươi, ta bảo các ngươi rằng mọi sự đã chép về ta trong luật pháp Môi-se, các sách tiên tri, cùng các thi thiên phải được ứng nghiệm” (Lu-ca 24;44). “Sự mặc thị của Đức Chúa Jêsus Christ” (Khải huyền 1:1) là sự mặc thị về Chúa Giê-su Christ. Chúa Giê-su là chủ đề và nhân vật trung tâm của mọi mặc khải tiên tri.

Đức Thánh Linh cũng có một vai trò quan trọng trong việc mặc khải của Đức Chúa Trời. Thánh Linh là tác nhân tích cực về sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Phi-e-rơ nói rằng khi người ta viết Kinh thánh, họ “bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời” (2 Phi-e-rơ 1:21 ). Nói về Thánh Linh, Chúa Giê-su phán cùng các sứ đồ rằng, “Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi điều mình đã nghe, và tỏ bày cho các ngươi những sự sẽ đến.  Ấy chính Ngài sẽ làm sáng danh ta, vì Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi” (Giăng 16:13-14). Những gì Đức Chúa Trời đã tỏ cho các sứ đồ đầu tiên, Ngài đã bày tỏ “bởi Đức Thánh Linh Ngài”  (1 Cô-rinh-tô 2:10).

Ba Ngôi trong Sự Cầu Nguyện

Một áp dụng thực tế của Chúa Ba Ngôi được thể hiện rõ ràng trong sự hướng dẫn của Kinh thánh về sự cầu nguyện. Mặc dù Đức Chúa Trời là một bản thể thiêng liêng, nhưng Ngài cũng gồm ba thân vị. Chúng ta nên trình dâng sự cầu nguyện của mình lên thân vị nào trong số những thân vị này?

Trong Bài giảng trên núi, Chúa Giê-su đã hướng dẫn các môn đồ cầu nguyện với Chúa Cha. “Vậy, các ngươi hãy cầu như vầy: Lạy Cha chúng tôi ở trên trời; Danh Cha được thánh” (Ma-thi-ơ 6:9). Sau đó, trong bài giảng tại Phòng Cao, Chúa Giê-su dạy các môn đồ cầu nguyện “nhân danh Chúa Giê-su”. Ngài phán, “Trong ngày đó, các ngươi không còn hỏi ta về điều chi nữa. Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, điều chi các ngươi sẽ cầu xin nơi Cha, thì Ngài sẽ nhân danh ta mà ban cho các ngươi. Đến bây giờ, các ngươi chưa từng nhân danh ta mà cầu xin điều chi hết. Hãy cầu xin đi, các ngươi sẽ được, hầu cho sự vui mừng các ngươi được trọn vẹn” (Giăng 16:23-24). Lời cầu nguyện của Cơ đốc nhân bao gồm việc cầu xin Chúa Cha trên nhờ vào sự xứng đáng, ảnh hưởng và danh tiếng của Đức Chúa Con (danh”). Tất nhiên, những lời cầu nguyện của chúng ta cũng có thể được trình dâng lên Chúa Giê-su, như được thấy trong Giăng 14:14, “Nếu các ngươi nhân danh ta xin điều chi, ta sẽ làm cho.”

Đức Thánh Linh tham dự phần vào sự tương giao của chúng ta với Đức Chúa Trời qua lời cầu nguyện như thế nào? Phao-lô chép rằng Thánh Linh giúp chúng ta cầu nguyện khi chúng ta yếu đuối hoặc không biết cầu nguyện như thế nào. Mẹ tôi đã trải qua điều này trong vài tháng sau cái chết đột ngột của người anh mười lăm tuổi của tôi. Trong những lúc khó khăn như vậy, “Cũng một lẽ ấy, Đức Thánh Linh giúp cho sự yếu đuối chúng ta. Vì chúng ta chẳng biết sự mình phải xin đặng cầu nguyện cho xứng đáng; nhưng chính Đức Thánh Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta. Đấng dò xét lòng người hiểu biết ý tưởng của Thánh Linh là thể nào, vì ấy là theo ý Đức Chúa Trời mà Ngài cầu thế cho các thánh đồ vậy” (Rô-ma 8:26-27). Khi chúng ta không thể cầu nguyện hoặc không biết cách cầu nguyện, Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời dò xét tấm lòng chúng ta và cất tiếng rên rỉ thay cho chúng ta trước Đức Chúa Trời là Đấng giàu lòng trắc ẩn và luôn quan tâm đến chúng ta.

Biết Đức Chúa Trời Rõ Hơn

Một nghiên cứu về Ba Ngôi Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ giúp chúng ta biết Ngài rõ hơn. Chúng ta học biết rằng Đức Chúa Trời là một, không phải nhiều. Nhưng Ngài cũng là ba thân vị thiêng liêng — Cha, Con và Thánh Linh. Trong khi điều nầy có vẻ mâu thuẫn từ góc độ lý trí của con người, mâu thuẫn không những hiển nhiên, không thực. Bởi đức tin, chúng ta chấp nhận sự mầu nhiệm lớn lao về Ba Ngôi của Đức Chúa Trời là một lẽ thật trong Kinh thánh. Đức Chúa Cha đã sai Con Ngài đến thế gian để chúng ta có thể nhận biết Đức Chúa Trời qua công việc bắt phục và tái sinh của Đức Thánh Linh. Ngoài lẽ thật nền tảng này, chúng ta không có cơ sở nào để biết Đức Chúa Trời, càng không thể biết Ngài rõ hơn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

