
.
Đề tài: CHÚNG TÔI NGỬA TRÔNG CHÚA
Kinh Thánh: 2 Sử ký 20: 1-12
Câu gốc: Hỡi Đức Chúa Trời chúng tôi ôi, chớ thì Ngài sẽ không xét đoán chúng nó sao? Vì nơi chúng tôi chẳng còn sức lực gì đối địch cùng đám quân đông đảo này đang đến hãm đánh chúng tôi, và chúng tôi cũng không biết điều gì mình phải làm; nhưng con mắt chúng tôi ngửa trông Chúa! (2 Sử ký 20:12)
Our God, will you not judge them? For we have no power to face this vast army that is attacking us. We do not know what to do, but our eyes are on you.
2 Sử ký 17:3-6 giới thiệu về Giô-sa-phát:
Đức Giê-hô-va ở cùng Giô-sa-phát, vì người đi theo đường lối đầu tiên của Đa-vít, tổ phụ mình, không tìm cầu thần Ba-anh, 4 nhưng tìm cầu Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, giữ theo các điều răn của Ngài, chớ chẳng làm như Y-sơ-ra-ên. 5 Vì vậy Đức Giê-hô-va khiến nước vững chắc trong tay người; cả Giu-đa dâng lễ vật cho Giô-sa-phát, người được của cải nhiều và sự vinh hiển lớn. 6 Người vững lòng theo các đường lối của Đức Giê-hô-va; lại phá dỡ các nơi cao và những thần tượng A-sê-ra khỏi Giu-đa.
2 Sử. 19:4, Giô-sa-phát ở tại Giê-ru-sa-lem. Đoạn, người lại đi ra tuần soát dân sự, từ Bê-e-Sê-ba cho đến núi Ép-ra-im, dẫn dắt chúng trở về cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ
- Thời lượng trị vì: Kinh Thánh (đặc biệt là 1 Các Vua 22:42 và 2 Sử Ký 20:31) xác nhận Giô-sa-phát lên ngôi vua nước Giu-đa khi được 35 tuổi, và ông đã cai trị 25 năm tại Giê-ru-sa-lem. Ông là vị vua thứ 6 của vương quốc Giu-đa, và đồng thời là vị vua thứ 4 sau khi đất nước Y-sơ-ra-ên bị phân chia thành hai vương quốc riêng biệt.
- Khoảng thời gian lịch sử tương ứng: Dựa trên các tính niên đại học về triều đại các vua Giu-đa, thời kỳ trị vì của Giô-sa-phát được xác nhận rơi vào khoảng năm 870 TCN đến năm 849 TCN.
- Đồng thời với các triều đại khác: Thời kỳ Giô-sa-phát làm vua Giu-đa cũng là thời các nhà tiên tri Ê-li và Ê-li-sê thi hành chức vụ.
BỐ CỤC
A. Tình thế khủng hoảng bất ngờ (câu 1-2)
- Tin báo quân thù đang ở Ên-ghê-đi, chỉ vài chục cây số cách Giê-ru-sa-lem.
- Không có giải pháp quân sự nào khả thi: lực lượng Giu-đa hoàn toàn không đủ đối đầu.
B. Phản ứng đúng đắn của người đối mặt khủng hoảng (câu 3-4)
- Giô-sa-phát bị sợ hãi – đây là phản ứng tự nhiên, không phải yếu đuối.
- Ông không dừng lại ở sự sợ hãi, mà quyết tâm tìm cầu Đức Giê-hô-va, rao truyền kiêng ăn trên toàn xứ Giu-đa.
- Toàn thể dân sự từ mọi thành đều nhóm lại chung tìm kiếm mặt Chúa.
C. Lời cầu nguyện của vua Giô-sa-phát (câu 5-12) Đây là mô hình cầu nguyện trong khủng hoảng gồm 4 phần rõ ràng:
- Tôn vinh bản tính và quyền năng của Đức Chúa Trời (câu 6): Ngài là Chúa trị trên mọi nước, không ai có thể chống lại Ngài.
- Nhớ lại những lời hứa và việc Chúa đã làm trong quá khứ (câu 7-9): Ngài đã ban xứ này cho dân Ngài, và hứa sẽ nghe khi họ kêu cầu trong gian nan.
