
Đọc nguồn tài liệu:
Sách Quy luật giải nghĩa Kinh Thánh:
https://thanhkinhvien.com/wp-content/uploads/2024/10/QuyluatgiainghiaKinhthanh.pdf
Sách Kinh Thánh Lược Khảo:
PHƯƠNG PHÁP HỌC KINH THÁNH
I. Có một vài phương pháp học Kinh Thánh khác nhau mà chúng ta có thể áp dụng để học theo cách có tổ chức hoặc hệ thống. Trong phạm vi bài viết này, chúng ta sẽ phân loại chúng thành hai nhóm chính: Học Theo Sách và Học Theo Chủ Đề. Trước khi thảo luận về những dạng phương pháp học Kinh Thánh khác nhau, điều quan trọng là phải công nhận rằng tất cả chúng đều có những điểm tương đồng và phải tuân theo những quy luật hay nguyên tắc giải nghĩa nhất định nhằm tránh diễn giải sai những gì Kinh Thánh muốn nói. Ví dụ, bất kể chúng ta sử dụng phương pháp học Kinh Thánh nào, thì điều quan trọng là trong quá trình học, phải cẩn thận xem xét bối cảnh của đối tượng hay câu Kinh Thánh đang nghiên cứu, cả bối cảnh trực tiếp của đoạn hay sách đó, và trong bối cảnh chung của toàn bộ Kinh Thánh. Mục tiêu đầu tiên của chúng ta phải là để hiểu được ý nghĩa gốc rễ hay ý định ban đầu của đoạn Kinh Thánh đó là gì. Nói cách khác, trước giả được thần cảm đang muốn truyền tải thông điệp gì, và những độc giả trực tiếp của phân đoạn đó sẽ hiểu những gì được viết ra như thế nào? Nguyên tắc này công nhận rằng Kinh Thánh không phải được sáng tác trong môi trường biệt lập, mà là một tài liệu lịch sử được viết tại một thời điểm nhất định trong dòng lịch sử, nhắm đến một đối tượng độc giả cụ thể với một mục đích cụ thể. Sau khi ý nghĩa đích thực của phân đoạn đã được làm rõ, chúng ta có thể bắt đầu tìm hiểu xem chúng áp dụng như thế nào cho chúng ta ngày nay.
II. Học Theo Sách: Phương pháp học Kinh Thánh này tập trung vào cả một sách trong Kinh Thánh hay một phần cụ thể trong một sách, ví dụ như một đoạn, một loạt câu, hay chỉ một câu duy nhất. Với cách học từng đoạn, học lần lượt từng câu, và học tổng thể một sách, thì nguyên tắc và mục tiêu là giống nhau. Ví dụ, để có thể học xuyên suốt cả một sách, chúng ta cũng cần thiết phải học bối cảnh của từng đoạn và câu. Tương tự, để có thể học đúng một câu, chúng ta cũng cần học thông điệp bao trùm cả đoạn và cả sách có chứa đựng câu Kinh Thánh đó. Tất nhiên, dù ở mức độ nghiên cứu từng câu, hay trọn vẹn cả một sách, chúng ta phải luôn luôn cân nhắc bối cảnh tổng thể của toàn bộ Kinh Thánh.
III. Học Theo Chủ Đề: Có nhiều biến thể của cách học Kinh Thánh theo chủ đề mà chúng ta có thể áp dụng. Một vài ví dụ bao gồm nghiên cứu tiểu sử, khi ta tìm hiểu tất cả những gì Kinh Thánh nói về một nhân vật cụ thể; nghiên cứu từ ngữ, khi ta học hỏi tất cả những gì Kinh Thánh nói về một từ hay chủ đề cụ thể; và nghiên cứu địa lý, khi ta học hỏi tất cả những gì có thể liên quan đến một thành, một miền, hay một quốc gia cụ thể được nhắc đến trong Kinh Thánh. Học theo chủ đề đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu biết tất cả những gì Kinh Thánh dạy về một đối tượng hay chủ đề cụ thể. Tuy nhiên, chúng ta phải cẩn thận hầu cho những kết luận rút ra từ việc học theo chủ đề không đến từ việc tách biệt một vài câu Kinh Thánh ra khỏi văn cảnh gốc nhằm áp đặt một ý nghĩa nào đó vốn không thể được củng cố nếu học theo từng câu hoặc học theo sách. Học theo chủ đề sẽ hữu ích trong việc hiểu biết và sắp xếp lại một cách có hệ thống những gì Kinh Thánh dạy về những chủ đề cụ thể.