11

Nguyên Chỉ (Sắc Lệnh) Của Đức Chúa Trời

 

NĂM 1994, tôi được phép nghỉ hè giành cho giảng viên đại học khi giảng dạy tại Chủng viện Western. Tôi đã chọn dành thời gian ở Y-sơ-ra-ên để làm giàu thêm kiến thức căn bản của mình với tư cách là một giáo viên dạy Kinh Thánh. Kỳ nghỉ hè này bao gồm nhiều hoạt động, tất cả đều phải được sắp xếp từ trước, tôi dự định dành ba tuần đầu tiên của mùa hè với một nhóm sinh viên của mình, giới thiệu cho họ về vùng đất của Kinh Thánh. Hai tuần tiếp theo, tôi sẽ tham gia vào một cuộc khai quật khảo cổ tại Bethsaida, gần Biển Galilee. Từ đó tôi lên kế hoạch thuê một chiếc xe hơi và đến Tel-Aviv để gặp gia đình. Chúng tôi sẽ dành bốn tuần tiếp theo cùng nhau đi thăm các địa điểm trong kinh thánh và các cuộc khai quật khảo cổ học. Tôi rất mong được trở thành hướng dẫn viên du lịch riêng cho gia đình tôi! Sau khi gia đình tôi trở về nhà, tôi dự định dành một tuần để nghiên cứu khảo cổ học ở Jerusalem, tiếp theo là hai tuần khai quật tại Tell Jezreel.

Trước khi đi nghỉ phép, tôi đã viết ra kế hoạch về một hành trình đầy đủ cho mùa hè với ngày tháng và địa chỉ của những nơi tôi sẽ đến. Đó là một kế hoạch khá toàn diện! Và ngoại trừ một số điều chỉnh do lỗi của con người, tôi đã có thể thực hiện hành trình đã định.

Lên kế hoạch cho cả một mùa hè học tập và du lịch là một thách thức. Nhưng tầm quan trọng của một thành quả như vậy bị giảm đi rất nhiều khi so sánh với kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời. Không thể tin được vì có vẻ như, Đức Chúa Trời có một kế hoạch cho vũ trụ này và tất cả các tạo vật bên trong nó. Kế hoạch này bắt đầu trong quá khứ vô hạn và tiếp tục ở tương lai vô hạn. Đây là một kế hoạch toàn diện và đầy đủ, được thiết kế để mang lại vinh quang cho Đức Chúa Trời.

Trong chương này, chúng ta sẽ hiểu biết Đức Chúa Trời nhiều hơn bằng cách nghiên cứu kế hoạch của Ngài cho mọi thời đại. Chúng ta sẽ khám phá xem mỗi người trong chúng ta phù hợp với kế hoạch của Đức Chúa Trời như thế nào. Chúng ta cũng sẽ khám phá ra rằng kế hoạch của Đức Chúa Trời không thể bị thay đổi hoặc thất bại như một số kế hoạch của tôi trong kỳ nghỉ hè. Hãy cùng khám phá xem kế hoạch dành cho các thời đại này đòi hỏi những gì và nó liên quan đến chúng ta như thế nào.

 

KẾ HOẠCH TỐI HẬU CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Kinh Thánh bày tỏ rằng Đức Chúa Trời có một kế hoạch tối thượng và toàn diện cho toàn bộ sự sáng tạo của Ngài, một kế hoạch mà Ngài đã thiết lập trong cõi đời đời. Kế hoạch này được các nhà thần học gọi là sắc lệnh của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh sử dụng từ sắc lệnh để chỉ các quyết định hoặc phán quyết tối cao của những người cai trị trên đất. Vua Si-ru đã ban hành một sắc lệnh liên quan đến việc xây dựng lại đền thờ Giê-ru-sa-lem (Era. 6:3).

Sau đó vua Đa-ri-út đã ban hành một sắc lệnh xác nhận quyết định này (6:12). Vua A-suê-ru đã ban hành một sắc lệnh cho phép tiêu diệt người Do Thái trên khắp Ba Tư (Êtê. 3:13). Vua Ạt-ta-xét-xe đã ban hành một sắc lệnh cấp cho E-xơ-ra thẩm quyền được sấp xếp các chức vụ trong đền thờ (Era. 7:13). Mỗi sắc lệnh này là một quyết định của nhà vua, do người có thẩm quyền ban hành.

Tuy nhiên, mặc dù có thể tạo ra một sự tương tự giữa sắc lệnh của Đức Chúa Trời và những sắc lệnh được ban hành bởi những nhà cai trị con người, nhưng có một sự khác biệt quan trọng. Các sắc lệnh của những nhà cai trị con người bị giới hạn bởi quyền lực của các vị vua và sự sẵn sàng tuân theo của thần dân. Kế hoạch của con người thay đổi. Những sắc lệnh của vua có thể được sửa đổi. Nhưng sắc lệnh của Đức Chúa Trời là tuyệt đối, bất khả xâm phạm và không thể thay đổi. Sắc lệnh của Đức Chúa Trời có sự hỗ trợ của quyền năng vô hạn của Ngài. Bởi vì Ngài là Đức Chúa Trời, những gì Ngài ra lệnh thì sẽ được hoàn thành.

