
Của lễ thiêu:
Của lễ thiêu, hay olah trong tiếng Hê-bơ-rơ, là một loại tế lễ quan trọng trong Cựu Ước, được đặc trưng bởi việc toàn bộ vật hiến tế (thường là súc vật như bò, chiên, dê, hoặc chim) sẽ bị thiêu cháy hoàn toàn trên bàn thờ, dâng lên Đức Chúa Trời như một “hương thơm đẹp lòng” Ngài.
Đặc điểm của của lễ thiêu:
- Thiêu đốt hoàn toàn: Điểm khác biệt chính là tất cả các bộ phận của sinh tế, từ thịt, xương, nội tạng, đầu, và mỡ, đều được đốt cháy trên bàn thờ, ngoại trừ phần da, vốn thuộc về thầy tế lễ dâng lễ. Điều này biểu thị sự dâng hiến trọn vẹn và trọn vẹn cho Đức Chúa Trời.
- Mục đích: Của lễ thiêu có nhiều mục đích:
- Thể hiện sự thờ phượng và tôn kính: Là một hành động tự nguyện để tôn kính Đức Chúa Trời và bày tỏ lòng biết ơn.
- Chuộc tội: Được dùng để chuộc tội lỗi, đặc biệt là tội vô ý hoặc lầm lỗi, giúp xoa dịu cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời.
- Thề ước và cam kết: Dâng lên như một phần của lời thề nguyện hoặc sự cam kết với Đức Chúa Trời.
- Tự hiến: Biểu tượng cho việc dâng chính mình người dâng lễ, cả đời sống và tâm trí, cho Đức Chúa Trời.
- Lễ vật: Có thể là các súc vật không tì vết (bò, chiên, dê), hoặc đối với người nghèo thì có thể là chim gáy hoặc chim bồ câu con. Nếu không có súc vật, có thể dâng của lễ chay đi kèm.
- Nghi thức: Người dâng lễ đặt tay lên đầu con vật hiến tế (biểu tượng cho sự chuyển giao tội lỗi), sau đó con vật bị giết. Máu được rảy trên bàn thờ. Các thầy tế lễ sẽ chuẩn bị và đốt cháy sinh tế trên bàn thờ.
- Ý nghĩa tiên tri: Của lễ thiêu trong Cựu Ước được xem là hình bóng cho sự hy sinh trọn vẹn của Chúa Giê-xu Christ trên thập tự giá, Đấng đã chịu chết thay cho tội lỗi nhân loại và dâng chính mình làm của lễ hoàn hảo cho Đức Chúa Trời.
Nói tóm lại, của lễ thiêu là biểu tượng cho sự dâng hiến trọn vẹn, sự chuộc tội và lòng tôn kính tuyệt đối đối với Đức Chúa Trời trong thời Cựu Ước, đồng thời hướng tới sự hy sinh cuối cùng của Đấng Christ.

Áp-bra-ham đã luôn vâng lệnh Chúa trên bước đường ông đi với Ngài, tuy nhiên không một thử thách nào nặng nề hơn thử thách trong Sáng thế ký 22. Chúa ra lệnh cho ông, ““Hãy bắt con trai ngươi, tức I-sác con một ngươi, đứa con ngươi yêu quý, đi đến xứ Mô-ri-a, rồi tại đó dâng nó làm của lễ thiêu trên một núi kia Ta sẽ chỉ cho” (Sáng thế ký 22:2). Đây là một yêu cầu rất khiến sửng sốt vì I-sác là con ông được Chúa hứa ban. Áp-bra-ham đã đáp lại Chúa thê nào? Bằng sự phục tùng tức thời; ngay trong sáng hôm sau, Áp-bra-ham khởi hành với hai đầy tớ, một con lừa và đứa con yêu quý của ông I-sác, cùng với củi để làm tế lễ thiêu. Sự vâng phục không chút thắc mắc với mạng lệnh gây hoang mang mà Chúa đưa cho ông chính là sự dâng lên cho Chúa vinh quang mà Ngài đáng được nhận và cũng là một ví dụ cho chúng ta về cách thức tôn vinh Chúa thế nào. Khi chúng ta vâng phục như Áp-bra-ham đã làm, tin tưởng vào kế hoạch của Chúa là điều tốt nhất, thì cũng chính là chúng ta đang đặt cao lên những đặc tính của Ngài và tán dương Ngài . Sự vâng phục của Áp-bra-ham khi đối diện mệnh lệnh rụng rời này là sự ngợi khen cho tình yêu thương tể trị, sự đáng tin của Ngài, và sự nhân từ của Ngài, và đây cũng là một ví dụ để chúng ta noi theo. Đức tinh trong Chúa của ông đã đặt Áp-bra-ham vào đền đài của các vị anh hùng đức tin trong Hê-bơ-rơ 11.
