Trang Chủ TRANG CHỦ Bài 5 – Phần 1 Giáo Huấn Của Kinh Thánh

Bài 5 – Phần 1 Giáo Huấn Của Kinh Thánh

3691
0
SHARE

Giáo Huấn Của Kinh Thánh  Là Duy Nhất?

 

KINH THÁNH TUYÊN BỐ là sự mặc khải đặc biệt từ Đức Chúa Trời, chính là Lời của Đức Chúa Trời. Nhưng các nhóm tôn giáo khác cũng tuyên bố rằng các bản văn của họ được tiết lộ bởi Đức Chúa Trời. Chẳng hạn, người Hồi giáo tin rằng sách Kinh Koran được soi dẫn từ vị thần của họ; họ nói rằng thiên sứ trưởng Gáp-ri-ên đã tiết lộ điều đó cho Mô-ha-mét. Người Mormon tin rằng Joseph Smith đã nhận được một sự mặc khải trực tiếp từ Đức Chúa Trời được khắc trên những tấm bảng vàng, sau đó ông đã biên dịch và xuất bản chúng với tên gọi là Sách Mormon. Các tôn giáo khác cũng có những tác phẩm mà họ xem là thánh. Những tín đồ của họ xem những tác phẩm này truyền đạt những chân lý về những điều cơ bản.

Bởi vì những tác phẩm khác nhau này có những thông điệp khác nhau, nên tất cả chúng không thể đến từ Đức Chúa Trời là Đấng không thể nói dối. Vậy thì làm sao chúng ta có thể biết được “sách kinh” nào trên thực tế là tiếng nói của Đức Chúa Trời? Tất nhiên, chúng ta không thể để một số người có thẩm quyền cao hơn nói với chúng ta rằng “Đây là tiếng nói của Đức Chúa Trời” hoặc “Đây không phải”. Nếu có ai đưa ra quyết định như vậy, người đó phải là người có thẩm quyền trên Đức Chúa Trời. Nhưng điều này là không thể nếu chúng ta chấp nhận định nghĩa chung về Đức Chúa Trời là Đấng Tối cao.

Tiếng nói của Đức Chúa Trời đến với chúng ta phải được chứng minh là xác thực. Nghĩa là, khi Đức Chúa Trời phán chúng ta là tạo vật của Ngài, chúng ta phải có khả năng nhận ra lời Ngài là tiếng phán của Đức Chúa Trời. Chúng phải nổi bật so với những tiếng nói khác. Điều chúng ta tìm thấy chính là khi chúng ta so sánh Kinh Thánh với những lời tuyên bố khác. Kinh Thánh mang dấu ấn của một cuốn sách siêu nhiên. Chương này thảo luận về những lời dạy độc nhất của Kinh Thánh và chương 6 xem xét một số sự kiện khác về Kinh Thánh nhằm chỉ ra đặc tính siêu nhiên của nó.

Khi xem xét những lời dạy trọng tâm của Kinh Thánh, chúng ta thấy rằng phạm vi và uy quyền của chúng vượt xa tất cả các tác phẩm khác của con người. Tất cả những lời hay nhất của các bậc thầy, đơn giản là không thể so sánh với những giáo huấn trong Kinh Thánh. Như F. W. Farrar đã viết, “Những vấn đề nào mà cuốn sách này chưa được khám phá? Độ sâu nào mà chưa được thăm dò? Độ cao nào mà chưa được xác định? Lời an ủi nào mà chưa được nói ra? Lương tâm nào mà chưa bị khiển trách? Tấm lòng nào mà chưa được chạm đến?”1

Chúng ta tìm kiếm một chân lý trong thế gian; để chọn lấy

Cái tốt đẹp, cái trong sáng, cái đẹp đẽ

Từ bảng đá khắc chữ và cuộn giấy viết

Từ tất cả những cánh đồng hoa cằn cỗi của tâm hồn;

Và, khi những người tìm kiếm điều tốt nhất đang mòn mỏi

Chúng ta quay lại với đầy những câu hỏi,

Để tìm thấy nơi tất cả các nhà hiền triết đã nói

Có phải tất cả được tìm thấy trong Quyển Sách mà những bà mẹ chúng ta đã đọc.2

Bên cạnh việc Kinh Thánh vượt xa các tác phẩm của con người trong phạm vi rộng lớn về thông điệp, lẽ thật cốt yếu của Kinh Thánh thực sự trái ngược với suy nghĩ tự nhiên của con người. Toàn bộ thông điệp của Kinh Thánh minh họa rõ ràng lời tuyên bố của Đức Chúa Trời qua tiên tri Ê-sai: “Ý tưởng ta chẳng phải ý tưởng các ngươi, đường lối các ngươi chẳng phải đường lối ta. Vì các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối ta cao hơn đường lối các ngươi, ý tưởng ta cao hơn ý tưởng các ngươi cũng bấy nhiêu” (Ê-sai. 55: 8-9).

 

KHÁI NIỆM VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI

 

Từ đầu đến cuối, Kinh Thánh tập trung vào Đức Chúa Trời. Quan điểm này của Đa-vít được ghi trong 1 Sử-ký 29:11, “Hỡi Đức Giê-hô-va sự cao cả, quyền năng, vinh quang, toàn thắng, và oai nghi đáng qui về Ngài; vì muôn vật trên các từng trời và dưới đất đều thuộc về Ngài. Đức Giê-hô-va ôi! nước thuộc về Ngài; Ngài được tôn cao làm Chúa tể của muôn vật.” Ngài là Đức Chúa Trời quyền năng, Đấng cai trị vũ trụ, hướng mọi vật đến mục đích cuối cùng của chúng vì sự vinh hiển của Ngài.