Sắc lệnh của Đức Chúa Trời có thể được định nghĩa là “mục đích đời đời của Ngài, theo dự định của ý muốn Ngài. Theo đó, vì sự vinh hiển của chính Ngài, mà Ngài đã định trước bất cứ điều gì sẽ xảy ra.”1 Hay nói thêm! đơn giản, sắc lệnh của Đức Chúa Trời là “quyết định đời đời của Ngài làm cho mọi điều chắc chắn sẽ xảy ra.”2

 

KINH THÁNH DẠY GÌ VỀ SẮC LỆNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Cả Cựu Ước và Tân Ước đều bày tỏ về lịch sử thế giới, bao gồm các sự kiện trong cuộc sống của chúng ta, đang được thực hiện theo sắc lệnh của Đức Chúa Trời.

 

Lời Dạy Của Cựu Ước

Trước giả Thi Thiên đã viết về “sắc lệnh của Chúa” về Con của Ngài (Thi. 2:7). Đề cập đến sự sáng tạo của Đức Chúa Trời, trước giả Thi Thiên viết, “Ngài đã ban một sắc lệnh (định luật) không bao giờ qua đi” (148:6). Theo  tiên tri Giê-rê-mi, Đức Chúa Trời đã đặt ngay cả ranh giới của biển bằng một sắc lệnh đời đời: “Vì ta đã đặt cát làm ranh giới cho biển, một sắc lệnh đời đời, nên nó không thể vượt qua đó” (Giê. 5:22, NASR). Không giống như các quyết định của con người sắc lệnh của Đức Chúa Trời được xác định vĩnh viễn và áp dụng cho mọi thời đại. Ê-sai đã bày tỏ rằng Đức Chúa Trời đã lên “kế hoạch từ trước” để sử dụng Vua San-chê-ríp người A-si-ri làm đại diện của Ngài phán xét nghịch lại Giê-ru-sa-lem (Êsai. 37:26). Việc chống lại kế hoạch của Đức Chúa Trời là vô ích được thể hiện rõ ràng trong lời của Ê-sai, “Vì Ðức Giê-hô-va vạn quân đã toan định, thì ai bãi đi được? Tay Ngài đã giang ra, thì ai day lại được?” (14:27).

Sự phán xét đến với Nê-bu-cát-nết-sa là theo “sắc lệnh của Đấng Tối Cao” (Đa 4:24). Sắc lệnh của Đức Chúa Trời là lời tiên tri có cơ sở. Đức Chúa Trời đã phán với Đa-ni-ên rằng: “Bảy mươi tuần lễ định trên dân ngươi và thành thánh ngươi” (9:24). Sau đó, ông phác thảo những sự kiện chính của thời kỳ đó, bao gồm sự giáng sinh của Đấng Mê-si, sự đóng đinh của Ngài, sự tàn phá của Giê-ru-sa-lem, các sự kiện của Đại nạn và sự hủy diệt Antichrist (9:24-27). Khi đề cập đến các hoạt động của Antichrist, Đa-ni-ên viết, “Người sẽ được may mắn cho đến khi cơn thạnh nộ Chúa được trọn, bởi vì điều gì đã có chỉ định [đó là “sắc lệnh”] thì phải ứng nghiệm” (11:36).

Sắc lệnh của Đức Chúa Trời được thể hiện rõ ràng trong những lời nổi tiếng của sáchTruyền Đạo, “Phàm sự gì có thì tiết; mọi việc dưới trời có kỳ định. Có kỳ sanh ra, và có kỳ chết; có kỳ trồng, và có kỳ nhổ vật đã trồng” (Truyền. 3:1-2). Vấn đề không phải là có thời kỳ thích hợp cho những sự kiện này, mà là có thời kỳ được chỉ định thiêng liêng. Đó là, mọi thứ đều phù hợp với kế hoạch của Đức Chúa Trời. Sa-lô-môn viết, “CHÚA đã dựng nên muôn vật để dùng cho Ngài; Ðến đỗi kẻ ác cũng vậy, để dành cho ngày tai họa” (Châm. 16:4).

Lời Dạy Của Tân Ước

Các tác phẩm Tân Ước giúp chúng ta hiểu biết hơn về sắc lệnh của Đức Chúa Trời. Mặc dù Tân Ước không sử dụng từ sắc lệnh cho kế hoạch tối thượng của Đức Chúa Trời, nhưng các từ quan trọng khác được giới thiệu. Trong các sách Phúc Âm, sắc lệnh của Đức Chúa Trời được bày tỏ qua sự ứng nghiệm của lời tiên tri. Đây là điều đặc biệt nổi bật trong Ma-thi-ơ. Sự ra đời đồng trinh của Chúa Giê-su “diễn ra để ứng nghiệm những gì Chúa đã phán qua nhà tiên tri” (Mat. 1:22; xin xem Êsai. 7:14) Ma-thi-ơ chỉ ra rằng nơi sinh của Ngài đã được xác định trước và đã được công bố bởi nhà tiên tri Mi-chê (Mat. 2:5-6; Mi. 5:2). Việc tàn sát trẻ em tại Bết-lê-hem (Mat. 2:16-18), chức vụ của Giăng Báp-tít (3:1-3), vị trí chức vụ của Đấng Christ ở Ga-li-lê (4:12-16). và các phép lạ của Ngài (8:16-17)—tất cả những điều này đã hoàn thành mệnh lệnh của Đức Chúa Trời bằng cách ứng nghiệm lời tiên tri. Trong bài giảng trên núi, Chúa Giê-su nói về sự phán xét hầu đến trên Giê-ru-sa-lem sẽ xảy ra “để ứng nghiệm tất cả những gì đã xảy ra” (Lu. 21:22). Và sự phản bội Ngài sẽ xảy ra “như nó đã được chỉ định” (22:22).