- Trình bày sự thật trước mặt Chúa (câu 10-11): Quân thù đang đến báo đáp lại điều ác cho dân sự.
- Đầu phục và đặt trọn tin tưởng vào Chúa (câu 12): “Chúng tôi không biết phải làm gì, nhưng con mắt chúng tôi ngửa trông Chúa”
PHÂN TÍCH
1. Ưu tiên tìm kiếm Chúa trước hết khi gặp hoạn nạn
Khi nhận tin một liên minh quân đông đảo đang kéo đến tấn công đất nước, phản ứng đầu tiên của Giô-sa-phát không phải là triệu tập hội đồng tướng lĩnh để bàn chiến thuật, mà là quyết định tìm kiếm Đức Giê-hô-va, kêu gọi toàn dân kiêng ăn và cùng nhau cầu nguyện. Các nhà giảng đạo Tin Lành nhấn mạnh bài học: thay vì cậy vào sức lực riêng, kế hoạch của con người hay lo lắng vào nan đề, người tin Chúa cần đặt việc tìm kiếm ý muốn và sự giúp đỡ của Chúa lên hàng đầu.
2. Lời cầu nguyện dựa trên thuộc tính và lời hứa của Đức Chúa Trời
Không chỉ cầu xin giải cứu ngay lập tức, lời cầu nguyện của Giô-sa-phát mở đầu bằng việc nhắc lại chính bản tính của Chúa: Ngài là Đấng cai trị mọi quốc gia, đầy quyền năng không ai có thể chống cự lại; đồng thời nhắc lại các giao ước, lời hứa và việc Chúa đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên trong quá khứ. Đây là nguyên tắc được các giáo phụ tôn trọng: cầu nguyện không chỉ dựa trên nhu cầu của mình, mà còn dựa trên những gì Chúa đã phán và hứa trong Kinh Thánh, làm vững chắc đức tin của người cầu nguyện.
3. Thái độ hạ mình, thừa nhận sự yếu đuối và hoàn toàn phụ thuộc vào Chúa
Điểm cốt lõi nhất trong lời cầu nguyện của Giô-sa-phát “Chúng con không đủ sức để đối địch cùng đám quân đông đảo đang đến tấn công chúng con. Chúng con không biết phải làm sao, nhưng mắt chúng con ngưỡng trông Chúa!” Bài học ở đây là: lời cầu nguyện đẹp lòng Chúa không phải giả vờ mình đủ mạnh, đủ khôn ngoan để tự giải quyết mọi việc, mà là thành thật thừa nhận giới hạn của bản thân, hoàn toàn đặt sự tin tưởng và trông đợi vào sự can thiệp của Đức Chúa Trời.
4. Cầu nguyện đi kèm với sự hiệp nhất của hội thánh
Giô-sa-phát không cầu nguyện một mình như vua của cả nước: ông kêu gọi toàn thể dân Giu-đa, từ người lớn đến trẻ con, cùng nhau nhóm lại trước mặt Chúa để cầu xin sự giải cứu. Người Tin Lành nhấn mạnh sức mạnh của sự cầu nguyện hiệp nhất: khi cả hội thánh cùng một lòng tìm kiếm Chúa, đó là điều kiện chuẩn bị để Chúa hành động.
5. Sau khi cầu nguyện, đứng vững trong đức tin và ngợi khen Chúa
Sau khi nhận được lời đáp từ Đức Thánh Linh rằng trận chiến thuộc về Chúa, Giô-sa-phát không phải vội vàng chạy ra cầm vũ khí, mà lại đứng khẳng định với dân chúng: “Hãy tin cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi thì các ngươi sẽ được vững vàng”, thậm chí lập đoàn người ca hát đi trước quân đội để ngợi khen Chúa trước khi chiến thắng diễn ra. Bài học này nhấn mạnh: cầu nguyện không phải là một hành động một lần, mà còn bao gồm việc giữ vững đức tin, ngợi khen Chúa ngay cả khi kết quả chưa thấy được, tin chắc rằng Chúa sẽ thực hiện lời hứa của Ngài.