Chúa dùng đức tin của Áp-ra-ham làm một ví dụ cho tất cả những ai đến sau ông như cứu cánh duy nhất của sự cứu chuộc. Sáng thế ký 15:6 nói, “Áp-ram tin Đức Giê-hô-va, nên Ngài kể ông là người công chính”. Lẽ thật này là nền tảng cho đức tin của Cơ đốc nhân, như được nhắc lại trong Rô-man 4:3 và Gia-cơ 2:23. Sự công chính được tính cho Áp-bra-ham cũng chính là sự công chính được tính cho chúng ta khi chúng ta nhận lãnh qua đức tin của lễ chuộc mà Chúa dành cho tội lỗi của chúng ta-chính Chúa Giê-xu Christ. “Vì cớ chúng ta, Ðức Chúa Trời đã khiến Ðấng không biết tội lỗi thành người có tội, để nhờ ở trong Ngài, chúng ta trở nên những người công chính trước mặt Ðức Chúa Trời” (2 Cô-rinh-tô 5:21).
Câu chuyện của Cựu ước về Áp-bra-ham là nền tảng để Tân ước giảng dạy về sự chuộc tội, sự dâng chuộc của Chúa Giê-xu trên thập tự giá cho tội lỗi loài người. Chúa Giê-xu nói, nhiều thế kỷ sau này, “Tổ phụ các ngươi là Áp-ra-ham vui mừng mong thấy ngày của Ta; bây giờ ông đã thấy và vui mừng” (Giăng 8:56). Sau đây là những sự tương ứng giữa hai phần Thánh Kinh:
.“Hãy bắt con trai ngươi, tức I-sác con một ngươi” (câu 2); “Vì Ðức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài…” (Giăng 3:16).
.” đi đến xứ Mô-ri-a, rồi tại đó dâng nó làm tế lễ …” (câu 2); nơi này được tin là khu vực thành Giê-ru-sa-lem được xay sau này, nơi Chúa Giê-xu bị đóng đinh trên tường thành (Hê-bơ-rơ 13:12).
.” dâng nó làm của lễ thiêu” (câu 2); “Ðấng Christ đã chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh” (1 Cô-rinh-tô 15:3)
“Áp-ra-ham lấy củi dùng cho của lễ thiêu chất trên vai I-sác” (câu 6); Chúa Giê-xu, “vác thập tự giá mình đi ra…” (Giăng 19:17)
“… nhưng chiên con đâu để làm của lễ thiêu?” (câu 7); Giăng nói, “Kìa, Chiên Con của Ðức Chúa Trời, Ðấng cất đi tội lỗi của thế gian!” (Giăng 1:29).
Y-sác, người con, phục tùng theo cha mình để trở thành vật hiến tế (câu 9); Chúa Giê-xu cầu nguyện, “Lạy Cha của con, nếu có thể được, xin cho chén nầy qua khỏi con; nhưng không theo ý con mà theo ý Cha” (Ma-thi-ơ 26:39).
Sự sống lại – Y-sác theo nghĩa bóng và Chúa Giê-su thật sự: “Bởi đức tin Áp-ra-ham, khi bị thử thách, đã đem dâng I-sác, tức người đã nhận được những lời hứa đem dâng đứa con một của mình. Về đứa con đó Ðức Chúa Trời đã phán với ông, “I-sác sẽ là người sinh ra dòng dõi mang tên ngươi.” Ông đã nghĩ rằng Ðức Chúa Trời có quyền làm cho người chết sống lại; nói theo nghĩa bóng, ông đã nhận lại con mình.” (Hê-bơ-rơ 11:17-19); Và Kinh Thánh nói đến Chúa Giê su, “Ngài đã được chôn, đến ngày thứ ba Ngài đã sống lại theo lời Kinh Thánh” (1 Cô-rinh-tô 15:4).