Các sứ đồ đã nhận ra sắc lệnh của Đức Chúa Trời trong các biến cố của cuộc đời Đấng Christ. Trong bài giảng vào Ngày Lễ Ngũ Tuần, Phi-e-rơ làm chứng rằng Chúa Giê-su đã bị nộp và đóng đinh “theo ý định và sự biết trước của Đức Chúa Trời” (Công. 2:23). Trong lời cầu nguyện của mình, các sứ đồ nhận ra rằng Đức Chúa Trời đã chỉ định cho Hê-rốt, Bôn-sơ Phi-lát, các dân ngoại và dân Do Thái để “thực hiện theo quyền năng và ý định của Ngài đã định trước sẽ xảy ra” (4:28).

Trong các bài giảng và bài viết của Phao-lô, tín lý về sắc lệnh của Đức Chúa Trời được trình bày cặn kẽ nhất. Trong bài giảng cho người A-thên, Phao-lô thừa nhận rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên mọi dân tộc, “xác định thời gian dành cho họ và chính xác những nơi họ sẽ sống” (17:26). Tất cả công tác cứu chuộc của Đức Chúa Trời là theo kế hoạch thiêng liêng của Ngài, mà Ngài đã sai Con Ngài ra đến đúng thời điểm (Ga. 4:4). Dân Y-sơ-ra-ên không tin và từ chối Đấng Mê-si của họ đã được báo trước bởi tiên tri (Rô. 11:7-10; Thi. 69:22-23; Êsai. 29:10), và việc đưa dân ngoại vào kế hoạch của Đức Chúa Trời đã được dự đoán trong giao ước của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham (Ga. 3:8; Sáng. 12:3). Những người tin vào Đấng Christ chọn “trước khi tạo dựng thế gian” và được “tiền định…. để ngợi khen về ân điển vinh hiển của Ngài” (Êph. 1:4-6). “Vì những kẻ Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài” (Rô. 8:29). Trong một tuyên bố khá bao quát, Phao-lô khẳng định rằng Đức Chúa Trời làm mọi việc “theo ý muốn của Ngài” (Êph. 1:11, NASB). Ở những nơi khác, Phao-lô thừa nhận rằng “Đức Chúa Trời khiến mọi sự hiệp lại làm ích cho những ai yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho những ai được gọi theo ý định của Ngài” (Rô. 8:28, NASB).

 

 

ĐẶC ĐIỂM CHÍNH YẾU CỦA SẮC LỆNH ĐỨC CHÚA TRỜI

 

Có thể nói gì về sắc lệnh của Đức Chúa Trời qua một bản tóm tắt có hệ thống? Năm điểm sau đây cần được lưu ý.

Thứ nhất, sắc lệnh của Đức Chúa Trời đã được ấn định trong cõi đời đời nhưng được thi hành đúng thời điểm. Như đã lưu ý trước đó, Giê-rê-mi đã dùng từ “đời đời” để mô tả sắc lệnh của Đức Chúa Trời (Giê. 5:22), và Phao-lô viết rằng những người tin Chúa đã được Đức Chúa Trời chọn “trước khi sáng thế” (Êph. 1:4). có nghĩa là “từ muôn đời” kể cả đến quá khứ đời đời. Phi-e-rơ đã dùng chính cụm từ này để chỉ Chúa Giê-su, người đã được “chọn trước khi sáng thế.” Sau đó, Phi-e-rơ nói thêm “Ngài được bày tỏ trong cuối các thời kỳ vì cớ anh em” (1 Phi. 1:20). Kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho Đấng Christ đã được ấn định trong cõi đời đời nhưng được thực hiện vào một thời điểm cụ thể. Điều này cũng đúng với sự kêu gọi và sự cứu rỗi của các tín đồ: Đức Chúa Trời đã gọi chúng ta “trước buổi sáng thế” nhưng “đã cứu chúng ta” vào một thời điểm cụ thể (2 Ti. 1:9).

Thứ hai, sắc lệnh của Đức Chúa Trời là toàn diện. Một trong những điều tôi phát hiện ra trong kỳ nghỉ hè năm 1994 ở Y-sơ-ra-ên là trong khi kế hoạch của tôi là toàn diện, nhưng nó không bao gồm toàn bộ. Có một số vấn đề quan trọng mà tôi đã bỏ qua khi lập kế hoạch. Đối với kế hoạch của Đức Chúa Trời thì không phải như vậy. Theo Kinh Thánh, không có gì nằm ngoài kế hoạch của Đức Chúa Trời. Khi Phao-lô viết rằng Đức Chúa Trời “làm mọi sự theo ý muốn Ngài” (Êph. 1:11, NASB), ông ngụ ý rõ ràng không có gì bị bỏ sót hoặc để lại ngẫu nhiên. Không có gì xảy đến với đời sống của chúng ta mà không nằm trong kế hoạch của Đức Chúa Trời.

