Trang Chủ DƯỠNG LINH Công vụ 11:19-26

Công vụ 11:19-26

7
0
SHARE

Lời nhận xét của Tertullian rằng “máu của các vị tử đạo là hạt giống của hội thánh” chắc chắn rất đúng với câu chuyện trong sách Công vụ các Sứ đồ.

Sau vụ ném đá Stephen (chương 7), người kể chuyện thuật lại rằng “một cuộc bách hại dữ dội bắt đầu chống lại hội thánh ở Giê-ru-sa-lem, và tất cả mọi người trừ các sứ đồ đều bị phân tán khắp vùng Giu-đê và Sa-ma-ri” (8:1). Những người bị phân tán “đi từ nơi này đến nơi khác, rao giảng lời Chúa” (8:4), bao gồm cả Phi-líp, người đã rao giảng phúc âm ở Sa-ma-ri và cho một thái giám người Ê-thi-ô-pi (8:5-40).

Sau khi thuật lại sự cải đạo của Sau-lơ từ kẻ bắt bớ chính thành người rao giảng phúc âm (9:1-31) và những khởi đầu của chức vụ của Phi-e-rơ giữa những người ngoại (10:1-48), câu chuyện quay trở lại Giê-ru-sa-lem. Phi-e-rơ báo cáo với hội thánh ở Giê-ru-sa-lem về chức vụ của mình giữa những người ngoại, và những người nghe đều ngợi khen Chúa và kinh ngạc rằng “Chúa đã ban cho cả những người ngoại sự ăn năn dẫn đến sự sống” (11:18).

Gieo và tưới nước cho Lời Chúa

Tại 11:19, câu chuyện quay trở lại “những người bị phân tán vì cuộc bách hại xảy ra liên quan đến Stephen”, và chúng ta biết rằng họ đã đi đến tận Phê-ni-xi, Síp và An-ti-ốt (ở Sy-ri), rao giảng phúc âm giữa những người Do Thái (11:19). Trong số đó có một số người từ Síp và Ky-rê-nê, những người Do Thái nói tiếng Hy Lạp (xem 6:1-6) cũng mang lời Chúa đến cho “những người Hy Lạp” (11:20), có lẽ có nghĩa là những người ngoại hoặc một nhóm hỗn hợp gồm người Do Thái và người ngoại nói tiếng Hy Lạp. Sự làm chứng của họ, được “bàn tay của Chúa” ban phước, đã khiến nhiều người trở thành tín hữu (11:21). Những hạt giống được gieo rắc bởi sự bách hại đã nảy mầm và bén rễ.

Cũng như khi Phi-líp mang phúc âm đến Sa-ma-ri (8:14) và khi Phi-e-rơ mang phúc âm đến những người ngoại ở Sê-sa-rê (11:1-3), hội thánh ở Giê-ru-sa-lem điều tra những diễn biến này (11:22). Họ cử một người tên là Ba-na-ba đến An-ti-ốt, người đã được giới thiệu là người đã bán đất của mình và đặt tiền thu được dưới chân các sứ đồ (4:36-37) và người đã bảo đảm tính xác thực của sự biến đổi của Sau-lơ trước các sứ đồ ở Giê-ru-sa-lem (9:27). Barnabas vui mừng khi thấy ân điển của Đức Chúa Trời đang hoạt động tại Antioch, và đúng như ý nghĩa tên của ông (“con trai của sự khích lệ”), ông khuyên các tín hữu hãy giữ vững đức tin (11:23).

Sau đó, Barnabas đến Tarsus để tìm Saul và đưa ông trở lại Antioch, nơi họ cùng nhau gặp gỡ các tín hữu và dạy dỗ họ trong suốt một năm (11:25-26). Lời Chúa đã được gieo trồng tiếp tục được tưới tắm và vun trồng. Tác giả thêm rằng “chính tại Antioch mà các môn đệ lần đầu tiên được gọi là ‘người Cơ Đốc’” (11:26). Danh hiệu này có lẽ được đặt bởi những người ngoài hội thánh và có ý nghĩa miệt thị. Nó chỉ xuất hiện ở một chỗ khác trong sách Công vụ, trên môi của một người ngoài cuộc, vua Agrippa (26:28). Trong khi các môn đệ của Chúa Giê-su không tự coi mình là tách rời khỏi Do Thái giáo, thì rõ ràng những người khác bắt đầu coi họ là một nhóm riêng biệt gồm những người “theo Đấng Mê-si”.

Lần đầu tiên được gọi là Cơ đốc nhân (câu 26): Chính tại Antioch, những người theo Chúa Giê-su lần đầu tiên được gọi là “Cơ đốc nhân”, một thuật ngữ nhấn mạnh bản sắc độc đáo của họ như một cộng đồng hỗn hợp gồm người Do Thái và người ngoại bang, chứ không phải là một giáo phái của Do Thái giáo.
Đoạn Kinh Thánh này làm nổi bật sự chuyển đổi từ một đức tin tập trung vào người Do Thái sang một hội thánh toàn cầu, bao gồm tất cả mọi người, với Antioch đóng vai trò là trung tâm mới cho công việc truyền giáo.

SHARE
Bài trướcThơ Tết

ĐỂ LẠI BÌNH LUẬN

Nhập bình luận!
Vui lòng nhập tên