BỐ CỤC
Đức tin và Sự Vâng Phục Tuyệt Đối qua câu
chuyện Áp-ra-ham dâng Y-sác (Sáng thế ký 22:1-18)
I. Dẫn nhập: Biến cố thử thách đức tin
- Giới thiệu chung:
- Bối cảnh Sáng thế ký chương 22, một trong những thử thách đức tin khắc nghiệt nhất đối với Áp-ra-ham.
- Tầm quan trọng của đoạn Kinh Thánh này trong việc minh họa đức tin và sự vâng lời.
- Câu gốc: (Có thể chọn một trong các câu sau hoặc tương tự)
- “Chính Thiên Chúa sẽ tự liệu ra hy sinh thượng hiến, con ạ.” (Sáng thế ký 22:8)
- “Vì ngươi đã vâng lời Ta, nên Ta thề rằng: Ta sẽ ban phúc cho ngươi thật nhiều, và làm cho dòng dõi ngươi đông đúc như sao trên trời, như cát bãi bờ biển.” (Sáng thế ký 22:17)
II. Thân bài: Diễn biến và Bài học rút ra
- A. Lệnh thử thách từ Đức Chúa Trời (câu 1-2)
- Dẫn chứng: Đức Chúa Trời gọi Áp-ra-ham hai lần, yêu cầu ông đi đến xứ Mô-ri-a.
- Yêu cầu cụ thể: Dâng “Y-sác, con một yêu dấu của ngươi” làm của lễ thiêu trên núi.
- Phân tích:
- Sự đặc biệt của Y-sác: Con trai độc nhất, người thừa kế lời hứa.
- Mục đích: Thử thách đức tin của Áp-ra-ham.
- Ý nghĩa: Đặt ra tình huống buộc phải lựa chọn giữa điều quý giá nhất thế gian và sự vâng lời Đức Chúa Trời.
- B. Sự vâng lời ngay lập tức của Áp-ra-ham (câu 3-10)
- Hành động: Áp-ra-ham dậy sớm, chuẩn bị mọi thứ cần thiết (lừa, đầy tớ, Y-sác, củi, lửa, dao).
- Sự kiên nhẫn và đức tin trên đường đi:
- “Cả hai cha con cùng bước.” (câu 6)
- Cuộc đối thoại giữa Y-sác và Áp-ra-ham về của lễ (câu 7-8).
- Câu trả lời đầy đức tin của Áp-ra-ham: “Chính Thiên Chúa sẽ tự liệu ra hy sinh thượng hiến.”
- Hành động trên núi:
- Xây bàn thờ, chất củi, trói Y-sác.
- Giơ dao lên để sát tế con mình.
- Phân tích:
- Sự nhanh chóng và dứt khoát trong hành động cho thấy sự phục tùng tuyệt đối.
- Đức tin không chỉ nằm trong suy nghĩ mà còn được thể hiện qua hành động.
- Sự đối lập giữa sự ngây thơ của Y-sác và sự hy sinh của Áp-ra-ham.
- C. Sự can thiệp của Thiên sứ và lời hứa ban phước (câu 11-18)
- Thiên sứ can thiệp: “Thiên sứ Chúa từ trời gọi ông rằng: Áp-ra-ham! Áp-ra-ham!” (câu 11).
- Lời răn cấm: “Đừng giết con trẻ và đừng động đến nó.” (câu 12).
- Lý do: “Vì giờ đây, Ta biết ngươi kính sợ Chúa, đến nỗi không từ chối dâng đứa con duy nhất cho Ta.” (câu 12).
- Sự thay thế: Áp-ra-ham thấy con chiên đực mắc sừng trong bụi cây và dâng tế thay cho Y-sác.
- Lời hứa ban phước lần thứ hai:
- Thiên sứ/Chúa lặp lại lời thề và lời hứa ban phước: Dòng dõi đông đúc, chiếm cửa thành quân địch, mọi dân tộc được chúc phúc qua dòng dõi này.
- Ý nghĩa tên gọi: “Tại nơi đó, Áp-ra-ham đặt tên là Gia-vê-yê-rê (Thiên Chúa sẽ liệu).” (câu 14).
- Phân tích:
- Đức Chúa Trời luôn nhìn thấy và đáp ứng sự vâng lời chân thành.
- Ngài không bao giờ đòi hỏi sự hy sinh mà Ngài lại không có sự chuẩn bị hoặc thay thế xứng đáng.
- Lời hứa tái khẳng định vai trò trung tâm của Áp-ra-ham và dòng dõi ông trong kế hoạch cứu chuộc.