Thứ ba, sắc lệnh của Đức Chúa Trời là một kế hoạch tốt lành và khôn ngoan. Bởi vì Đức Chúa Trời là tốt lành (Na. 1:7), chúng ta tin chắc rằng Đức Chúa Trời làm mọi việc “vì sự tốt lành” theo ý Ngài (Rô. 8:28). Bởi vì Đức Chúa Trời là khôn ngoan (16:27), kế hoạch của Ngài là đan kết những sự kiện khá xa vời và dường như không liên quan lại với nhau thành một tổng thể hài hòa. Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời được thể hiện rõ qua việc Chúa Giê-su Christ bị đóng đinh. (1 Cô. 1:23-24) và trong việc hợp nhất những người Do Thái và dân ngoại tin vào trong một thân thể Đấng Christ (Êph. 3:6-10). Sau khi suy ngẫm về sự mầu nhiệm sâu xa trong kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho dân Y-sơ-ra-ên (Rô. 9-11), Phao-lô đã kết thúc bài luận bằng một câu nói đầy sự ca ngợi về sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời trong mọi sự: “Ôi! sâu nhiệm thay là sự giàu có, khôn ngoan và thông biết của Ðức Chúa Trời! Sự phán xét của Ngài nào ai thấu được, đường nẻo của Ngài nào ai hiểu được!” (11:33).

Thứ tư, sắc lệnh của Đức Chúa Trời là ý định tối hậu để mang lại vinh quang cho Ngài. Tất cả những gì Đức Chúa Trời tạo ra và làm ra đều nhằm mục đích tôn vinh các thuộc tính của Ngài để mọi người ca tụng Ngài. Vũ trụ vật chất được tạo ra để bày tỏ sự vinh hiển của Ngài (Thi. 19:1), và loài người được tạo ra để làm vinh hiển Ngài (Êsai. 43:7). Sự lựa chọn và tiền định của Ngài đối với các tín đồ nhằm ca ngợi ân điển vinh hiển Ngài “(Êph. 1:4-6). Các tín đồ được hướng dẫn để sống đời sống của họ sao cho họ được vinh hiển Đức Chúa Trời (Mat. 5:16; 1 Cô. 10:31). Ngay cả việc sử dụng các ân tứ thuộc linh của bạn với tư cách là tín đồ để “trong mọi sự Đức Chúa Trời được tôn vinh” (1 Phi. 4:11, NASB). Khải tượng của Giăng về hàng ngàn hàng vạn sinh vật sống xung quanh ngai của Đức Chúa Trời cho thấy rằng mục đích của sự thờ phượng là vì sự vinh hiển của Ngài, “Chiên Con đã chịu giết đáng được quyền phép, giàu có, khôn ngoan, năng lực, tôn quí, vinh hiển và ngợi khen!” (Khải. 5:12). Kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho sự sáng tạo của Ngài là vinh quang và mang lại sự vinh hiển cho Ngài.

Thứ năm, sắc lệnh của Đức Chúa Trời không bãi bỏ trách nhiệm của con người. Mặc dù Đức Chúa Trời có một kế hoạch tối thượng sẽ được hoàn thành, nhưng điều này không đánh mất trách nhiệm cá nhân đối với hành động của mình. Điều này đặc biệt quan trọng vì sắc lệnh của Đức Chúa Trời liên quan đến những hành động tội lỗi của con người. Mặc dù Đức Chúa Trời có quyền tối cao đối với các hành động của chúng ta, nhưng Ngài không thể bị đổ lỗi như vậy vì cớ hành động của chúng ta. Sự thật này được minh họa trong cuộc đời của Giô-sép. Sau khi cha của Giô-sép là Gia-cốp qua đời, các anh của Giô-sép sợ rằng ông sẽ trừng phạt họ vì những điều họ đã làm với ông. Nhưng Giô-sép đáp lại: “Các anh toan hại tôi, nhưng Ðức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi, hầu cho cứu sự sống cho nhiều người, y như đã xảy đến ngày nay, và giữ gìn sự sống của dân sự đông đảo.” (Sáng. 50:20). Anh em của Giô-sép đã làm một điều xấu xa khi bán em mình làm nô lệ. Nhưng Đức Chúa Trời đã dùng hành động tội lỗi đó để thực hiện một điều tốt đẹp cho gia đình Gia-cốp. Vì Giô-sép bị bán làm nô lệ ở Ai Cập, mà sau này ông có thể chu cấp cho gia đình Gia-cốp trong thời kỳ đói kém. Các anh trai của Giô-sép phải chịu trách nhiệm về hành vi sai trái của họ. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã sử dụng những hành động đó để hoàn thành một điều gì đó tốt đẹp.

Một minh họa khác cho lẽ thật này là việc Chúa Giê-su chịu đóng đinh. Trong Công Vụ 2:23 Phi-e-rơ giải thích rằng Chúa Giê-su chết “bởi ý định và sự biết trước của Đức Chúa Trời.” Những gì đã xảy ra trong sự phản bội, xử án và đóng đinh của Đấng Christ đều là việc thực hiện kế hoạch đã định trước của Đức Chúa Trời (4:27-28). Nhưng kế hoạch tối thượng của Đức Chúa Trời có bãi bỏ trách nhiệm con người của Giu-đa, Phi-lát, và những kẻ đã giết Chúa Giê-su Christ không? Phi-e-rơ nói thêm rằng Chúa Giê-su đã bị “những kẻ gian ác” đóng đinh vào cây thập tự (2:23). Klooster lưu ý, “Việc đóng đinh là một phần trong sắc lệnh đời đời của Đức Chúa Trời, và hành động tội lỗi của con người có liên quan; nhưng tội lỗi của hành động đó không được giảm bớt ngay cả khi nó hoạt động như một phương tiện để thực hiện sắc lệnh của Đức Chúa Trời.”4 Chúa Giê-su lưu ý đến sự cân bằng quan trọng này giữa quyền tể trị thiêng liêng của Đức Chúa Trời và trách nhiệm của con người khi Ngài nói, “Con người đi, theo như điều đã chỉ định; nhưng khốn cho người nầy phản Ngài!” (Lu. 22:22).