Ngoài ra, Đức Chúa Trời là Đấng hoàn toàn thánh khiết, và sự thánh khiết của Ngài đã tôn cao Ngài lên xa khỏi con người tội lỗi. Sau khi hình dung về Đức Chúa Trời trong sự thánh khiết đáng kinh ngạc, Ê-sai đáp: “Khốn nạn cho tôi! Xong đời tôi rồi!” (Ê-sai 6:5). Cùng với tội lỗi, chúng ta không thể tồn tại trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, cùng với sự thánh khiết của Ngài, Ngài có lòng nhân từ, tình yêu thương và lòng thương xót vô hạn. “Đức Giê-hô-va làm lành cho muôn người,” Đa-vít tuyên bố, “sự từ bi Ngài giáng trên các vật Ngài làm nên” (Thi. 145:9). Trong sự thánh khiết, yêu thương và công bình, Đức Chúa Trời đã vạch ra một kế hoạch cứu rỗi cho những con người tội lỗi chúng ta.

Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh, đặc biệt là trong sự thánh khiết của Ngài, trái ngược với con người tội lỗi là lẽ tự nhiên; do đó Ngài không phải là một phát minh của con người, như nhiều người đã khẳng định. Nhà biện giáo Cơ đốc Cohn Chapman đã nói, “Điều khó chịu về Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh là Ngài thường xuyên cắt ngang những ước muốn và khao khát cá nhân của chúng ta. Ngài không cho phép chúng ta ích kỷ và luôn đối đầu với chúng ta bằng một tiêu chuẩn cao không thể thỏa hiệp. Đây không phải là kiểu Đức Chúa Trời mà con người làm ra khi con người đặt mục tiêu làm ra một vị thần theo ảnh tượng của chính mình.”3

Bản chất của Đức Chúa Trời là mầu nhiệm mà không một con người nào có thể hiểu hết được. Trong suốt lịch sử, con người đã tin vào nhiều vị thần (đa thần) hoặc một vị thần Nhất thể duy nhất. Chỉ riêng Kinh Thánh trình bày về Đức Chúa Trời duy nhất, đồng thời cũng là một Đức Chúa Trời Ba ngôi — Cha, Con và Thánh Linh. Khái niệm Ba Ngôi này về Đức Chúa Trời không mâu thuẫn với lý trí của con người, như một số người suy nghĩ. Ba Ngôi không có nghĩa là có ba Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là một Đấng Thánh tồn tại đời đời trong ba thân vị. Mặc dù không phải là một sự trái ngược phi lý, nhưng khái niệm về Đức Chúa Trời Ba Ngôi Hiệp Một không hoàn toàn dễ hiểu đối với tâm trí con người, cũng như không được tìm thấy trong bất kỳ tôn giáo nào khác. Tất cả những điều này lập luận rằng Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh  không phải là một sự trình bày, diễn đạt từ con người mà là một sự mặc khải thiên thượng.

Hơn nữa, về bản chất ba ngôi, Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh trả lời cho sự tìm kiếm của con người về sự hiểu biết Đức Chúa Trời và mối quan hệ với Ngài sâu sắc hơn bất kỳ tôn giáo nào khác. Niềm tin vào một vị thần tối cao được tìm thấy trong nhiều tôn giáo, thậm chí một số tôn giáo có nhiều vị thần thấp hơn. Nhưng các vị thần trong các hệ thống tín ngưỡng đó siêu phàm và xa vời đến mức không thể biết được. Giống như một trong những vị thần của người A-thên vào thời của sứ đồ Phao-lô là một “thần không biết” (Công vụ 17:23). Người Hindu, khi mô tả bản chất của một vị thần, đã sử dụng những cách diễn đạt như “Bóng tối thánh” hoặc “Đấng mà không ai có thể nói lên được.”4 Đối với người theo đạo Phật, bất cứ thực tại nào cũng không thể được định nghĩa hoặc mô tả. Họ nói rằng chúng tôi chỉ có thể giữ một “sự im lặng kính phục” khi đối mặt với những điều không thể biết được.5 Tương tự như vậy, các tôn giáo Phi châu cổ xưa chỉ nói về một “chủ thể không biết”6. Sự nhấn mạnh của Hồi giáo về quyền năng siêu đẳng nơi thần của họ là thánh Allah. Họ cũng xem Allah như là một vị thần trong tự nhiên thần giáo, về cơ bản nằm ngoài tầm hiểu biết với ít sự liên kết với con người và không có đặc tính tình yêu thương!7

Sự hiểu biết của Do Thái giáo về Đức Chúa Trời, dựa trên Cựu Ước, có nhiều điểm tương đồng với Đức Chúa Trời của Cơ đốc giáo. Nhưng sự bác bỏ của Do Thái giáo về bản chất Ba Ngôi của Đức Chúa Trời cũng dẫn đến một Đức Chúa Trời khác xa, khi so sánh với Đức Chúa Trời của Cơ đốc giáo, là Cha, Con và Thánh Linh. Môi-se chỉ được phép nhìn lướt qua phía sau sự vinh quang của Đức Chúa Trời, nhưng trong Chúa Giê-su, Đức Chúa Trời đã đích thân bước vào dòng lịch sử nhân loại. Phi-líp đã nói, “Lạy Chúa, xin chỉ Cha cho chúng tôi, thì đủ rồi” (Giăng 14: 8, xem thêm 1:14, 18). Chỉ khi Đức Thánh Linh là Đức Chúa Trời chứ không phải là một tạo vật, thì nhờ Ngài chúng ta mới có thể có mối tương giao mật thiết với chính Đức Chúa Trời. “Niềm tin tôn giáo không thể hài lòng với bất kỳ điều gì kém hơn Đức Chúa Trời. Trong Đấng Christ, chính Đức Chúa Trời đến với chúng ta, và qua Đức Thánh Linh, Ngài truyền đạt chính Ngài cho chúng ta.”8