III. Kết luận: Bài học áp dụng cho đời sống tín hữu
- Đức tin không chỉ là niềm tin, mà là hành động:
- Đức tin thật được thể hiện qua sự vâng lời, ngay cả khi điều đó khó khăn hoặc khó hiểu.
- Sự vâng lời tuyệt đối:
- Sẵn sàng dâng mọi điều quý giá nhất cho Chúa, kể cả những gì chúng ta yêu thương nhất.
- Tin cậy rằng Chúa có kế hoạch và sẽ “liệu” mọi sự.
- Niềm hy vọng nơi sự thay thế của Chúa:
- Chúa Giê-su là Của Lễ Thiêu trọn vẹn, Đấng đã thay thế cho nhân loại tội lỗi.
- Chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, không phải bởi lễ vật của chúng ta.
- Lời kêu gọi:
- Hãy xem xét những điều gì trong đời sống chúng ta đang cản trở sự vâng lời trọn vẹn với Chúa.
- Hãy học nơi Áp-ra-ham để đặt lòng tin cậy nơi sự thành tín và quyền năng “liệu” mọi sự của Đức Chúa Trời.
“Đức tin không có việc làm là đức tin chết.” (Gia-cơ 2:17). Hãy để đức tin của chúng ta được thể hiện qua sự vâng lời dâng hiến mỗi ngày.
–
Câu nói của Hudson Taylor: “Hãy lệ thuộc vào điều nầy: Công việc của Đức Chúa Trời được thực hiện theo cách của Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ thiếu sự tiếp trợ của Đức Chúa Trời” được trích dẫn trong ngữ cảnh về sự tin cậy vào Chúa. Là một nhà truyền giáo người Anh, người sáng lập Hội Truyền giáo Trung Hoa Lục địa (China Inland Mission). Ông nổi tiếng với sự tận hiến cho việc truyền đạo Tin Lành tại Trung Quốc, mặc dù đã trải qua nhiều khó khăn, mất mát cá nhân và sự chống đối.
–
NOTE
Cách đây 250 năm, có 2 người bạn từ nước Anh di cư sang Hoa kỳ để sinh sống. Một người là Cơ-đốc nhân, người kia là vô thần. Cả hai đều học giỏi và thông minh. Nhưng sau 250 năm, mỗi người đều là tổ tông của khoảng 1500 con cháu. Trong vòng con cháu của người Cơ-đốc kia có rất nhiều người làm mục sư, bác sĩ, luật sư, chủ ngân hàng, chính trị gia lỗi lạc, và có một người làm tổng thống Hoa kỳ! Phần đông đều có đức tin nơi Chúa. Còn trong vòng con cháu người vô thần kia, thì có rất nhiều người vào tù vì cướp của hoặc làm những điều gian ác hay bất hợp pháp, thuộc vào băng đảng, rất nhiều người dốt nát, nghèo thiếu, và không có ai làm mục sư.
–
Giáo sĩ Robert Morrison lên tàu sang Trung Hoa ngày 12 tháng 5, năm 1807. Sau khi cố gắng truyền giảng 7 năm, ông chỉ mang được 1 linh hồn về cho Chúa. Sau 27 năm hầu việc Chúa ông qua đời mà kết quả cũng không được bao nhiêu. Dù vậy trong nhật ký ông đã ghi lại rằng ông vẫn tin chắc là Đức Chúa Trời sẽ làm việc lớn lao để cứu hàng triệu người khác tại quốc gia nầy.
Thật vậy, một thời gian sau, một số các giáo sĩ khác, trong đó có Hudson Taylor đã nối tiếp công việc truyền giáo tại đây, và đạo Tin Lành đã dần dần lan truyền khắp lục địa nầy dù gặp nhiều nghi ngờ và chống đối. Sau khi Mao Trạch Đông nắm lấy chánh quyền (1949), lúc đó chỉ có khoảng 700 nghìn Cơ đốc nhân ở Trung Quốc. Ai cũng nghĩ rằng Tin Lành sẽ bị tiêu diệt. Nhưng 30 năm sau, vào năm 1980, số tín hữu đã tăng đến 10 triệu, và hiện nay người ta ước lượng đã có trên 130 triệu tín hữu!