Ngoài ra, sắc lệnh của Đức Chúa Trời thì không miễn trừ trách nhiệm về hành động của con người. Đức Chúa Trời sẽ cứu những người mà Ngài đã chọn. Nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta có thể lơ là trách nhiệm truyền giáo (Mat. 28:19-20; Giăng 15:16). Đức Chúa Trời sẽ đưa những người được Ngài chọn đến với đức tin nơi chính Ngài, nhưng điều này đòi hỏi sự làm chứng của những Cơ đốc nhân vâng lời (Rô. 10:14). Một lần nữa, Đức Chúa Trời sẽ cứu những người Ngài đã chọn, nhưng không sẽ ai được cứu ngoài niềm tin cá nhân vào Đấng Christ. Lu-ca đã chỉ ra lẽ thật này khi ông viết, “Phàm những kẻ đã được định sẵn cho sự sống đời đời, đều tin theo” (Công. 13:48).

Thứ sáu, sắc lệnh của Đức Chúa Trời là không thể thay đổi. Vì Đức Chúa Trời là hoàn hảo (Mat. 5:48), nên kế hoạch của Ngài là hoàn hảo. Ngài không bao giờ cần phải thay đổi ý định của mình vì một số hoàn cảnh bất ngờ hoặc để vạch ra kế hoạch của mình theo một cách khác vì ai đó không hợp tác. Đức Chúa Trời không thay đổi (Mal. 3:6); với Ngài, “không có sự thay đổi hay bóng của sự biến đổi” (Gia. 1:17, NASH). “Đức Chúa Trời không phải là con người, để mà nói dối, và cũng không phải là con loài người, để có thể thay đổi ý định của mình. (Dân. 23:19). Tuy nhiên, có phải một số câu cho rằng Đức Chúa Trời thay đổi ý định của Ngài không? (Để thảo luận về câu hỏi này, hãy xem phần “Đức Chúa Trời bất biến” trong chương 7.)

SẮC LỆNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ SỰ CỨU RỖI CÁ NHÂN

Một khía cạnh trong sắc lệnh của Đức Chúa Trời được các tín đồ đặc biệt quan tâm là chương trình của Đức Chúa Trời liên quan đến sự cứu rỗi cá nhân của chúng ta như thế nào. Ở đây chúng tôi xin giới thiệu một số thuật ngữ quan trọng trong kinh thánh— sự tiền định, sự lựa chọn và sự biết trước thiêng thượng. Sau khi xem xét Kinh Thánh nói gì về những vấn đề này, chúng ta sẽ đưa ra tuyên bố thần học về sắc lệnh của Đức Chúa Trời và sự cứu rỗi cá nhân.

Kinh Thánh dạy rõ ràng về khái niệm tiền định. Vì Ngài đã định trước sự chết của Đấng Christ (Công. 4:28), nên Đức Chúa Trời đã định trước về sự cứu rỗi cho những người tin (Rô. 8:29-30; Êph. 1:5). Nhưng tiền định vượt ra ngoài sự cứu rỗi của chúng ta. Ê-phê-sô 1:11 cho biết rằng Đức Chúa Trời đã định trước không chỉ sự cứu rỗi của chúng ta, mà còn cả cuộc đời của chúng ta! Để thực hiện sắc lệnh thiêng liêng của Ngài, Đức Chúa Trời đã định đoạt tất cả những gì sẽ xảy ra. Từ tiền định dịch từ nguyên ngữ tiếng Hy Lạp là proorizo, “vạch ra ranh giới từ trước.”5 Tiền định liên quan đến sự lựa chọn của Đức Chúa Trời (Êph. 1:4), được thực hiện trong tình yêu thương (1:4), là theo niềm vui tốt lành của Ngài (1:5), và cuối cùng là tôn vinh Đức Chúa Trời (1:14). Thật an ủi biết bao khi biết rằng trong tình yêu lớn lao của Ngài dành cho chúng ta, Đức Chúa Trời đã “vạch rõ ranh giới” của cuộc đời chúng ta theo nhiều cách để cuối cùng là làm vinh hiển Ngài!

Một từ quan trọng khác mà Kinh Thánh sử dụng để đề cập đến sắc lệnh của Đức Chúa Trời với sự cứu rỗi cá nhân là lựa chọn, từ eklektos trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “được gọi ra, được chọn ra hoặc được chọn từ”. Từ này được dùng cho Đấng Christ, Đấng được Đức Chúa Trời lựa chọn (Lu. 23:35; 1 Phi. 2:4), cho các thiên sứ (1 Ti. 5:21), cho các tín đồ Do Thái trong Đại nạn (Mat. 24:22, 24), và cho những người được chọn trong hội thánh (Rô. 8:33; 1 Phi. 1:1; 2:9). Động từ dạng eklegomai (“chọn lựa hoặc lựa chọn”) được dùng để chỉ các sứ đồ mà Đấng Christ đã chọn (Giăng 13:18; Công. 1:2) và những người tin đã được Chúa chọn (1 Cô. 1:27-28). Danh từ ekloge biểu thị một “sự chọn lọc”, “sự lựa chọn” hay “sự chọn lựa” và được Phao-lô sử dụng như một “công cụ được chọn” (Công. 9:15) và đặc biệt là sự lựa chọn thiêng liêng của các tín đồ (Rô. 11:5, 7; 1 Tê. 1:4; 2 Phi. 1:10). Mỗi từ quan trọng này chuyển tải khái niệm về sự lựa chọn của Đức Chúa Trời. Trong mối quan hệ với hội thánh, lựa chọn là hành động của Đức Chúa Trời chọn những người sẽ tin và được cứu để làm chi thể trong thân thể của Đấng Christ.