Đức Chúa Trời duy nhất trong Kinh Thánh đáp ứng nhu cầu của chúng ta không chỉ về sự mặc khải mà còn cả về sự cứu chuộc. Nhà cải chánh vĩ đại Martin Luther đã nói rất đúng, “Không có cách nào khác hơn là thông qua một thân vị đời đời, chúng ta có thể được cứu khỏi sự sa ngã khủng khiếp của tội lỗi và sự chết đời đời; chỉ một thân vị như vậy mới có thể có quyền trên tội lỗi và sự chết, để bôi xóa tội lỗi của chúng ta và thay vào đó ban cho chúng ta sự công bình và sự sống đời đời; không một thiên sứ hay tạo vật nào có thể làm điều này, nhưng phải do chính Đức Chúa Trời làm.” Chỉ có Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh mới ban sự cứu chuộc và đó chính là Đức Chúa Trời mà chúng ta phải thờ phượng.

Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh, là Cha, Con và Thánh Linh, cũng là lời giải thích duy nhất về một Đức Chúa Trời yêu thương đời đời. Một Đức Chúa Trời duy nhất không thể bày tỏ tình yêu thương trong mối quan hệ cá nhân nếu không tạo ra một đối tượng cho tình yêu thương của Ngài. Chỉ khi có những mối quan hệ cá nhân với chính Đức Chúa Trời thì Ngài mới có thể là Đức Chúa Trời – Ngài là “tình yêu thương” với bản chất từ ​​muôn thuở. Chỉ khi Đức Chúa Trời có sự liên kết trong bản thể của Ngài thì Ngài mới có thể cung cấp một mô hình cho sự hiệp nhất trong mối liên hệ giữa chúng ta với nhau (xem Giăng 17:21-22).

Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh cũng đáp ứng nhu cầu về một Đấng siêu việt — tể trị trên tạo vật và lịch sử như là một Đấng có toàn quyền — và về một Đấng đang hiện diện với chúng ta. Con người luôn có xu hướng đánh mất Đức Chúa Trời bởi một trong hai tà thuyết. Thứ nhất,, Ngài có thể bị lạc trong một sự  trừu tượng đến nỗi Ngài hầu như không thể được biết đến, điều này đúng trong nhiều tôn giáo của con người. Thứ hai, Ngài có thể được coi là nội tại bên trong sự sáng tạo đến mức về cơ bản Ngài bị lu mờ bởi chính các tiến trình của tự nhiên và lịch sử, như trong thuyết phiếm thần và thần học tiến trình (process theology). Chỉ có Đức Chúa Trời Ba Ngôi bước vào lịch sử để bày tỏ chính Ngài, đồng thời vẫn ở bên ngoài lịch sử với tư cách là một Đức Chúa Trời siêu việt.9

Bởi vì Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh nằm ngoài lý trí của con người, do đó Ngài không thể là sản phẩm từ sự sáng chế của con người. Như một người đã cảnh báo cách đây nhiều năm, “khi một người phủ nhận giáo lý cơ bản của Cơ đốc giáo (Đức Chúa Trời Ba Ngôi), người đó có thể đánh mất linh hồn của mình, nhưng khi cố gắng để hiểu thấu đáo giáo lý này, người đó có thể sẽ mất trí khôn.”10 Là những người tin Chúa, chúng ta vui mừng được thờ phượng Đức Chúa Trời là Đấng tối cao, vĩ đại và bản chất của Ngài chúng ta không thể hiểu hết được bằng trí óc hữu hạn của mình. Vì chính trong bản chất ba ngôi của Ngài, Ngài làm thỏa mãn ước muốn sâu xa nhất trong lòng chúng ta vì một mối quan hệ với Ngài là Đức Chúa Trời ở trên chúng ta, vì chúng ta và ở trong chúng ta.

 

 

KHÁI NIỆM VỀ ĐẤNG CHRIST

Trong tất cả các tác phẩm thánh của các tôn giáo khác, không có người nào giống như Chúa Giê-su Christ. Được sinh ra bởi một nữ đồng trinh trong một nơi thấp hèn, Ngài là Con của Đức Chúa Trời. Ngài là Đấng tạo dựng muôn vật, nhưng Ngài đã chết trên cây thập tự bởi tay của con người. J.N.D Anderson tóm tắt vị trí độc nhất của Đấng Christ trong vòng tất cả các tôn giáo. “Các tôn giáo khác, thực sự, có thể bao gồm cả việc tin rằng Đức Chúa Trời, hoặc một trong các vị thần, hiện thân một lần hoặc nhiều lần, trong hình dạng con người, hoặc trong một số ‘vật chất nào đó – ánh sáng thánh’ đã truyền từ một cá nhân này sang một người kế thừa thuộc thế hệ khác. Nhưng chỉ riêng Cơ đốc giáo dám tuyên bố rằng ‘Đấng duy nhất, toàn tại, toàn tri, là căn nguyên của mọi sự tồn tại’ đã can thiệp cách độc nhất vào sự sáng tạo của mình, không phải bằng cách giả định hình dạng đơn thuần hay vẻ ngoài của một con người, mà bằng cách thực sự trở thành Con Người trong hình dạng bằng xương bằng thịt; không phải bằng cách sống và giảng dạy đơn thuần, nhưng bằng cách thực sự chết như một người phạm tội trọng ‘cho loài người chúng ta và cho sự cứu rỗi của chúng ta’ và đã đóng ấn cho lẽ thật này bằng cách sống lại từ cõi chết.”

