Trang Chủ KINH THÁNH 7 Lý Do Tạ Ơn Chúa

7 Lý Do Tạ Ơn Chúa

76
0
SHARE

7 LÝ DO TẠ ƠN CHÚA

(7 Reasons to Give Thanks to God)

KT: Thi thiên 103:1-10

Câu gốc: Thi thiên 103:2-3.

Mục sư Phạm Hơn.

Chúng ta tạ ơn Chúa về những gì CHÚA ĐÃ BAN, CHÚA ĐÃ LÀM cho chúng ta, và CHÚA LÀ AI.

CHÚA ĐÃ BAN

1. Ê-phê-sô 1:3. Ngợi khen Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài đã xuống phước cho chúng ta trong Đấng Christ đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời.

2. 1 Cô-rinh-tô 15:57. Nhưng, tạ ơn Đức Chúa Trời đã cho chúng ta sự thắng, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta.

3. Phi-lê-môn 1: 7. Vả, hỡi anh,tôi đã được vui mừng yên ủi lắm bởi lòng yêu thương của anh, vì nhờ anh mà lòng các thánh đồ được yên ủi.

CHÚA ĐÃ LÀM

4. Cô-lô-se 1:12-13. Hãy tạ ơn Đức Chúa Cha, Ngài đã khiến anh em có thể dự phần cơ nghiệp của các thánh trong sự sáng láng:  Ngài đã giải thoát chúng ta khỏi quyền của sự tối tăm, làm cho chúng ta dời qua nước của Con rất yêu dấu Ngài,

5.Thi. 103:1-2.  Tha thứ tội, chữa lành bệnh; và  Thi thiên 107:8,15, 21, 31. Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người!

CHÚA LÀ AI

6.1Tê-sa-lô-ni-ca1: 9. Vả, mọi người dầu thuật lại thể nào anh em đã tiếp đãi chúng tôi và thể nào đã trở lại cùng Đức Chúa Trời, bỏ hình tượng đặng thờ Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật. (the living and true God),

“Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật” là một cụm từ  ám chỉ  rằng Đức Chúa Trời là sự sống sinh động nhất, với sự khôn ngoan, quyền năng và sự tốt lành vô hạn. Nó cũng  đề cập đến niềm tin rằng có một Thiên Chúa hằng sống và chân thật, tồn tại vĩnh viễn trong ba ngôi vị: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Linh. Đức Chúa Trời ba ngôi hiệp một này được coi là hoàn toàn khôn ngoan, toàn năng, toàn tại và toàn tri. 

7. Xuất.  3:14. Đức Chúa Trời phán rằng: Ta là Đấng tự hữu hằng hữu. God said to Moses, “I am who I am” (Exodus 3:14. NIV). Ta là Đấng Ta là…(ngân phiếu trống)

Khi những người hành hương tổ chức Lễ tạ ơn đầu tiên vào năm 1621, một nửa nhóm ban đầu của họ đã chết. Tổ tiên của chúng ta đã có thể tạ ơn, vì họ đã tập trung vào lòng nhân lành và lòng thương xót của Thiên Chúa ngay cả trong những thử thách.

Vào thế kỷ 16-17, một số người theo Công giáo và Thanh giáo tại Anh bị hoàng đế lúc đó bắt cải đạo để theo tôn giáo của ông ta, trong cuộc Cải cách Tin Lành. Những người này không chấp nhận và bị giam vào tù. Sau khi giam một thời gian vị hoàng đế truyền họ lại và hỏi lần nữa, họ vẫn quyết không cải đạo. Hoàng đế không giam họ vào tù nữa mà nói với họ rằng nếu họ không theo điều kiện của ông ta thì họ phải rời khỏi nước Anh.

Những người này rời khỏi Anh đến Hà Lan sinh sống nhưng họ sớm nhận ra mình không thể hoà nhập ở nơi này và lo sợ con cháu của họ sẽ bị mất gốc, một số nhóm người rời khỏi Hà Lan để đến Tân Thế giới (Châu Mỹ) sinh sống, và sau này thường được gọi là Người hành hương (Pilgrims). Những người này đi trên một con thuyền tên là Mayflower, họ đặt chân đến Thuộc địa Plymouth thuộc vùng Tân Anh (New England) khi đang mùa đông. Đói và lạnh, một nửa trong số họ không qua nổi mùa đông khắc nghiệt. Đến mùa xuân, họ may mắn gặp được những thổ dân da đỏ tốt bụng và cho họ ít lương thực. Người da đỏ dạy họ những cách sinh tồn ở vùng đất này như cách trồng hoa màu, săn bắt,… Khi người Pilgrims đã có thể tự lo cho bản thân được, họ tổ chức một buổi tiệc để tạ ơn Chúa Trời vì đã cho họ có thể sống đến ngày hôm nay, họ mời những người da đỏ và cùng nhau ăn uống vui vẻ. Từ đó về sau, hằng năm con cháu của người Pilgrims luôn tổ chức lễ tạ ơn để cảm ơn cho những gì tốt đẹp đã đến với cuộc sống.