Tín lý về sự lựa chọn là một trong những tín lý khó chấp nhận nhất đối với các tín đồ bởi vì có vẻ như không công bằng khi Đức Chúa Trời chỉ chọn một số người này mà không chọn những người khác. Phao-lô giải thích rằng với tư cách là một người thợ gốm, Đức Chúa Trời có quyền “tạo ra từ cùng một cục đất sét một số đồ gốm cho mục đích cao cả và một số đồ dùng thông thường” (Rô. 9:21). Tôi không bao giờ nghĩ đến việc lựa chọn mà không nhắc nhở bản thân rằng tín lý này phải được hiểu theo thực tế là Đức Chúa Trời yêu thương, tể trị và công bình. Mặc dù tín lý về sự lựa chọn trong kinh Thánh khó hiểu và khó đánh giá đúng, nhưng thật an ủi khi biết rằng nó sẽ không mâu thuẫn với bất kỳ sự thật nào về Đức Chúa Trời.

Một từ khóa khác phải được hiểu đúng khi luận về sắc lệnh của Đức Chúa Trời và sự cứu rỗi cá nhân là biết trước, bản dịch nguyên ngữ là prognosis, bắt nguồn từ pro (“trước”) và gnosis (“hiểu biết”). Từ này chỉ được dùng cho Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh. Sự biết trước thiêng thượng là một khía cạnh của sự toàn tri của Đức Chúa Trời. Đấng Christ đã bị hành hình, như đã được ghi nhận, theo “sự biết trước…. của Đức Chúa Trời” (Công. 2:23). Những người tin Chúa “được chọn theo sự biết trước của Đức Chúa Trời là Cha” (1 Phi. 1:2). Hình thức động từ proginosko (“biết trước”) được sử dụng trong Rô-ma 8:29 để chỉ những người tin vào Đấng Christ và trong Rô. 11:2 liên quan đến sự xót lại của Y-sơ-ra-ên.

Theo cách giải thích phổ biến về sự biết trước thiêng thượng, Đức Chúa Trời “biết trước” đáp ứng của chúng ta đối với phúc âm và do đó đã chọn những người tin dựa trên sự biết trước đó. Tuy nhiên, việc nghiên cứu kỹ lưỡng về proginosko không ủng hộ quan điểm này. Ginosko không chỉ đơn giản là một kiến thức về một số sự việc nhất định. Nó được dùng trong Kinh Thánh để chỉ sự hiểu biết sâu sắc, cá nhân, với hình thức hiểu biết của một người đàn ông về vợ mình. Khái niệm kinh thánh về sự biết trước thiêng thượng liên quan đến sự cứu rỗi của từng cá nhân có khuynh hướng “tiền định”. Đức Chúa Trời đã chọn trước trong tình yêu thương và mối quan hệ với những người mà Ngài sẽ ân cần gọi đến với chính Ngài bởi đức tin cá nhân. Việc gợi ý rằng “sự biết trước” chỉ đơn thuần là Đức Chúa Trời biết trước về hành động của con người bị khướt từ bởi sự lựa chọn của Ngài đối với Y-sơ-ra-ên. Nếu Đức Chúa Trời biết trước dân Y-sơ-ra-ên có sự đáp ứng thiện chí vì sự hiểu biết vượt bật của Ngài, thì Ngài đã sai! Nhưng Y-sơ-ra-ên đã nổi loạn chống lại Đức Chúa Trời và khướt từ Đấng Mê-si của họ. Đức Chúa Trời “biết trước” về dân Y-sơ-ra-ên (Rô. 11:2) theo ý định là Ngài chọn họ làm dân sự của Ngài trong sự tể trị bất chấp sự vô tín mà Ngài biết đó là tính cách của quốc gia đó (10:21).

Trong cuộc bàn luận kinh điển về sự lựa chọn dân Y-sơ-ra-ên, Phao-lô viết rằng Đức Chúa Trời “thương xót người mà Ngài muốn thương xót” (9:18). Câu hỏi quan trọng trong cuộc thảo luận này là, “Lòng thương xót và ân điển của Đức Chúa Trời được ban cho trên cơ sở nào?” Có thể có ba câu trả lời. Thứ nhất, Đức Chúa Trời ban lòng thương xót dựa trên sự biết trước của Ngài về quyết định của những người sẽ chọn tin vào Đấng Christ. Thứ hai. Đức Chúa Trời ban lòng thương xót dựa trên công đức và việc lành. Thứ ba, Đức Chúa Trời ban lòng thương xót theo sự lựa chọn tối thượng của Ngài vì những lý do mà chỉ Ngài mới biết.