Đấng Christ là duy nhất về nguồn gốc và về bản chất Con Người và sự sống của Ngài. Ngài đã bước đi trên đất trong những hình thái bình thường của một con người. Tuy nhiên, Ngài không phạm tội (Giăng 8:46). Ngài không bao giờ phải xin lỗi khi cầu xin sự tha thứ cho bất cứ điều gì Ngài đã làm. Những người đương thời đã kinh ngạc trước sự dạy dỗ của Ngài. “Chẳng hề có người nào đã nói như người nầy!” (Giăng 7:46). “Vì Ngài dạy như là có quyền, chớ không giống các thầy thông giáo” (Ma-thi-ơ 7:29). Ngài không bao giờ xin lời khuyên hay sự cho phép của con ngưởi. Những phép lạ Ngài làm cũng chỉ ra sự độc nhất vô nhị. “Người nầy là ai, mà gió và biển đều vâng lịnh người?” (Ma-thi-ơ 8:27). “Người ta chẳng bao giờ nghe nói có ai mở mắt kẻ mù từ thuở sanh ra” (Giăng 9:32).

Các nhà lãnh đạo tôn giáo khác tuyên bố dạy về cách sống mà họ tìm thấy. Nhưng Đấng Christ tuyên bố Ngài là con đường, là sự sống (Giăng 14:6). Người Hồi giáo giải thích rằng Mô-ha-mét là một tiên tri truyền đạt sự mặc khải của Allah; ông không phải là nền tảng cho đức tin của họ. Đức Phật cũng đã không kêu gọi mọi người đến với ông. Khi ông chết, những môn đệ đã hỏi làm thế nào để họ có thể nhớ đến ông. Câu trả lời của ông là “có nhớ đến tôi hay không thì không quan trọng. Điều cốt yếu là nằm ở lời dạy của tôi.” Nhưng không lâu trước khi Chúa Giê-su qua đời, khi thiết lập Tiệc thánh, Ngài đã truyền lệnh cho các môn đồ, “Hãy làm điều này để nhớ đến Ta” (Lu-ca 22:19).

Griffith Thomas đã chỉ ra rằng “Cơ đốc giáo là tôn giáo duy nhất trên thế giới nương dựa vào chính Đấng đã sáng lập ra nó.” Ông nói thêm, “Không có lời nào trong sự dạy dỗ của Ngài mà Ngài không khiến cho con người phụ thuộc vào chính Ngài theo một cách nào đó.” Điều này là tất nhiên, bởi vì không có người sáng lập tôn giáo nào trong lịch sử khẳng định rằng họ là Chân Thần duy nhất. Một số người đã nói về Chúa Giê-su, “Nếu không phải là quyền lực siêu phàm nói với chúng ta tại đây, thì đó chắc chắn là sự kiêu ngạo siêu phàm.”

Tuy nhiên, trong tất cả sự hoàn hảo về đạo đức, sự dạy dỗ có thẩm quyền và việc thi hành phép lạ của Chúa Giê-su, Ngài chưa bao giờ tỏ ra kiêu hãnh hay tỏ thái độ xa cách với mọi người. John Stott nói rằng có một sự nghịch lý ở Đấng Christ mà không thể giải thích theo cách tự nhiên được. “Không hề có một chút gì về sự tự cho mình là quan trọng. Ngài rất khiêm nhường. Chính nghịch lý này đã khiến mọi người bối rối. Ngài kết hợp trong chính Ngài lòng tự trọng cao nhất và sự hy sinh lớn nhất. Ngài biết chính Ngài là Chúa của tất cả mọi người, nhưng Ngài tự nguyện trở thành tôi tớ cho tất cả mọi người. Ngài nói rằng Ngài sẽ phán xét thế gian, nhưng Ngài đã rửa chân cho các môn đồ của mình.”

Có phải các trước giả Phúc âm đã dựng nên một bức chân dung của một người như vậy, hay họ đang tường thuật lại những gì họ đã thấy, sự mặc khải độc nhất của Đức Chúa Trời? Bức chân dung rất hạn chế về Ngài được các trước giả Kinh Thánh làm chứng cho những người sau này. Việc đọc truyện thần thoại của các dân tộc khác nhau cho thấy xu hướng của con người muốn tô điểm sự thật bằng trí tưởng tượng bay bổng. Ngay cả những tác phẩm bên ngoài Kinh Thánh nói về Chúa Giê-su, kể về thời niên thiếu của Ngài, miêu tả Ngài như một thần đồng thời thơ ấu hướng dẫn các thầy của Ngài những bí ẩn trong bảng chữ cái và làm kinh ngạc gia đình và bạn cùng lứa bằng những việc làm siêu phàm. Theo những sách thứ kinh này, vào một dịp nọ khi mới 5 tuổi, Chúa Giê-su được cho là đã tạo hình mười hai con chim sẻ bằng đất sét vào ngày Sa-bát. Khi Giô-sép hỏi về việc làm như vậy trong ngày thánh, Chúa Giê-su đã vỗ tay và chim sẻ bay đi hót líu lo.