Theo tài liệu, buổi lễ tạ ơn đầu tiên tại Hoa Kỳ, do người Pilgrims tổ chức, là vào năm 1621 tại Thuộc địa Plymouth, ngày nay thuộc Massachusetts, sau một vụ thu hoạch tốt. Massachusetts, phía tây giáp với tiểu bang New York. Thủ phủ của Massachusetts và thành phố lớn nhất của New England là Boston.

Chuyện được kể rằng, những năm tháng đầu tiên đầy gian truân của một nhóm 102, gồm cả 35 người thuộc đạo Tin Lành Cải Cách ly khai (Puritanisn separatists) người Anh di cư gọi là Pilgrims Fathers. Trước đó, vì lý do tín ngưỡng bị đàn áp, họ rời quê hương Anh Quốc, khởi hành vào tháng 9 năm 1620 trên chiếc tàu Mayflower, một thuyền buồm trọng tải 180 tấn từ Plymouth. Đầu tiên, họ đến tạm cư tại Leyden, Hòa Lan (Netherland), nhưng cuộc sống ở đây làm họ thất vọng. Do đó, nhóm người này quyết định đi tìm một chân trời mới tại Tân Thế Giới vì họ muốn tạo dựng một thánh địa mới cho tín ngưỡng.

Sau 6 tháng lên đất liền, thời tiết khắc khe và thiếu thốn. Ngay từ cuối thu, vì bệnh dịch và lạnh lẽo, họ đã mất đi 46 người trong số 102 người khởi hành trên tầu Mayflower.

Nhưng mùa gặt của năm 1621 lại là một mùa tốt đẹp. Những người còn sống sót quyết định làm tiệc ăn mừng có sự tham gia của 91 thổ dân da đỏ – những người đã giúp họ sống sót trong năm đầu vì đã cung cấp lương thực và dạy họ trồng bắp và săn thú rừng. Đoàn di dân tin rằng họ không thể tồn tại được nếu không có người da đỏ giúp đỡ.

Có lẽ họ đã học được bài học từ Phao-lô và Si-la, những người khi bị xiềng xích trong nhà tù Phi-líp, “cầu nguyện và  ngợi khen Đức Chúa Trời” (Công vụ 16:25). Hoặc có lẽ họ chỉ làm theo sự hướng dẫn nơi Phi-líp 2:5, câu này nói: “Hãy có đồng một tâm tình như  Đấng Christ đã có”. Chính Chúa Giê-su, Đấng biết chính xác những gì sắp xảy ra, đã tạ ơn ngay trong đêm Ngài bị phản bội, Ngài đã tạ ơn Cha.

Minh họa:

-Lời chứng về sự tiếp trợ từ MS Cam.

-Một chị em bị mất chồng – người chồng bị tai nạn giao thông.

-Phao-lô và Si-la trong tù. Lối nửa đêm, Phao-lô và Si-la đương cầu nguyện, hát ngợi khen Đức Chúa Trời; và những tù phạm đều nghe. 26 Thình lình,có cơn động đất rất lớn, đến nỗi nền ngục rúng động; cùng một lúc, các cửa mở ra, xiềng tù phạm thảy đều tháo cả. (Công vụ 16:25-26).

7 LÝ DO TẠ ƠN CHÚA

CHÚA ĐÃ BAN

1. Ê-phê-sô 1:3. Các ơn phước thiêng liêng

2. 1 Cô-rinh-tô 15:57. Chiến thắng

3. Phi-lê-môn 1: 7. được an ủi từ các bạn hữu trong nhà Chúa

CHÚA ĐÃ LÀM

4. Cô-lô-se 1:12-13. Dự phần cơ nghiệp với các thánh đồ

5.Thi. 103:1-2.  Tha thứ tội và chữa lành bệnh tật

CHÚA LÀ AI

6.1Tê-sa-lô-ni-ca1: 9. Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật

7. Xuất.  3:14. Đấng tự hữu, hằng hữu.

ĐỂ LẠI BÌNH LUẬN

Nhập bình luận!
Vui lòng nhập tên