Trong việc học Kinh Thánh, sẽ rất ích lợi khi áp dụng những phương pháp học khác nhau ở những thời điểm khác nhau. Đôi khi chúng ta sẽ muốn đầu tư một khoảng thời gian đáng kể để học cả một sách, và có những khi khác chúng ta có thể được lợi rất nhiều từ việc học theo chủ đề. Dù cho chúng ta áp dụng phương pháp học nào, thì cũng phải tuân theo những bước cơ bản sau đây:
1 – Quan sát – Kinh Thánh nói gì?
2 – Giải thích – Kinh Thánh muốn truyền tải ý nghĩa gì?
Và
3 – Áp dụng – Lẽ thật Kinh Thánh này áp dụng như thế nào cho đời sống của tôi, hay phân đoạn Kinh Thánh này liên hệ như thế nào đến bối cảnh ngày nay? Dù cho thực hành theo phương pháp học Kinh Thánh nào, chúng ta đều phải cẩn thận lấy lòng ngay thẳng giảng dạy Lời của Lẽ thật, hầu cho trở nên những người làm công không chỗ trách được (II Ti-mô-thê 2:15).
–
Phần sau đây trích từ sách CÁC QUY LUẬT GIẢI NGHĨA KINH THÁNH.
Khi giải nghĩa Kinh Thánh chúng ta phải:
CĂN CỨ TRÊN LỊCH SỬ, PHONG TỤC, CÁCH VIẾT VÀ NGÔN NGỮ ĐƯƠNG THỜI.
1. Phải căn cứ trên lịch sử: Nếu không căn cứ vào bối cảnh lịch sử, chúng ta sẽ dễ giải sai ý nghĩa “mùi của sự sống làm cho sống… Mùi của sự chết làm cho chết” (IICor. 2 :14-17). Có người đã rất sai lầm khi mượn hình ảnh trái sầu riêng, với người nầy là rất thơm ngon, với người kia là rất hôi hám, đáng tránh xa, để giải thích câu Kinh Thánh ấy. Thật ra, câu Kinh Thánh này có bối cảnh lịch sử là cuộc khải hoàn của người La Mã (lưu ý chữ “khải hoàn” trong bản Tân Ước Nhuận chánh). Trong ngày khải hoàn, đoàn quân chiến thắng diễu hành trên đại lộ Khải Hoàn của kinh thành La Mã. Đi đầu là vị nguyên soái, theo sau là đoàn quân chiến thắng, và sau chót là đám tù binh… đến chân đồi Capitol, họ ngửi thấy mùi trầm hương sực nức. Khi ấy, đoàn quân chiến thắng vui mừng reo vang vì biết rằng sắp lên đồi lãnh lương. Trái lại, đám tù binh biết rằng mình sắp bị dẫn xuống trũng để bị hành quyết hay lãnh án phạt. Vậy, cũng mùi trầm hương vừa là mùi sự sống… vừa là mùi sự chết làm cho chết. Nếu không hiểu bối cảnh lịch sử của câu chuyện được ghi lại trong Giăng 8:3-11, chúng ta sẽ không thấy hết sự quỷ quyệt của các thầy thông giáo và người Pha-ri-si. Khi đặt trước Chúa Jêsus chiếc bẫy không có lối thoát. Nếu Chúa tuyên bố tha thứ con người đàn bà tà dâm, họ sẽ ném đá Chúa Jêsus vì họ kết tội Ngài chống với luật pháp Môise, chống với truyền thống dân tộc (Lê-vi ký 20:10; Phục. 22:22-24). Nếu Ngài truyền hãy ném đá người đàn bà ấy, họ sẽ kết tội Ngài là phản động, chống lại luật pháp của chính quyền La Mã (đang cai trị xứ Do Thái). Và theo luật La Mã, Tổng đốc La Mã mới có quyền kết án tử hình (Giăng18:31). Trong trường hợp vô cùng nguy hiểm, Chúa Jêsus đã tỏ ra hết sức khôn ngoan.