Ngược lại, Kinh Thánh miêu tả những phép lạ của Đấng Christ với sự rõ ràng, đơn giản. Mục đích của chúng không phải để mua vui cho khán giả hoặc giải trí cho những người hiếu kỳ, nhưng để chứng tỏ sự vinh hiển của Cha phù hợp với mục tiêu của cuộc đời Ngài. Leon Morris chỉ ra một thực tế đáng kinh ngạc là không ai trong số những người viết các sách Phúc âm tường thuật về Chúa Giê-su mà đã từng tôn vinh Ngài. Họ thỉnh thoảng tường thuật Ngài được nhiều người ca ngợi, nhưng bản thân họ không khen ngợi Ngài một lời nào. Điều này thật khó giải thích nếu những lời kể của họ là những câu chuyện phóng đại nhằm làm cho Chúa Giê-su trở thành một điều gì đó khác hơn một con người. Một số người cho rằng các trước giả Kinh Thánh đã tôn thờ Đấng Christ giống như Đức Phật được các đệ tử của ông tôn thờ! Nhưng phải đến nhiều thế kỷ sau khi Đức Phật mất, ông mới được coi là một vị thánh và chỉ trong một phạm vi giới hạn. Nhưng bức chân dung về Chúa Giê-su trong Thánh Kinh là Con của Đức Chúa Trời được viết trong khi những người biết Ngài vẫn còn sống trong suốt thời gian Ngài còn trên đất.

Tất cả các bằng chứng đều chỉ ra một thực tế là các trước giả Phúc Âm đã cho chúng ta một lời tường thuật khách quan về con người độc nhất này ở giữa vòng họ đang sống. Họ làm như vậy vì họ muốn người khác tin vào sự trung thực của các sách phúc âm. Hơn nữa, Con Người (Christ) mà họ mô tả là quá siêu việt đến mức khiến người ta không nghĩ rằng Ngài có thể được sáng tạo ra từ các tác giả bình thường, đặc biệt là những ngư dân vùng Ga-li-lê. Ngay cả Jean-Jacques Rousseau (1712-1778), nhà triết học đã mở đường cho chủ nghĩa tự do nhân văn, cũng thừa nhận nguồn gốc siêu nhiên của phúc âm. Ông nói “Phúc âm bày tỏ một lẽ thật quá vĩ đại, nổi bật, và hoàn hảo không thể bắt chước và người phát minh ra nó còn đáng thán phục hơn một anh hùng.” Nếu các trước giả Phúc âm nghĩ ra câu chuyện hư cấu, thì chúng ta phải thừa nhận lời của Robert Dabney nói rằng “những kẻ nói dối này đã tạo ra một hình mẫu về lẽ thật cao quý nhất và đẹp nhất từng thấy ở loài người. Hơn nữa, họ đã sử dụng tất cả nghệ thuật kỳ diệu để tạo nên một bức chân dung tưởng tượng mà kết quả là lên án sự giả dối của chính họ.”

Có lẽ hầu hết tất cả hình ảnh Đấng Christ được các trước giả Kinh Thánh miêu tả đều khó chịu đối với con người mang bản chất tội lỗi, đến nỗi không thể tin rằng người ta có thể hoặc sẽ bịa ra một ý tưởng về một Đấng như vậy. H.G. Wells, mặc dù không phải là một Cơ đốc nhân chính thống, nói rằng Chúa Giê-su “giống như một thợ săn đạo đức đang đào bới nhân loại ra khỏi những cái hang ẩn náu mà họ đã sống cho đến nay …. Có lạ gì khi con người bị lóa mắt và mù lòa đã phản đối chống lại Ngài? … Chúng ta sẽ ngạc nhiên biết bao khi có thể hiểu biết hết về người đàn ông Ga-li-lê này!”

BẢN GHI CHÉP TRONG KINH THÁNH VỀ CON NGƯỜI

Ai sẽ vẽ một bức tranh về những người như chúng ta tìm thấy trong Kinh thánh? Xu hướng của con người là đề cao bản thân hơn những gì họ thực sự là, hoặc hạ thấp bản thân mình xuống dưới bản chất thực sự của họ. Học giả người Hà Lan Desiderius Erasmus (1466-1536) hỏi, “Con người đối với con người hoặc là thần linh hoặc là sói dữ?”

Một mặt, các triết học và thần học của con người thường đưa con người lên cấp độ thần thánh. Nhà triết học Hy Lạp Heraclitus (khoảng năm 540-480 trước Công nguyên) tuyên bố, “Các vị thần là những người bất tử, và loài người là những vị thần phàm trần.” Rất lâu sau đó, nhà triết học người Đức Georg Hegel (1770-1831) đã nói về “thần tính tiềm ẩn” của tất cả mọi người, và các nhà thần học nói về tia lửa thần thánh trong những người cần được thổi bùng lên thành ngọn lửa.

Mặt khác, với ảnh hưởng gần đây của quá trình tiến hóa tự nhiên, các nhà triết học coi con người là quý tộc của động vật. Theo một số nhà tiến hóa, chúng ta chỉ là những sinh vật phức tạp mà hành động của chúng được kiểm soát bởi môi trường của chúng ta, giống như những con chó của Pavlov được huấn luyện để phản ứng với một số tác nhân nhất định.