Quan điểm thứ nhất, cho rằng Đức Chúa Trời ban cho lòng thương xót dựa trên sự biết trước, cho con người quyền quyết định cuối cùng về số phận của chính họ. Theo quan điểm này, Đức Chúa Trời đáp lại sự quyết định tin cậy của một người. Nhưng điều này làm suy giảm quyền tể trị tuyệt đối của Đức Chúa Trời và sự hiểu biết đúng đắn về sự biết trước thiêng thượng hay gọi là “tiền định.” sẽ bị loại bỏ. Khi Kinh Thánh nói rằng Đức Chúa Trời “biết trước chúng ta” (Rô. 8:29). Thì có nghĩa là Ngài thực sự “tiền định” chúng ta một cách thân mật và riêng tư.

Quan điểm thứ hai, cho rằng Đức Chúa Trời ban lòng thương xót dựa trên những việc lành, nhấn mạnh đến khả năng của con người có thể đạt được sự cứu rỗi. Quan điểm này rõ ràng đã bị Kinh Thánh bác bỏ. Trong Rô-ma 3:12, Phao-lô ám chỉ sách Thi Thiên để chứng minh rằng con người hoàn toàn không thể đạt được công đức đối với Đức Chúa Trời. “Chúng nó thay thảy đều bội nghịch, cùng nhau trở nên ô uế; chẳng có ai làm điều lành, Dầu một người cũng không.” (Thi. 14:3; xem thêm 53:3). Sứ đồ nhấn mạnh trong Ga-la-ti rằng người ta không được xưng công bình bởi việc làm của luật pháp (Ga. 2:16), và ông viết cho người Ê-phê-sô rằng sự cứu rỗi là sự ban cho của Đức Chúa Trời—không phải bởi việc làm, để không ai có thể khoe khoang “( Êph. 2:8-9).

Chúng ta còn lại với quan điểm thứ ba, Đức Chúa Trời ban lòng thương xót trên cơ sở lựa chọn tối thượng của Ngài vì những lý do chỉ Ngài mới biết. Theo quan điểm này, chỉ bằng sự can thiệp tối thượng và sự lựa chọn nhân từ của Đức Chúa Trời, các cá nhân mới có thể trở thành “đối tượng của lòng thương xót Ngài, người mà Ngài đã chuẩn bị trước vì sự vinh hiển” (Rô. 9:23). Quan điểm này có sự ủng hộ mạnh mẽ nhất trong Kinh Thánh và phản ánh sự hiểu biết đúng đắn về các học thuyết về tiền định, sự biết trước và sự lựa chọn.

Một câu hỏi nữa phải được trả lời khi chúng ta xem xét sắc lệnh của Đức Chúa Trời vì nó liên quan đến sự cứu rỗi cá nhân. “Tiền định kép” có phải là một khái niệm trong Kinh Thánh? Những người theo học thuyết lựa chọn nói chung đồng ý rằng khi thực hiện quyền tể trị của Ngài, Đức Chúa Trời đã chọn một số cá nhân nhất định để tin và được cứu. Câu hỏi đặt ra là liệu khi chọn một số người để tin, Đức Chúa Trời cũng đã chọn những người khác không tin và bị kết án. Quan niệm về việc Đức Chúa Trời chọn một số người để không tin và bị kết án có vẻ không công bằng và trái với lòng thương xót của Đức Chúa Trời. Câu hỏi cuối cùng đối với những người nghiên cứu Kinh Thánh là liệu học thuyết này có trong Kinh Thánh hay không.

Một số đoạn kinh thánh dường như ủng hộ học thuyết này, bao gồm Xuất Ai Cập Ký 4:21; Châm Ngôn 16:4; Ê-sai 6: 9-10; Rô-ma 9:22; 1 Phi-e-rơ 2:8; và Giu-đe 4. Nhưng chúng ta phải cẩn thận ở đây. Kinh Thánh dạy rõ ràng rằng cuối cùng Đức Chúa Trời đứng sau mọi hành động (Êph. 1:11). Nhưng mặc dù Đức Chúa Trời đứng sau số phận của cả những người được chọn và những người không được chọn, thì Ngài có thể không làm theo cách giống hệt như vậy, điều này có lẽ rất quan trọng khi Phao-lô sử dụng phân từ katertiomena (“được chuẩn bị”) để nói đến người không được chọn trong Rô-ma 9:22, ông không chỉ rõ Đức Chúa Trời là chủ thể như khi viết về số phận của người được lựa chọn trong 9:23. Sự khác biệt là nhỏ, nhưng quan trọng. Trong khi Đức Chúa Trời có quyền tối cao đối với số phận của cả những người được chọn và không được chọn, Ngài không đứng sau số phận của những người không được chọn giống như cách mà Ngài đứng sau số phận của những người được chọn. Vấn đề đối với tiền định kép là nó đưa ra ý tưởng rằng cả hai tiền định này có tính chất ngang nhau, nhưng điều này không xuất hiện trong trường hợp này. Sự khác biệt quan trọng này được hỗ trợ trong Rô-ma 6:23, nơi hình phạt được coi là “tiền công” kiếm được, trong khi sự sống đời đời là “món quà miễn phí”. Ngoài ra, chúng ta cần nhớ rằng mọi người đều đáng bị địa ngục vì tội lỗi của mình, nhưng Đức Chúa Trời đã quyết định cứu một số người bởi ân điển của Ngài và để những người khác đi theo con