2.. Phải căn cứ trên phong tục: Đối với độc giả ngày nay, dường như Mathiơ đã chọn một phương pháp rất kỳ lạ để mở đầu sách Tin Lành của ông. Giới thiệu ngay từ đầu một bản danh sách dài, đầy dẫy những tên là một phương thức rất dễ làm nản lòng độc giả. Nhưng vì sách Mathiơ viết cho người Do Thái, thì sách ấy rất cần thiết và thích thú đối với họ. Tính thuần chủng rất quan trọng đối với dân Do Thái. Con cháu Ha-ba-gia, Ha-cốt và Bat-xi-lai bị ngăn cản không cho hành chức tế lễ vì không tìm ra phổ hệ tỏ ra họ là con cháu Arôn (E-xơ-ra 2:61-62). Vậy gia phổ của Chúa Jêsus có thể truy ngược đến tận Áp-ra-ham gây nên một ấn tượng rất sâu đậm. Phổ hệ của Chúa Jêsus lại được sắp đặt thành 3 nhóm, mỗi nhóm 14 đời. Trong Hy Bá Lai ngữ, mẫu tự cũng là số. Tên của DAVID gồm 3 phụ âm DVD, cũng là 3 số:4 + 6 + 4 = 14. Vậy việc bày tỏ Chúa Jêsus thuộc dòng dõi Đavít và Áp-ra-ham đã được sắp đặt theo tên của Đavít đã giúp người ta dễ học thuộc lòng là điều rất lý thú đối với độc giả Do Thái. Không biết được phong tục Do Thái chúng ta không thấy cái ý vị của trang đầu Tân Ước. Khi đọc RÔ-MA 12:20 nếu không hiểu được phong tục thời bấy giờ, có thể hiểu sai hoàn toàn. Trong thời đó chưa có diêm quẹt, việc nhóm bếp rất phiền toái. Nếu không dành than lửa thì khi mất lửa, người ta đội mẻ than đi xin lửa. Vậy, cho kẻ thù ăn, uống là cho họ than lửa đỏ vào mẻ than đội trên đầu, đều là hành động “dĩ đức báo oán” rất cao thượng.
3. Phải căn cứ trên lối viết của người xưa. Nhiều người thắc mắc, khi ấy có sự sai biệt về số người mù được chữa lành tai Giêricô. Theo Mathiơ thì có 2 người mù, ông không ghi tên của họ. Theo Mác và Luca thì chỉ có một người mù tên là Batimê (Mat 20:19; Mac 10:46; Lu-ca 18:35). Sở dĩ có sự khác biệt vì Mathiơ có cái nhìn khác Mác và Luca. Mathiơ thì trình bày chi tiết, còn Mác và Luca lại chú ý đến trọng điểm. Chúng ta có thể hiểu rằng người mù là con trai của Timê (Ba: con trai) khởi xướng việc đặt lòng tin nơi Chúa Jêsus… và được lành, bên cạnh anh ta cũng có một người mù khác biết điều đó nên bắt chước “Lạy Chúa, con nữa!” và cũng được lành. Người mù thứ hai “ăn theo” cho nên không quan trọng theo sự đánh giá của Mác và Luca. Cùng viết về Chúa Jêsus nhưng có đến 4 trước giả Phúc Âm. Với Mathiơ, sách được viết cho người Do Thái, trình bày Chúa Jêsus là Vua (Mat 2:2), “Hầu cho ứng nghiệm…”. Với Mác, sách được viết đặc biệt cho người La Mã, trình bày Chúa Jêsus là “Chúa Cứu Thế” (phục sự và phó sự sống mình), “là tôi tớ của Đức Giê-hô-va” mà tiên tri Êsai đã nói đến. Vì người La Mã hãnh diện về quyền lực, Mác đã khiến họ chú ý đến quyền lực siêu nhiên của Chúa Jêsus. Với Luca, sách được viết cho những người chịu ảnh hưởng văn hoá Hy Lạp. Ông trình bày Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời thành NGƯỜI, NGƯỜI LÝ TƯỞNG. Vẻ đẹp, sự vinh hiển và trọn lành của Chúa Jêsus được Luca mô tả rất kích thích tâm trí của người theo văn minh Hy Lạp vốn thiên về tư tưởng văn hoá mỹ quan và giáo dục. Sách Tin Lành được Giăng viết sau ba sách Tin Lành kia. Trong lúc đã truyền bá khắp nơi. Sách này bày tỏ cho cả nhân loại biết Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời, đối tượng đức tin của chúng ta (Giăng 20:31). Cùng trình bày về Chúa Jêsus nhưng lối viết khác nhau cho nên có những chi tiết khác nhau là điều không đáng ngạc nhiên, mà còn giúp ta hiểu biết Chúa Jêsus cách phong phú. Vậy khi giải nghĩa một phân đoạn nào, phải quan tâm đến lối viết của trước giả.
Bài tập:
-Theo ý của bạn, phần nào là quan trọng nhất trong quyển sách QUI LUẬT GIẢI NGHĨA KINH THÁNH? Tại sao nó quan trọng?




