Sự vĩ đại của con người – sự tự do, sự sáng tạo, khả năng bay lên trên thế giới bằng tâm linh của chúng ta – và sự ràng buộc của chúng ta đối với môi trường tự nhiên như các sinh vật trên trái đất khiến chúng ta cảm thấy bối rối về bản chất của chính mình. Những câu hỏi lớn mà tất cả con người đặt ra – Tôi là ai? Tôi đến từ đâu? Mục đích tồn tại của tôi là gì? —Không bao giờ có thể trả lời được từ nghiên cứu về tự nhiên. Chỉ có sự mặc khải từ Đấng Tạo Hóa mới có thể trả lời câu hỏi của chúng ta. Và không nơi nào ngoại trừ trong Kinh Thánh, chúng ta tìm thấy một bức tranh về bản chất con người giải thích cho thực tế tồn tại của con người.”

Chúng ta là những tạo vật trên đất (Sáng thế Ký 2:7), nhưng chúng ta cũng được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời (1:27). Chúng ta thuộc về thế giới này, và do đó chúng ta phải lao động để duy trì môi trường tự nhiên như ngôi nhà của mình. Nhưng chúng ta cũng được tạo dựng để tương giao với Đức Chúa Trời, và do đó nếu không có mối tương giao này chúng ta không bao giờ có thể hài lòng với bản chất con người của mình.

Nhưng nan đề về con người hiện tại không chỉ bắt nguồn từ bản chất của chúng ta là những tạo vật được tạo ra. Nó đến từ tội lỗi. Nếu chúng ta là ảnh tượng của Đức Chúa Trời, tại sao chúng ta không hành động giống như Đức Chúa Trời? Một lần nữa Kinh Thánh cung cấp câu trả lời theo cách mà chúng ta không mong đợi từ những trước giả. Theo Kinh Thánh, phẩm chất của chúng ta bị hoen ố vì tội lỗi là cái mà chúng ta phải chịu trách nhiệm. Để chắc chắn, chúng ta phải nhận ra sự thất bại của mình trong những việc chúng ta làm. Chúng ta phải nhận ra sự “vô nhân đạo” của mình đối với người khác. Nhưng nếu không có sự mặc khải thiên thượng, mọi người sẽ cố gắng giải thích lỗ hổng này bằng sự thiếu hiểu biết hoặc qua một số dấu hiệu tiến hóa từ một động vật hung dữ. Tất cả những lời giải thích này giúp con người hoàn toàn thoát khỏi trách nhiệm tội lỗi; họ không thừa nhận sự nổi loạn cố ý chống nghịch lại Đức Chúa Trời. Khi tội lỗi được xem như là sản phẩm đáng thương của môi trường tiến hóa, thì loài người trở nên thấp kém hơn con người vốn được tạo nên.

Tuy nhiên, Kinh Thánh tuyên bố rằng chúng ta là những tội nhân phải chịu trách nhiệm. Kinh Thánh xác nhận sự tự do của con người, quyền để hành động và những hành vi ngang ngược của con người. Con người là cao quý, nhưng họ sa vào tội lỗi. Theo lời của nhà thần học Reinhold Niebuhr, “Quan điểm của Cơ đốc giáo về bản chất con người có liên quan đến một  tuyên bố địa vị cao hơn của con người so với các tạo vật khác đồng thời xem cái xấu của con người nghiêm trọng hơn so với các loài khác.” Hơn nữa, Kinh Thánh trình bày tình trạng con người một cách hoàn hảo. Mặc dù con người không làm trò đồi bại, nhưng ngay cả những anh hùng đức tin cũng không thể che giấu được những điểm yếu của họ. Những con người vĩ đại của đức tin được cho là những tội nhân cần sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.

Có lẽ sự mô tả trong Kinh Thánh về sự xáo trộn nội tâm trong ý thức của chúng ta cung cấp một bằng chứng sâu sắc nhất về kiến ​​thức siêu nhiên của bản chất con người chúng ta. Robert Dabney viết về bức tranh trong Kinh Thánh về “sự mặc khải sâu sắc và sầu muộn của ý thức bên trong chúng ta”, bao gồm sự trống rỗng của những mưu cầu trần thế mà chúng ta bị thúc đẩy bởi lương tâm hư hỏng, những vi phạm tội lỗi của lương tâm và dục vọng, nhưng lại bất lực trong việc thực hiện đổi mới đạo đức. Sau đó, ông thấm thía hỏi: “Bằng sự khôn ngoan nào mà cuốn sách này đã tiết lộ một cái nhìn sâu sắc hơn, trung thực hơn và thấu suốt hơn bất kỳ một triết lý nhân sinh nào, một cái nhìn thấu vào sâu thẳm bên trong lương tâm khốn khổ chúng ta? Khi tâm hồn tội lỗi của con người tìm kiếm một chân lý cho nó trong mọi tiếng rên rỉ hối hận và nỗi thống khổ của mình, há đó chẳng phải là từ tiếng nói của Đấng mà đôi mắt của Ngài đang nhìn thấu đến, dò xét lòng của những đứa con loài người?”

 

KHÁI NIỆM CỦA KINH THÁNH VỀ SỰ CỨU CHUỘC

Tất cả các tôn giáo đều cung cấp một số phương cách để giải thoát cuộc sống đau khổ của con người và mang lại hòa bình và hạnh phúc. Nhưng sự cứu rỗi được bày tỏ trong Kinh Thánh  chỉ nói về một phương cách thiên thượng duy nhất. Các phương cách “cứu rỗi” khác nhau được tìm thấy trong các tôn giáo trên thế giới đều dựa trên một khái niệm: Sự giải thoát đến từ những nỗ lực của con người. Điều này được minh họa trong câu chuyện sau đây về một số người theo đạo Hindu.