Kết quả cuối cùng là quân địch tự xung đột và tiêu diệt lẫn nhau, dân Giu-đa không cần đánh một trận nào cũng giành được chiến thắng vẻ vang, minh chứng rằng khi người tin Chúa tìm kiếm Ngài thật lòng, Ngài sẽ luôn can thiệp vào thời điểm đúng nhất.
🙂
Lời cầu nguyện này hoàn toàn không phải là sự thừa nhận về sự thiếu hiểu biết. Trái lại, nó chứa đựng sự khôn ngoan, sự thấu hiểu và lẽ thật sâu sắc, bởi đức tin và lời cầu nguyện của ông đặt nền tảng trên sự thành tín trường tồn mà Đức Chúa Trời đã dành cho dân Ngài xuyên suốt lịch sử, cũng như trên việc Ngài ban vùng đất này cho tổ phụ họ. Ông nhắc nhở dân chúng về quyền năng tối thượng của Đức Chúa Trời (câu 6); về ân điển của Ngài khi ban Đất Hứa cho họ với tư cách là dòng dõi Áp-ra-ham – một giao ước Ngài luôn giữ trọn với họ (câu 7); về những lời hứa của Ngài về sự hiện diện của Ngài (câu 8); về lời hứa giải cứu nếu họ tìm kiếm Ngài tại đền thờ, bởi Ngài là Đấng thành tín và họ là dân thuộc riêng về Ngài (câu 9-11); và ông kết thúc bằng một lời cầu khẩn bày tỏ sự hoàn toàn nương cậy nơi Ngài (câu 12). Đó là một lời cầu nguyện đầy quyền năng – chứa đựng trọn vẹn những lời hứa của Đức Chúa Trời. Đây là lúc chúng ta cần ghi nhớ Kinh Thánh, đứng vững trên Lời và những lời hứa của Ngài; điều đó bảo vệ chúng ta trước những đợt tấn công dữ dội của kẻ thù, gìn giữ lòng và trí chúng ta, cũng như ban cho chúng ta sự bình an.
“Chúng con không biết phải làm gì” – đây là lời cầu nguyện tôi đã dâng lên trong suốt nhiều năm nuôi dạy con cái ở tuổi thiếu niên; và tôi thấy mình cầu nguyện điều này gần như mỗi ngày cho chính mình cũng như cho những người tôi cầu thay. Bởi lẽ, thú thật là có những lúc tôi thực sự không biết phải làm gì, nhưng tôi biết mình cần thực hiện 3 điều:
Cầu nguyện: hướng lòng về Đức Chúa Trời, cầu nguyện, tìm kiếm Ngài qua Lời Ngài, tin cậy vào những lời hứa của Ngài và ngợi khen Ngài vì chính bản tính của Ngài – đó là những điều tôi thực hiện. Trong cuộc đời mỗi chúng ta, có những lúc ta không biết phải làm gì hay thậm chí không biết phải cầu nguyện điều gì; nhưng Đức Chúa Trời đã ban lời hứa đầy khích lệ trong thư Rô-ma:
Cũng một thể ấy, Đức Thánh Linh giúp đỡ sự yếu đuối của chúng ta; vì chúng ta chẳng biết sự gì mình phải cầu nguyện cho xứng đáng, nhưng chính Đức Thánh Linh dùng những sự thở than không thể nói ra được mà cầu thay cho chúng ta. Đấng dò xét lòng người hiểu thấu ý tưởng của Đức Thánh Linh, vì Ngài cầu thay cho các thánh đồ theo ý muốn Đức Chúa Trời (Rô-ma 8:26-27).
Hãy tìm kiếm Đức Chúa Trời trong Lời Ngài! Đức Thánh Linh có thể nhắc nhở chúng ta về những câu Kinh Thánh chứa đựng lẽ thật cần thiết để giúp đỡ và khích lệ chúng ta. Một trong những danh xưng của Đức Chúa Trời là “Đấng Mưu Luận Kỳ Diệu” (Wonderful Counsellor) Ê-sai 9:5, “Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an.” danh xưng này mô tả Chúa Giê-xu là một người bạn tuyệt vời như thế nào đối với chúng ta. Ngài luôn biết rõ điều cần phải làm.