Bác sĩ Tống Thượng Tiết (John Sung, 1901-1944) là một minh họa vô cùng sống động và mạnh mẽ cho chủ đề “Dâng cho Chúa điều tốt nhất”. Cuộc đời ông là minh chứng cho việc từ bỏ vinh hoa thế gian, những thành tựu trí tuệ bậc nhất để hiến dâng trọn vẹn năng lực và thời gian cho công việc truyền giáo.
Dưới đây là các khía cạnh trong cuộc đời ông làm nổi bật tinh thần này:
1. Dâng hiến những thành tựu trí tuệ xuất sắc nhất
Tống Thượng Tiết là một thiên tài về khoa học. Ông không dâng cho Chúa những gì “dư thừa” hay khi đã thất bại với đời, mà ông dâng khi đang ở đỉnh cao vinh quang:
- Trong 6 năm du học tại Mỹ, ông đã đạt được bằng Cử nhân, Thạc sĩ và Tiến sĩ hóa học.
- Ông là một trong 4 sinh viên xuất sắc nhất trong lớp 300 người tại Đại học Wesleyan và nhận huân chương vàng về hóa học.
- Ông được các trường đại học danh tiếng như Minnesota mời giảng dạy và có cơ hội nhận học bổng y khoa tại Harvard.
- Thay vì chọn con đường trở thành một nhà khoa học lẫy lừng với tương lai rạng rỡ, ông đã chọn con đường hầu việc Chúa đầy gian khổ.
2. Hành động vứt bỏ các văn bằng xuống biển
Một trong những hình ảnh ấn tượng nhất minh họa cho việc “không giữ lại gì cho riêng mình” là sự kiện trên chuyến tàu trở về Trung Quốc ngày 4/10/1927:
- Để bày tỏ sự quyết tâm dâng mình trọn vẹn, ông đã đem tất cả các văn bằng cao học, huy chương và chiếc chìa khóa vàng danh dự (những điều tốt nhất mà một người học thức có thể sở hữu) liệng xuống biển sâu.
- Ông chỉ giữ lại tấm bằng Tiến sĩ duy nhất để làm vui lòng cha mẹ, còn lại ông xem tất cả như “rác rưởi” để đạt được mục đích cao cả hơn là rao giảng Tin Lành.
3. Dâng hiến sức lực và thời gian trong sự khiêm nhường
Sau khi về nước, ông không sử dụng danh xưng Tiến sĩ để tìm kiếm sự kính trọng hay địa vị cao sang:
- Lối sống đơn sơ: Ông chỉ mặc chiếc áo dài Trung Hoa giản dị, từ bỏ mọi tiện nghi Âu Mỹ.
- Làm việc tận lực: Ông làm việc với tinh thần “thời gian chẳng còn bao lâu”. Trong 15 năm hầu việc Chúa, ông đã đi hàng vạn dặm, giảng hàng ngàn bài giảng, đưa hàng chục ngàn người về với Chúa tại Trung Quốc và Đông Nam Á (trong đó có cuộc phấn hưng lớn tại Việt Nam năm 1938).
- Sự khiêm nhường: Dù thông thái bậc nhất, ông luôn xưng mình là “tôi tớ hèn mọn” và chỉ dùng Thánh Kinh làm nền tảng duy nhất cho mọi bài giảng.
4. Ý nghĩa của sự dâng hiến
Sự dâng hiến của Bác sĩ Tống Thượng Tiết cho thấy “điều tốt nhất” không chỉ là tiền bạc, mà là:
- Trí tuệ và tài năng: Đặt kiến thức uyên bác dưới chân thập tự giá.
- Tương lai và danh vọng: Sẵn sàng từ bỏ những cơ hội làm giàu và nổi tiếng để làm công việc không tên.
- Sự sống: Ông qua đời khi mới 43 tuổi, sau khi đã vắt kiệt sức lực cho cơn phấn hưng tâm linh của hàng triệu người.
Câu chuyện về Tống Thượng Tiết nhắc nhở chúng ta rằng, khi một người nhận biết tình thương của Đức Chúa Trời, họ sẽ không ngần ngại dâng lên điều quý giá nhất mà họ có, giống như cách ông đã chọn làm “Tàu phá băng” cho công việc Chúa tại Á Châu.
Bạn có thể tìm hiểu thêm về các bài giảng của ông hoặc bài thánh ca “Bốn phương hư không” (Thánh ca 385) do chính ông sáng tác để hiểu rõ hơn về tâm chí hy sinh này.





