Chúng tôi quay lưng lại với dòng sông và đến một bãi đất trống, lần theo con đường mòn bằng đá giữa các cánh đồng, được bao bởi bức tường đất sét thấp và những bụi gai. Trời bắt đầu nắng lên với mỗi bước chân đạp trên con đường đất bụi. Sau một lúc, chúng tôi gặp một người đàn ông trẻ tuổi, nằm thẳng trên mặt đất và dường như đang tập thể dục. Anh ta chồm dậy, vươn tay trái về phía sau hết mức có thể, nhặt một viên đá từ một đống đá nhỏ nằm ở đó, rồi nằm thẳng người trên mặt đất, vươn tay phải về phía trước càng xa càng tốt, và đặt viên đá đó lên một đống đá nhỏ tương tự …. Tiến sĩ Govindam giải thích với tôi rằng người thanh niên này không được phép nói chừng nào anh ta còn say mê với hình thức parikrama (vòng luân hồi) đặc biệt đáng khen này. 108 viên sỏi phải được thu lượm và sau đó di chuyển từng viên sỏi đến một chỗ nào đó, như cách mà người thanh niên đã làm, theo chiều dài của cơ thể mỗi lần. Sau khi tất cả 108 viên sỏi đã được di chuyển với khoảng cách khoảng hai bước chân, thì chu kỳ này lập lại với từng viên sỏi. Vậy thì phải mất bao lâu để thực hiện việc làm này theo cách này? Có lẽ vài tuần, hoặc vài tháng. Chúng tôi đi qua những người mộ đạo khác là người chọn cách chuộc tội này, trong số đó có một góa phụ già. Tiến sĩ Govindam giải thích với chúng tôi rằng có lẽ bà ấy đang làm việc đó để nhận lấy công đức cho chồng mình ở thế giới bên kia …. Nhiều tuần sau đó, chúng tôi thấy bà ấy vẫn ở đó cách nơi mà chúng tôi đã nhìn thấy bà lần đầu tiên vài kilômet. Bà ấy dường như yếu đến nỗi cứ sau hai mươi mét là bà ấy nằm kiệt sức bên cạnh đống đá nhỏ của mình?”

Cho dù là theo con đường chính nghĩa của người Hindu, kỷ luật theo Bát chánh đạo của Phật giáo, hay là cầu nguyện và ăn chay của người Hồi giáo, tất cả các tôn giáo ngoài Kinh Thánh  đều tìm cách tìm kiếm sự cứu rỗi bằng các việc làm. Cách nghĩ phổ biến là để vào được thiên đường phải “làm tốt nhất những gì mình có thể.” Điều này dễ hiểu khi chúng ta nhận ra rằng những người này có ý thức hay vô thức về bản chất sa ngã của mình, đang bị ràng buộc bởi tội lỗi. Tình trạng của họ được mô tả trong lần phạm tội đầu tiên của tổ phụ loài người: “Ngươi sẽ như Đức Chúa Trời” (Sáng 3: 5). Thật khó để một “vị thần” thừa nhận rằng mình không thể làm được gì cho bản thân!

Tuy nhiên, trong một số tôn giáo, mọi người tin vào những vị thần cứu tinh là những người ban sự cứu rỗi cho các tín đồ của họ. Hình thức Phật giáo được chấp nhận rộng rãi nhất ở Nhật Bản dựa trên câu chuyện về Amita, người đã tích lũy một kho công đức khổng lồ trên đường đến với Phật đến mức ông ấy đã thề sẽ ban sự tái sinh cho tất cả những ai tin vào ông ấy và liên tục lặp lại cụm từ “A Di Đà Phật”. Khái niệm vị thần cứu tinh cũng phổ biến ở Ai Cập cổ đại và vùng Lưỡng Hà.

Tuy nhiên, ngay cả khi người ta tin vào những vị thần cứu tinh, thì họ vẫn tin rằng công đức là cần thiết để được các vị thần ban ơn. Hơn nữa, họ không có cách nào để đối phó một cách nghiêm túc với thực tế rõ ràng của tội lỗi. Như Leon Morris đã chỉ ra, “Những nhà tư tưởng sâu sắc nhất trong nhân loại luôn nghĩ rằng sự tha thứ thực sự chỉ có thể có được khi sự quan tâm thích đáng được trả theo luật đạo đức …. Chúng ta hẳn đã không thấy đây là điều mà Đức Chúa Trời đã gieo vào sâu thẳm trong lòng con người sao. Đối mặt với một tội ác ghê tởm, ngay cả những người vô cảm nhất trong vòng chúng ta cũng có thể thốt lên rằng: ‘Điều đó đáng bị trừng phạt!’” Không có cảm giác được thỏa mãn về sự công bình trong các tôn giáo sai lầm.