“Ôi! Sự giàu có, khôn ngoan và hiểu biết của Đức Chúa Trời thật sâu nhiệm biết bao! Các phán quyết của Ngài thật không thể dò thấu, và đường lối Ngài thật không thể hiểu được! ‘Vì ai đã biết ý tưởng của Chúa, hay ai đã làm cố vấn cho Ngài?’” (Rô-ma 11:33–34)
Chúng ta thường gặp những người đến hỏi: “Tôi phải làm gì đây? Tôi không biết phải làm sao cả!” Hãy đáp rằng: “Tôi không biết phải làm gì, nhưng tôi biết một Đấng biết rõ điều đó. Chúng ta hãy cầu hỏi Ngài.” Và sau đó, hãy cùng cầu nguyện với họ. Chúng ta hãy xem Lời Chúa phán dạy điều gì. Đấng Mưu Luận Kỳ Diệu luôn sẵn lòng giúp đỡ, nhưng chúng ta cần tìm đến Ngài để xin sự chỉ dẫn, tiếp nhận lời khuyên của Ngài và tin cậy vào sự chỉ dẫn ấy.
CUỘC CHIẾN 6 NGÀY NĂM 1967 CỦA ISRAEL CHỐNG LIÊN QUÂN Ả RẬP?
| Lực lượng | |
|---|---|
| Israel 264.000 quân (gồm 214.000 quân dự bị) 286 máy bay chiến đấu, 1.000 xe tăng, 1.500 xe thiết giáp, 962 đại bác[2] | Ai Cập: 150.000 quân Syria: 75.000 quân Jordan: 55.000 quân Ả Rập Xê Út: 20.000 quân 682 máy bay chiến đấu, 2.337 xe tăng, 1.845 xe thiết giáp, 203 đại bác[2] |
| Thương vong và tổn thất | |
| 776-983 chết, 4.517 bị thương, 15 bị bắt 46 máy bay 400 xe tăng bị phá hủy (thương vong chính thức) | Khoảng 18.500 chết 30.000 bị thương Hàng ngàn mất tích hoặc đào ngũ 5.600 bị bắt 452 máy bay bị phá hủy (gần khoảng 400 chiếc bị phá hủy khi đang đậu trên sân bay) Gần 1.100 xe tăng bị phá hủy hoặc thu giữ (ước tính) |

Các Mục sư Tin Lành có quan điểm đa dạng về vấn đề này, bao gồm các góc nhìn khác nhau, chủ yếu dựa trên niềm tin tôn giáo và cách hiểu về các sự kiện lịch sử:
1. Quan điểm tin rằng Chúa đã can thiệp và giúp quân đội Do Thái
Đây là quan điểm phổ biến của những người Tin Lành có niềm tin tôn giáo vững chắc, đặc biệt là những người quan tâm đến mối liên hệ giữa lịch sử Israel và lời hứa trong Kinh Thánh:
- Họ coi chiến thắng này là sự thực hiện lời hứa của Đức Chúa Trời với dân Do Thái, nhắc đến các câu trong Kinh Thánh nói về việc Chúa sẽ bảo vệ và ban lãnh thổ cho dân Ngài. Đặc biệt, việc quân đội Do Thái giành lại được Đông Jerusalem và Bức tường phía Tây (địa điểm thiêng liêng nhất của Do Thái giáo) sau gần 2000 năm bị người khác kiểm soát được họ xem là dấu hiệu rõ ràng về sự can thiệp của Chúa.
- Họ nhấn mạnh yếu tố tinh thần và đức tin của quân đội Israel: sự hy sinh, đoàn kết của người Do Thái sau thảm họa Holocaust, và tinh thần tìm kiếm sự giúp đỡ của Chúa trước nguy cơ bị xóa sổ đã đóng vai trò quan trọng, giống như những bài học về lời cầu nguyện của Giô-sa-phát mà chúng ta đã tìm hiểu trước đó. Họ tin rằng những yếu tố này đã làm mở đường cho sự thắng lợi, mặc dù yếu tố chiến thuật và quân sự cũng có vai trò nhất định.




