Sự cứu rỗi được mô tả trong Kinh Thánh khác nhau như thế nào! Mong muốn tự nhiên của con người trong việc tìm kiếm công đức để nhận được sự cứu rỗi là hoàn toàn không thể; vì mọi vinh quang trong sự cứu rỗi đều thuộc về Đức Chúa Trời. Theo lịch sử thì thực tế về tội lỗi và hình phạt dành cho nó được xác nhận đầy đủ. Sự cứu rỗi được thực hiện bởi tình yêu thương vô tận của Đức Chúa Trời theo một cách mà vẫn bảo tồn sự thánh khiết của Ngài. Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời đòi hỏi sự công bình trong việc trừng phạt tội lỗi; và tình yêu thương của Ngài đáp ứng điều  đó qua sự hy sinh của Con Ngài. “Đức Chúa Giê-su Christ, là Đấng Đức Chúa Trời đã lập làm của lễ chuộc tội, bởi đức tin trong huyết Đấng ấy. Ngài đã bày tỏ sự công bình mình như vậy, vì đã bỏ qua các tội phạm trước kia, trong buổi Ngài nhịn nhục; tức là Ngài đã tỏ sự công bình Ngài trong thời hiện tại, tỏ ra mình là công bình và xưng công bình kẻ nào tin đến Đức Chúa Giê-su” (Rô-ma 3: 25-26). Vì vậy, trái ngược với các phương cách khắc phục sự khốn khổ của con người do tội lỗi gây ra bằng cách cố gắng tìm kiếm sự phục hồi từ bản chất sa ngã là điều không thể, hoặc phương cách đặt sự thánh khiết và công bình của Đức Chúa Trời qua một bên đều là vô ích. “Phương cách cứu rỗi được đưa ra để con người tham gia vào trong sự toàn năng, tình yêu và sự khôn ngoan của chính Đức Chúa Trời, vừa để thỏa mãn sự công bình tuyệt đối của Ngài, vừa để khôi phục lại sự hư hoại của con người do tội lỗi; vì vậy sự giải cứu này sẽ đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu của thiên đàng, và là mọi điều cần thiết cho nhân loại.”

 

Sự chết của  Con Đức Chúa Trời, như là phương tiện cứu rỗi, trái ngược với tất cả những tôn giáo khác. Ajith Fernando, một học giả Cơ đốc giáo đã phục vụ nhiều năm ở Sri Lanka, kể về một “nhà văn Phật giáo nổi tiếng”, người đã nói với ông rằng “Đức Phật cao cả hơn Chúa Giê-su bởi vì  Chúa Giê-su  đã bị đánh bại bởi sự chết trong trận chiến vì sự công chính của Ngài.” Từ điển bách khoa Do Thái khẳng định, “Không có Đấng Mê-si-a nào mà người Do Thái biết lại có thể chịu chết như vậy; vì ‘Kẻ nào bị treo ắt bị Đức Chúa Trời rủa sả’ (Phục truyền 21:23), là một ‘sự xúc phạm đến Đức Chúa Trời” (Targum, Rashi). Tương tự như vậy, người Hồi giáo cũng từ chối lẽ thật về Chúa Giê-su bị đóng đinh. Kinh Koran nói, “Chúng tôi đã giết Đấng Mê-si-a là Chúa Giê-su, con trai của Ma-ri, Sứ đồ của Allah.’ Họ đã không giết Ngài, cũng không đóng đinh Ngài, nhưng họ nghĩ rằng họ đã làm như vậy” (Sura 4: 156). Rõ ràng thập tự giá của Đấng Christ, như Phao-lô đã viết là “sự người Giu-đa lấy làm gương xấu, dân ngoại cho là rồ dại” (1 Côr. 1:23). Nhưng đó là “quyền phép của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời” cho sự cứu chuộc (1:24).

Hơn nữa, sự cứu chuộc của Đức Chúa Trời không bắt nguồn từ những câu chuyện thần thoại hay những ý tưởng khai sáng, mà là trong lịch sử.  Những lời của Gresham Machen đã tóm tắt sự độc đáo về lời dạy cứu rỗi trong Kinh Thánh. “Theo Kinh Thánh, sự cứu rỗi không phải là điều được khám phá ra, mà là điều đã xảy ra. Do đó thể hiện tính độc nhất của Kinh Thánh. Tất cả các ý tưởng trong Cơ đốc giáo có thể được tìm thấy trong một số tôn giáo khác, nhưng ý tưởng của các tôn giáo khác thì không có trong Cơ đốc giáo. Vì Cơ đốc giáo không phụ thuộc vào các ý niệm phức tạp, nhưng dựa trên lời tường thuật về một sự kiện. Nếu không có sự kiện đó, thế giới, trong cái nhìn của Đấng Christ, hoàn toàn tối tăm, và nhân loại bị hư mất bởi tội lỗi. Không thể có sự cứu chuộc bằng việc khám phá ra lẽ thật vĩnh cửu, vì lẽ thật vĩnh cửu mang lại sự tuyệt vọng, bởi vì tội lỗi. Nhưng một diện mạo mới được khoác lên cuộc sống bởi điều phước hạnh mà Đức Chúa Trời đã làm khi ban chính Con một của Ngài.

Sự cứu chuộc ấy quá xa lạ đối với con người tự nhiên, nhưng lại rất vĩ đại và thỏa mãn những khát vọng sâu thẳm trong lòng của tất cả mọi người đến nỗi nó không thể được tạo ra bởi loài người. Phao-lô, người đã cố gắng tự cứu mình bằng những việc làm của con người, đã tóm tắt tính chất siêu nhiên về sự cứu chuộc của Đức Chúa Trời: “Vì Đức Chúa Trời đã nhốt mọi người trong sự bạn nghịch, đặng thương xót hết thảy.  Ôi! sâu nhiệm thay là sự giàu có, khôn ngoan và thông biết của Đức Chúa Trời! Sự phán xét của Ngài nào ai thấu được, đường nẻo của Ngài nào ai hiểu được!” (Rô-ma 11: 32-33).

còn nữa

 

trích từ UNDERSTANDING CHRISTIAN THEOLOGY
translated by VMI

 

ĐỂ LẠI BÌNH LUẬN

Nhập bình luận!
Vui lòng nhập tên